Truyện ngắn

Những lát cắt trái tim

Suốt đời, ông vẫn không bao giờ quên cái khoảnh khắc đó. Cái khoảnh khắc mà giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Và ông đã được cứu sống một cách thần kỳ bởi một người con gái. Một đồng đội. Một nữ cứu thương cùng đơn vị. Cả cuộc đời ông hầu như gắn bó với binh nghiệp. Thế nhưng, ký ức về những ngày bom đạn, khói lửa vẫn như một cuốn phim quay chậm, lần lượt chiếu đi chiếu lại một cách hào hùng trong tâm trí ông.

Hôm nay là thứ bảy. Khi chiếc đồng hồ treo tường ở cuối phòng điểm 5 tiếng. Trời đã sáng hẳn. Ông Hòa xếp lại mọi thứ vào cái xách tay màu đen. Cái xách này với ông như một người bạn thân, nó gắn liền với ông hầu như suốt cuộc đời kháng chiến cho đến nay. Ông biết ông đi lần này thể nào bà Vân vợ ông cũng gạn hỏi đủ điều, rồi nghi nghi ngờ ngờ. Nhưng ông chưa thể nói hết sự thật trong lúc này được. Ông biết, đã hơn một năm qua, cái việc đi đi về về đầy bí ẩn của ông đã gây không ít ngờ vực và đau đầu cho bà Vân. Nhưng hãy thư thả. Miễn ông không làm điều gì khuất tất, không làm điều gì mất hạnh phúc gia đình là được. Nhưng nếu nói ra, ông biết bà sẽ không bằng lòng, nên ông cứ đắn đo và tiếp tục “dối trá”. Có khi ông nói với bà sẽ vắng nhà vài hôm, vì phải đi họp Bộ đội Trường Sơn, khi thì đi thăm vài anh em đồng đội, khi thì đi thăm các khu di tích lịch sử… Ôi thôi là đủ thứ lý do. Cũng có khi là như thế. Nhưng thực chất ông đi đâu, làm gì chỉ mình ông biết rõ mà thôi.

Phong-kham-benh---tranh-khac---Ha-Quang-Buu
Phòng khám bệnh – Tranh khắc – Hà Quang Bửu.

Sau vài giờ ngồi trên xe khách, ông Hòa cảm thấy mình được thư giãn thật sự. Chỉ cách đường quốc lộ khoảng vài trăm mét, cái biển to màu xanh hiện ra: “Trung tâm điều trị phong Di Linh” sừng sững trước mắt ông. Cánh cổng lớn không mở. Ông lách mình vào cánh cổng phụ nhỏ bên hông. Trong cảnh yên lặng của buổi sáng cuối tuần. Cái sân mênh mông lạnh lẽo. Những chiếc ghế đá trống không. Ông ngồi phệt xuống một chiếc ghế đá. Nỗi niềm ăn năn, hối hận lại trào dâng trong ông. Phải chi ngày ấy – Ừ, phải chi ngày ấy ông tìm được người này sớm hơn. Người nữ cứu thương cùng đơn vị đã cứu sống ông trên chiến trường ác nghiệt. Đã hơn 40 năm rồi. Giờ người ấy đang ở đây. Đang điều trị bệnh trong trại phong Di Linh này. Thật là nghiệt ngã. Thật là trớ trêu.

