Văn học nước ngoài

Những mẩu chuyện về M.A. Solokhop

Valenchin Oxipop Là Nhà Văn, Nhà Xuất Bản Sách Người MátxcƠVa;
Ông Viết Về Solokhop Từ Những Năm 60. Ông Đã Có 3 Quyển Sách, Gần 100 Bài Bút Ký, Bài Báo Và Trích Đoạn Hồi Ký Về Solokhop. Ông Cũng Là Một Trong Những Người Sáng Lập Ra Ủy Ban Solokhop Toàn Nga. Dưới Đây Là Một Vài Mẩu Chuyện Về Solokhop Của Ông.

Chiến tranh

Cũng như biết bao gia đình người dân Xô Viết khác, gia đình bà Maria Petropna (vợ Solokhop) phải chịu đựng biết bao gian khó từ mùa hè năm 1941. Chủ gia đình thành phóng viên mặt trận. Ngôi nhà bị bom Đức phá hủy, mẹ chồng chết, một thư viện lớn và một kho lưu trữ quý hiếm bị cháy rụi hoàn toàn. Người con trai út của nhà văn đã kể lại về cái ngày khủng khiếp ấy của gia đình Solokhop: “Tôi vừa kịp nhìn thấy một chiếc máy bay phía phải hạ độ cao, thì lập tức như một đàn chim đen đang từ từ rơi xuống. Đúng lúc ấy thì mẹ tôi, như con diều hâu, chạy xà đến một tay xốc nách tôi, còn tay kia thì huơ huơ xua mọi người phía trước, miệng thét lớn: “Chạy xuống hầm nhanh!”. Thời chiến tranh gia đình Solokhop đã đi sơ tán 3 lần. Lần xa nhất là đi tận Kazaxtan. Bà Maria Petropna kể lại: “Trong những năm tháng đi sơ tán đó chúng tôi đã chịu đựng biết bao những vất vả lo toan để đảm bảo cho cuộc sống gia đình. Thế nhưng, hồi ấy ở Mátxcơva lại có tin đồn rằng Solokhop đã bỏ mặc gia đình ở lại vùng chiếm đóng của Đức, còn bản thân thì rồi cũng về đây nốt. Để tránh tiếng đồn không hay đó, tôi đã phải trực tiếp xin gặp Xtalin để nói rõ sự thể.

Rồi một tai họa lớn đổ ập xuống gia đình chúng tôi: Ông ấy bị chấn thương nặng trong một tai nạn máy bay khi hạ cánh. Những người cùng đi chết cả. Người lái bị gãy cột sống. Riêng Solokhop sống sót, nhưng tai nạn đã để lại hậu quả nặng nề hàng chục năm sau đó…”.

Mikhail-Aleksandrovich-Sholokhov
Mikhail Aleksandrovich Sholokhov – Ảnh: phanthanhvan.vnweblogs.com

Nhớ lại những năm tháng sau chiến tranh bà bồi hồi xúc động kể tiếp: “Những ngày ấy gia đình chúng tôi cũng như tất cả bà con trong làng đều thiếu thốn và khổ cực lắm. Gia đình chúng tôi dù cho nhà cửa đã bị bom Đức tàn phá thành tro bụi, nhưng vẫn còn đỡ hơn bà con trong làng, nên nhiều người đến nhờ vả, vay mượn, đặc biệt những người phụ nữ góa bụa, con thơ… Bây giờ nhớ lại hoàn cảnh của họ lúc đó tim tôi vẫn cứ như thắt lại. Họ đi làm ngoài đồng từ tinh mơ tới tối mịt mà các cháu nhỏ vẫn không đủ ăn, đủ mặc, chân trần. Thế rồi lại còn hạn hán. Cảnh làng xóm thật tiêu điều. Tính tôi hay mua sắm vật dụng, lương thực, thực phẩm dự trữ. Gặp trường hợp nhà nào thiếu quá, tôi phân phát hết. Gặp khi nhận được tiền nhuận bút của ông ấy thì tôi cho liền. Kẻ ác miệng thấy thế tung tin rằng Solokhop giầu lắm. Ông ấy biết tin đã rất bực mình. Thậm chí có cả một bức thư của một người quen gửi cho ông ấy viết thế này: Tôi mới xây xong ngôi nhà, giờ cần mua một cái ôtô. Nghe nói ông là triệu phú nên viết thư này nhờ ông giúp cho số tiền. Solokhop đã viết thư trả lời người đó thế này: “Ông bảo tôi là nhà triệu phú, khác gì tôi bảo ông là Giáo hoàng thành Rôm”.
 
