Truyện ngắn

Những đứa con nuôi

 

Tình cờ gặp lão Miên ở quán nước đầu làng, hỏi chuyện nhà, lão bảo với tôi, con đẻ chỉ có một, là cái thằng mà ngày trước thầy giáo dạy nó đấy! Nhưng con nuôi, tôi có trên trăm…

Nghe lão nói thế, tôi không tin, tuổi già lẫn cẫn rồi chăng? Con nuôi hay con đẻ, vài đứa, nuôi đã khó. Mà thời buổi bây giờ, lão nhặt đâu cho ra trăm đứa trẻ con mồ côi chứ?

- Con nuôi của tôi còn có hiếu hơn cả con đẻ kia, thầy giáo ạ! Ngày nào chúng cũng ra đồng mò cua bắt ốc nuôi tôi. Không có chúng, tôi chết đói từ đời tám hoánh rồi! – Lão chậm rãi nạp thuốc vào cái điếu cày làm bằng đoạn gốc tre ngà, rít một hơi, đôi mắt già nua nhìn xa lắc xa lơ như thể đang nhìn thấy cảnh đời ở một cõi nào, hoặc như đang nhớ lại một chuyện gì đó, buồn lắm… Phả khói lên trời xanh rồi lão quay lại với tôi, giọng khàn đặc khói thuốc:

- Con người hay con vật, ở được với nhau cũng phải có cái duyên. Có nhà nuôi chim câu, bao nhiêu bận mà chúng có ở đâu? Mặc dù chuồng đóng bằng gỗ, sơn xít hẳn hoi, cho ăn đầy đủ. Nhưng có nhà, gác vài tấm ván, lấy cót thưng lại, đặt trên gốc cây, vậy mà chim ở, có đuổi cũng chả đi, sinh con đàn cháu đống. Tôi cứ lấy cái đận tôi bị ốm nặng mà suy ra. Đận ấy tôi ốm nặng lắm, tưởng không qua khỏi. Mới gượng dậy, tự nhiên có con chó Vàng đến nằm ở gốc nhãn trước nhà, đuổi không đi. Thấy lạ, tôi bước ra, cu cậu đứng dậy vẫy đuôi như thể tôi là chủ nó. Tôi gọi vào cho bát cơm nguội dằm với mấy con cá lẹp, nó ăn hết, liếm bát vẻ như còn đói, hai con mắt đen nhánh cứ nhìn tôi như muốn xin thêm. Biết cu cậu còn đói, tôi múc thêm. Thế mà nó ở với tôi đến bây giờ. Đúng là giống “hoàng khuyển”, khôn lắm… Thầy giáo bảo, không phải duyên thì là cái gì?

Đang từ con nuôi, lão chuyển sang nói chuyện về con vật. Sau rồi lão bảo: “Tôi nói thật với thầy giáo chứ, chả phải con người, mà kể cả con vật cũng phải có cái tình cái nghĩa, tức là mình phải thương yêu nó thì nó mới ở. Loài vật chúng tinh lắm chứ không thường đâu. Nhà lão Keng đấy! Thấy người ta nuôi ong vắt được nhiều mật, tưởng dễ ăn, bỏ vốn, mua mấy chục đàn, gặp năm ít hoa, đã chả cho chúng ăn thì thôi, lại cứ chăm chăm chực vắt mật, được vụ đầu, vụ sau, chúng kéo nhau bay tung tóe lên trời cao. Lão Keng trơ mắt ếch đứng nhìn. Loại người mà nuôi chó chó chết, nuôi mèo mèo hen, nuôi chim, nuôi ong, đều bỏ tổ… cũng chả ra gì đâu…”.

Đúng là tuổi già cả nghĩ. Lão già luận thuyết về mối quan hệ giữa con người với con vật, nghe hao hao như giảng Phật pháp. Tôi đoán, chắc cuộc đời lão có điều gì ẩn ức mà chưa thể nói ra chăng? Nhưng cứ ngồi nghe lão nói lan man hết chuyện con nuôi, rồi chó đến chim, có lẽ tôi phải bỏ buổi dạy chiều mất. Tôi chào ra về, nhưng trong lòng vẫn còn thắc mắc về đám con nuôi của lão. Hôm nào rỗi, phải đến nhà lão “mục sở thị” mới được…

Thế rồi một lần tôi đến thăm nhà lão. Hôm ấy tôi đi đưa tang lão Mậu lên nghĩa trang Đồi Con Thỏ. Đường về qua ngõ nhà lão Miên. Chờ cho người ta lấp đất, sửa sang chu đáo phần mộ người quá cố, trưa trật, trên đường về, tôi mới rẽ qua. Thấy lão đang nằm trên giường, đầu kê cái gối mây đã xỉn màu, dưới chân giường, hai con chó to, trông vẻ hiền lành, một vàng, một xám mốc, bấc mõm nhìn ra ngõ, nhưng thấy tôi, cả hai con không sủa. Thấy tôi vào, lão vội ngồi dậy vẻ phấn khởi. Hai con chó thấy chủ có khách, lảng ra ngoài. Lão tráng ấm, chén, cho chè vào, đổ nước sôi, đợi một lúc rồi dốc cái vòi cáu chè vào hai cái chén màu da lươn. Lão đặt trước tôi, lịch sự: “Mời thầy giáo!”.