Năm 20 tuổi, chàng trai trẻ tên Hòa rời gia đình lên đường nhập ngũ. Phiên chế vào Đại đội 1, tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân, Quân khu 4. Cuối tháng 10-1972, tiểu đoàn anh được lệnh hành quân vào thay đơn vị pháo 214 bảo vệ phà sông Gianh (Quảng Bình). Lúc này cả nước đang dồn sức người, sức của chi viện cho miền Nam. Giặc Mỹ điên cuồng phá hoại nhằm hạn chế đến mức thấp nhất chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Phà sông Gianh là một trọng điểm đánh phá ác liệt của chúng. Vừa vào đến Ba Đồn, chưa kịp phổ biến phương án tác chiến, thì ngay lập tức trận địa pháo của tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân đã phải hứng chịu những trận bom dội như mưa của đế quốc Mỹ. Trận địa pháo gần như tê liệt hoàn toàn. Trong suốt 10 ngày, pháo không thể phát huy được hiệu quả, trong khi đó vũ khí thiết bị bị hư hỏng, lính bị thương, hy sinh nhiều. Trong đó có đại úy Hòa. Đại úy Hòa bị thương và mất máu nhiều. Tiếng vị bác sĩ của Quân y viện cho biết: – Nếu không được chuyền thêm máu, đại úy Hòa sẽ… khó mà qua khỏi. Vậy trong các anh em có ai cùng nhóm máu, có thể hy sinh cho đại úy được không? Nếu không có người nữ cứu thương tên Thanh Nhàn cho máu thì có lẽ giờ này… cát bụi đã trở về cát bụi rồi. Trong thế trận ác liệt đó, đơn vị ông được lệnh hạ nòng pháo xuống, di tản vào trong dân và tìm cách kéo pháo ra khỏi trận địa. Đây có lẽ là lần duy nhất trong lịch sử của pháo cao xạ khi phải hạ nòng súng. Mười ngày ở Ba Đồn đã đi vào lịch sử của lực lượng pháo cao xạ về sự khốc liệt, nhưng cuối cùng những người lính pháo cao xạ cùng các lực lượng phối hợp đã bảo vệ an toàn cho phà Gianh, đảm bảo con đường chi viện vào chiến trường miền Nam luôn thông suốt.

Chiến tranh rồi cũng đi qua. Mãi đến vài năm sau ông mới đăng tin tìm đồng đội. Những bài báo nhắn tìm đồng đội của ông lặng lẽ như một góc khuất. Một góc khuất mênh mông của sự chia lìa. Mỗi người đều chiến đấu cho một mục tiêu duy nhất là Giải phóng miền Nam. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ông được cử đi học, rồi về Quân đoàn 4 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế tại Campuchia. Rồi lại được chuyển qua mặt trận 799 Quân khu 7. Sau đó chuyển công tác về trường Quân sự tỉnh Lâm Đồng. Nơi đây, ông gặp bà Vân và kết hôn.

Thời gian cứ đẩy lùi dần mọi thứ về phía bên kia chân trời hoàng hôn xa thẳm. Rồi một chiều. Một chiều cuối thu trời Đà Lạt se se lạnh. Một người đàn bà, dáng cao cao, nước da ngăm ngăm đến tìm ông.

- Em là Thanh Nhàn đây. Tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân đây anh Hòa ơi! Em đọc tin nhắn tìm đồng đội của anh đã lâu, nhưng cứ đắn đo mãi… Hôm nay… – Nhàn òa lên khóc nức nở. Hai người ôm nhau trong yên lặng thật lâu. Có lẽ cái cảm giác ấm áp không thể giải thích được, xuất hiện mỗi khi người ta gần nhau có phải đó là “yêu” không? Chàng sĩ quan pháo cao xạ ngày ấy đã mang ơn và đã yêu người nữ đồng đội cũng là cứu tinh của mình từ khi nào không biết. Và có lẽ người nữ cứu thương ấy cũng đã phải lòng vị sĩ quan trẻ đã nhận máu mình. Hai dòng máu đã hòa vào nhau trong cái giờ phút sinh tử ngày ấy. Trời xui đất khiến thế nào, hôm ấy bà Vân vào thành phố để thăm cô con gái đầu mới sanh con, có lẽ cũng vài ba tuần mới về. Cuộc hàn huyên của hai người đồng đội kéo dài đến tận khuya. Ông Hòa tiếc nuối vì mình đã có gia đình, nhưng Nhàn thì chưa. Định mệnh đã không cho hai người được đến với nhau. Bà Nhàn ra đi từ ấy.