Hòa bình và những thử thách mới

Đất nước dần hồi phục sau chiến tranh. Gia đình chúng tôi cũng như mọi nhà khác chung vui trong cảnh sống sum vầy hạnh phúc. Các con chúng tôi cũng đã trưởng thành, tự lập. Con gái cả Xvetlana làm biên tập viên cho một nhà xuất bản; Alechxandr là nhà sinh học; Mikhain là giáo viên triết học; cô út Masa cũng theo nghề biên tập viên của chị cả. Còn ông ấy được cả nhân dân và Nhà nước tôn vinh, chăm sóc, thôi thì đủ các chức vụ, danh hiệu: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, đại biểu Xô Viết, hai lần Anh hùng lao động XHCN; các giải thưởng quốc gia, quốc tế; và những chuyến ra nước ngoài…

Bề ngoài là thế, ai chẳng nghĩ rằng gia đình Solokhop sống thật hạnh phúc, êm đềm. Nhưng ít ai biết được bà Maria Petropna đang phải trải qua một thời đầy lo âu mới. Ông Mikhain Alechxandovich của bà bị vu cáo là ông chỉ chép lại cuốn Sông Đông êm đềm của một người khác, chứ không phải ông viết.

Tiếc là về thời kỳ này bà không để lại một mẩu hồi ký nào. Nhưng cũng may thay, bà đã viết một số mẩu chuyện ngắn để lại. Những chuyện bà kể về chồng, nhưng ta lại thấy lấp lánh một tâm hồn đôn hậu, đằm thắm của bà.

Bà viết về những sở thích của chồng: “Ông ấy rất yêu âm nhạc. Tự học và biết chơi piano và mandolin. Thuộc rất nhiều bài hát ưa thích của vùng sông Đông và đặc biệt rất thích bài “Trên thảo nguyên hoang vu của vùng Dabaican”… Các con của chúng tôi cháu nào cũng hát hay. Lúc nào tôi cũng sẵn lòng thích thú nghe các cháu hát. Bao nhiêu lần định ghi lại vào băng, rồi vẫn không thực hiện được”…

Bà kể tiếp: “Đến tận ngày cuối đời ông ấy rất mừng mỗi khi con cháu từ khắp các ngả đất nước kéo về nhà. Về mùa hè nhà chúng tôi cứ như nhà nghỉ mát. Ông là người cha thật chu đáo. Khi các cháu còn nhỏ, ông rất hay đến thăm trường học. Thi thoảng ông lại bảo: “Bà ơi, tôi sang trường học đây”. “Có việc gì thế ông?” – Tôi hỏi. “Không có gì xảy ra cả – Ông nói – tôi sang chơi thôi mà”. Đôi lúc ông vào lớp và trò chuyện với các cháu học sinh. Các cháu nhỏ rất yêu quý ông. Sân nhà chúng tôi lúc nào cũng có các cháu đến chơi ríu rít như một đàn chim.

“Ông ấy muốn tôi luôn có mặt ở nhà. Tôi có đi thăm người quen nào đó một hai giờ, thế nào ở nhà ông cũng hỏi các con: “Mẹ các con đi đâu rồi? Chắc là ngồi chuyện phiếm ở đâu đó”. “Vâng, mẹ con vừa mới đi thôi”. Các cháu trả lời ông ấy thế. Những năm cuối cùng tôi cố gắng ở nhà, không đi đâu lâu. Tôi ngồi bên giường, đọc sách cho ông ấy nghe hoặc chúng tôi cùng nhớ lại những ngày đã qua. Mãi đến tận bây giờ, đôi khi nửa đêm thức giấc, nằm đấy mà thao thức mãi: chả nhẽ ông ấy không còn nữa thật sao?… Ông ấy ốm nặng, nhưng chịu đựng thật kiên cường. Đôi lúc ông ấy gượng lên phòng làm việc, ngồi vào bàn cầm cây bút. Thường thì những trang viết xong lại hủy bỏ. Thấy thế tôi nói: “Ông ơi! Thà ông nằm nghỉ còn hơn”. Ông ấy bảo: “Không, bà ơi, nằm mãi khổ lắm…”.