Nhiều năm sau. Từng năm trôi qua cuộc đời ông như những đám sương mù bay qua vực thẳm, một vực thẳm không có đáy. Trên vầng trán ông giờ đây đang khắc sâu nhiều nét ưu tư của một cựu chiến binh. Thế rồi một bức thư được gửi đến. Một bức thư dài, dài lắm. Bức thư đã làm xáo trộn cuộc sống của ông. Bà Nhàn sau đó cũng lập gia đình với một kỹ sư lâm nghiệp, nhưng không có con. Một bữa kia, bà về Qui Nhơn để dự đám cưới một người cháu. Trên đường về thì xe gặp nạn, lao xuống vực, người chết, người bị thương ngổn ngang, một cảnh tượng kinh hoàng. Bà Nhàn cũng bị thương khắp người, có một người đàn bà cũng bị thương máu me dầm dề rên xiết, bị kẹt bên đống đồ đổ nát. Có lẽ sức lực của một người lính chiến đấu vẫn còn chảy trong máu bà, nên giờ phút hiểm nguy nhất bà vẫn thấy mình khỏe như một người lính cứu thương ngày nào. Bà cố hết sức kéo người đàn bà bị nạn ra, liền vực người ấy lên vai mình và dìu lên lần lần. Hai người bị thương dìu nhau té lên té xuống trông thảm hại vô cùng. Trong khoảnh khắc đó, bà Nhàn bỗng nhớ lại, khi những chiến sĩ bị thương được đưa về khu, bà đã từng dìu ông Hòa vào lán để băng bó vết thương. Cuối cùng, vụ tai nạn cũng được cơ quan chính quyền giúp đỡ, giải quyết xong. Người chết được hỗ trợ và đưa về gia đình mai táng, người bị thương thì được đưa vào bệnh viện điều trị. Khoảng đâu chừng gần 10 năm sau. Một cơn bệnh lạ xuất hiện. Bà Nhàn cảm thấy trong người ngứa ngáy, sốt ho, có những mẫn đỏ trên da và rất khó chịu. Hai tay, hai chân càng ngày càng ngứa ngáy khó chịu và hầu như bị mất cảm giác dần dần. Kết quả của bệnh viện cho biết bà bị nhiễm vi trùng Hansen, một loại vi trùng của bệnh phong. Bệnh phong do một loại trực khuẩn có tên Mycobacterium lepa gây ra, người ta cũng gọi là bệnh Hansen vì vi khuẩn gây bệnh được một bác sĩ người Na Uy tên Gerhart Henrick Armauer Hansen tìm ra vào năm 1873 qua lăng kính hiển vi. Bệnh phong rất khó lây. Chủ yếu lây qua đường hô hấp và các vết thương trầy xước ở da khi tiếp xúc trực tiếp với người có vi khuẩn Hansen mà chưa được điều trị. Mọi thứ đều tối sầm trước mắt bà, lúc ấy bà không thể nhớ nổi tại sao mình lại bị như thế. Không phải chất độc da cam. Cũng không phải nhiễm chất phóng xạ chiến tranh. Vậy thì là gì? Bà mơ mơ hồ hồ nhớ đến vụ tai nạn năm nào. Người đàn bà máu me ấy? Có thể như thế không? Đến khi biết chắc chắn mình bị phong cùi, bà quị xuống như một cành phong lan bị gió cuốn đi. Bà được đưa vào Trung tâm điều trị phong Di Linh. Lúc đầu, chồng bà còn lui tới đôi ba lần thăm nom. Sau biệt tăm biệt tích luôn.

- Thưa chú, chú chờ ai vậy ạ?

Ông Hòa giật mình quay lại:

- Chào soeur. Tôi chờ… bà Nhàn… ấy mà.

Bà soeur cười hiền hậu:

- À, tôi nhớ ra chú rồi. Hôm nay có bác sĩ trên thành phố về kiểm tra sức khỏe cho các bệnh nhân, nên chưa ai được ra ngoài cả. Khoảng hơn tiếng nữa mới xong. Chú vào phòng khách uống nước chờ đi ạ.

- Vâng, cám ơn soeur.

Đâu khoảng nửa tiếng sau, bà Nhàn bước ra. Hai người ra sân ngồi trên ghế đá dưới bóng một cây hoa sứ đỏ. Ông Hòa nhìn bà Nhàn trong chiếc áo sơ-mi vàng nhạt, đôi tay bé nhỏ thoăn thoắt ngày nào đang giấu trong đôi găng tay dạ xám. Ông cúi xuống giấu đôi mắt rưng rưng, sờ soạng cái giỏ đựng đồ dùng rồi ông lôi ra để trên ghế nào là sữa, mật ong, đường, bánh kẹo, trái cây, cả thuốc bổ nữa, ôi thôi là đủ thứ… Bà Nhàn cảm động nói:

- Lần nào vào anh cũng mang đủ thứ. Mang làm gì cho nặng. Ở đây các soeur lo đầy đủ rồi mà.

Ông Hòa nhìn bà Nhàn cười nhẹ:

- Khi xưa mang cả quả pháo to đùng còn chưa ăn thua, những thứ này là gì đâu em. Chỉ mong em điều trị mau lành bệnh là anh vui rồi.

- Nhưng khi xưa còn trẻ khác, bây giờ… đã có tuổi rồi.

Ông Hòa đặt nhẹ tay lên vai bà Nhàn:

- Trẻ hay già đâu có gì khác nhau.Với anh, dòng máu nóng của lính pháo cao xạ luôn luôn còn chảy đây này. Mà anh với em có già đâu, mới ngoài 60 thôi mà.

Nói xong ông Hòa giơ hai tay lên làm điệu bộ của một lực sĩ khiến bà Nhàn cười thật to. Một cảm giác hài lòng hiện tại, nhưng cái viễn cảnh khi về đến nhà sẽ rắc rối bỗng dâng lên trong lòng ông. Bà Vân đã có lần đổ ra ghen tương, hạch hỏi. Một bữa nọ ông bực quá quát lên: – Ừ, tôi đi gặp người đàn bà khác đó. Ông đi gặp người đàn bà khác mà lại là một người mang di chứng của bệnh phong cùi, liệu bà Vân có chấp nhận không? Một ý nghĩ cỏn con bỗng nhiên làm xáo động mặt phẳng bình yên của buổi gặp gỡ này. Bà Nhàn nhỏ nhẹ hỏi:

- Anh xuống lần này chị nhà biết không?

Ông Hòa im lặng không nói gì.

Có gặp gỡ thì phải có chia tay. Đã hết giờ thăm. Ông Hòa lủi thủi xách cái xách tay đen chầm chậm bước ra cổng. Ông ngoái nhìn lại lần nữa, những con người tội nghiệp. Người nữ chiến binh một thời oanh oanh liệt liệt. Đôi tay thoăn thoắt băng bó từng vết thương cho các chiến sĩ. Sao nay lại thu mình trong một thế giới nhỏ hẹp, đau buồn thế kia? Thế gian chống đối họ thế nào. Thế gian xa lánh họ thế nào. Phải biết nhìn về nhiều mặt. Nhìn những tấm lòng nhân hậu tình nguyện, hy sinh, chăm sóc cho họ kìa. Những vị bác sĩ chân chính, những bà soeur đầy lòng nhân ái, những người đàn ông, đàn bà xếp chuyện gia đình tình nguyện đến đây nấu nướng, quét dọn cho họ mỗi ngày. Riêng với ông Hòa. Trong đời ông. Đúng! Chỉ có một tình cảm. Một tình cảm vững bền cho đến bây giờ.

Người cựu chiến binh thong thả bước đi. Chiều Di Linh hiền và trầm mặc. Một mảng sống lớn trong im lặng. Thật vậy, cuộc sống luôn có những điều bình dị bên cạnh những cái gọi là vĩ đại. Cuộc sống chưa hề cạn kiệt những hy sinh. Sự hy sinh thầm lặng của những người đang sống trong một thế giới có quá nhiều xô lệch khôn lường. Vẫn còn có những chân trời mà ta chưa biết.

*

- Ngày mai ông có đi đến đấy thì cho tôi đi với! – Tiếng bà Vân cất lên bất ngờ vừa như lệnh, vừa như van xin.

Ông Hòa ngạc nhiên giây lát rồi hỏi với một giọng nặng trĩu: – Đi đâu là đi đâu?

- Đi đến Trung tâm điều trị phong Di Linh chứ đi đâu.

Ông Hòa đứng như trời trồng. Giây lát sau bà Vân nói trong xúc động tột cùng:

- Tôi đã… đọc hết bức thư dài đó, đã hiểu hết tất cả. Ông giấu tôi để làm gì. Trong cuộc sống đã mang ơn ai thì phải biết trả ơn cho người ta chứ.

Ông Hòa nhìn bà Vân, nói lí nhí trong cổ họng:

- Em… em đã biết…

Bà Vân nghẹn ngào nói trong màn nước mắt:

- Nếu không có cô Nhàn ngày ấy, làm sao em có anh hôm nay. Anh Hòa ơi… anh…

Ông Hòa ôm chầm lấy vợ, run run trong nụ cười đầy nước mắt.

Phải. Vẫn còn có những chân trời mà ta chưa biết. Một cơn gió nhẹ thoảng qua len vào cửa sổ.

Đặng Thị Thanh Liễu
(42 Hoàng Hoa Thám, Đà Lạt)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 397

Ý Kiến bạn đọc