Nhà văn nữ Troepolxkaia trong một lần gặp gỡ với bà Maria Petropna đã hỏi bà: “Bà có phải là nguyên mẫu của Acxinhia trong tiểu thuyết của ông nhà không?”. “Không phải tôi. Nhưng khi tôi còn trẻ… chị có nhớ không, cái cuộn tóc ở cổ Acxinhia ấy mà, nó cũng xoăn xoăn như búp tóc của tôi”.
 
Vĩnh biệt

Tháng 2-1984, Solokhop lên Mátxcơva chữa bệnh. Đây là chuyến đi cuối cùng ông lên thủ đô. Ông bị căn bệnh hiểm nghèo: ung thư họng.

… Người viết những dòng này (Valenchin Oxipop) lúc đó là Giám đốc Nhà xuất bản Văn học được ông mời đến để bàn về việc xuất bản toàn tập Solokhop. Trước đó, từ năm 1962 khi tôi còn công tác ở NXB Thanh niên cận vệ tôi đã gặp ông lần đầu. Hai nhà xuất bản Văn học và Thanh niên cận vệ vốn là những NXB thân thuộc, quý mến của nhà văn thời trẻ.

Bàn xong công việc xuất bản sách, chúng tôi chuyển sang nói chuyện phiếm. Lúc đó ông ấy nói đã khó khăn lắm rồi, cổ họng như bị cào xé rách nát. Thế mà vẫn còn hút thuốc. Từng tiếng nói một, xen tiếng thở ngắt quãng khò khè, ho khúng khoắng. Bỗng tôi nghe thấy ông nói: “Hai ngày nữa… đến ngày cưới… của chúng ta… Sáu mươi năm… Mới ngày nào… chúng ta cưới nhau…”.

Và ông mỉm cười thật hiền lành. Cả Maria Petropna và các con gái có mặt ở đó cùng dự đoán, trao đổi xem nên gọi lễ cưới đó là gì: đám cưới vàng hay kim cương?

- Đám cưới thép! – Masa, cô út bỗng đề nghị.

- Thép không gỉ – Hầu như ông hưởng ứng một lúc với con gái bằng một giọng rất nhỏ, nhưng vẫn toát ra nét ranh mãnh nổi tiếng của riêng Solokhop.

Gia đình Solokhop đã tổ chức đám cưới kỷ niệm ở ngay buồng bệnh.

Vào những ngày này bà Maria Petropna chẳng có lấy một phút thảnh thơi. Alechxandr con trai lớn của ông bà cũng đang chữa bệnh ở viện này. Bất hạnh làm sao! Anh cũng bị căn bệnh y như cha mình: Để cho cha con khỏi nhìn thấy nhau, người ta đã bố trí để anh nằm khoa khác.

Ít lâu sau, Solokhop xin được đưa về quê – làng Vesenskoe trên sông Đông. Ông muốn được chết ở quê nhà.

Trái tim của người vợ và bà mẹ lúc này như muốn vỡ tung ra: bà về, con trai để cho ai. Tấn bi kịch nhà này có lẽ chỉ có Shakespeare hoặc Solokhop mới đủ sức mô tả…

Bà Maria Petropna kể tiếp về những ngày cuối cùng của Solokhop: “… Trước khi mất 4 ngày, đêm ấy khi tỉnh giấc, ông ấy nói: “Tôi với bà giống nhau đến nỗi cả trong mơ tôi cũng thấy thế. Hai chúng ta sinh ra như là đã được số phận thắng sẵn yên cương cho cùng một con ngựa… xanh…”.

Bà viết tiếp: “Trước khi mất vài giờ, lúc ấy khoảng 11, 12 giờ đêm, cầm tay tôi ông ấy cứ muốn kéo, kéo lại phía mình… Sức ông ấy lúc đó không còn nữa, nhưng vẫn thấy có ý muốn kéo tôi lại. Tôi bỗng đoán ra, ông ấy muốn kéo tôi lại hôn vĩnh biệt…”. Ông ấy ra đi…

Một năm sau thì người con trai Alechxandr cũng mất. Và chính bà sau đó ít lâu cũng qua đời, không còn phải thương xót chồng, con nữa.

Valenchin Oxipop
Nguyễn Chí Được (dịch theo phunuxoviet)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 450

Ý Kiến bạn đọc