Lão ngồi trầm ngâm, mắt hướng về phía khu nghĩa địa Đồi Con Thỏ, nơi tôi vừa đưa đám người chết như thể đang ước tính cho mình một ngày nào đó rồi cũng sẽ ra đi. Tôi nhìn hai con chó nhà lão, quả là chúng có dáng rất đẹp: đầu to, mõm vuông, ben khoeo chéo góc. Con Vàng thì miễn chê rồi. Còn con Mốc: lông màu xám tro, mấy vằn đen ngang bụng, làm nổi bật hình vóc, trông nó cứ như con hổ xám.

- Thầy giáo có biết vì sao nhà tôi tự nhiên lại có những hai con chó không? Cũng là cái duyên đó mà thầy! Con Vàng thì tôi đã nói chuyện với thầy giáo rồi! Còn con Mốc thì chưa. Con Mốc cũng bén duyên chị Vàng về ở rể nhà tôi đấy! Hình như con Mốc biết hoàn cảnh cô đơn của con Vàng nên chúng tự tìm đến với nhau. Anh chị quấn nhau đáo để! Cả hai con đã khôn ngoan lại dũng cảm nữa chứ! Tôi kể chuyện cho thầy giáo nghe. Hôm ấy cũng mới vừa nhập nhoạng tối, con Vàng từ ngoài ruộng, người lấm lem bùn đất, chạy hộc tốc về nhà, càm vào gấu quần tôi kéo đi, vẻ như có chuyện gấp lắm. Tôi cũng linh tính như thế. Tôi cầm vội cây chườm thường dùng để chườm cá chép vượt đẻ, chạy theo nó. Con Mốc bám theo con Vàng. Đến chân đồi, nghe có tiếng ú ớ như người bị bịt miệng, rồi tiếng huỳnh huỵch như người vật nhau. Có chuyện rồi! Giữa nơi vắng vẻ, không cướp của giết người thì cũng hiếp dâm. Ở chân đồi vắng lại gần bãi tha ma này xẩy ra mấy vụ rồi. Tôi ra hiệu cho hai con chó sẵn sàng lao lên, rồi thì quát lớn để thị uy. Một bóng người to cao vùng dậy, vồ lấy xe, nổ xe máy vù đi. Con Vàng nhảy theo, giật đứt phăng một miếng thịt hông của nó. Tôi bật đèn pin. Trời ơi, một cô gái bị lột quần đang nằm trên cỏ. Tôi đỡ cô ta dậy, hỏi chuyện mới biết, cô bị thằng xe ôm lừa, bảo đi đường tắt về nhà nhanh hơn, nào ngờ đến chân đồi vắng, hắn giở trò đồi bại. Cô ấy tên Thắm, ở làng Sành, bên dãy đồi kia – Lão gật gù, tiếp – Vụ ấy, theo lời khai của cô gái, có vết thương do chó cắn ở hông làm chứng cứ, chả cần phải xét nghiệm xét nghê gì, công an tóm gọn tên bất nhân ấy…

Thì ra, về già, lão cũng làm được ối việc nhân đức đó chứ! Tôi động viên lão: “Thôi lão ạ! “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khương” mà! Rồi trời cũng cho lão hưởng lộc, an nhàn tuổi già”. Tôi đang định hỏi đám con nuôi theo lời lão nói hôm trước cho ra nhẽ thì bỗng nghe tiếng đàn vịt kêu cạc cạc gióng lên như bản hợp âm bên ngoài mấy thửa ruộng phía chân đồi. Lão già vẻ hứng chí, chỉ tay vào mấy thúng trứng vịt đầy ắp đặt ở góc nhà, bảo: “Vụ này tôi thắng đậm thầy giáo ạ! Mưa nhiều. Cá tép từ nơi khác té nước theo mưa, đổ xuống ruộng nhà tôi, cả đàn trên trăm đứa con nuôi, đứa nào chiều về cũng no lặc lè, đẻ quả nào cũng to như trứng ngỗng. Đẻ ra đến đâu, đám buôn trứng vào lấy hết đến đó. Đó thầy giáo xem, mới có một đêm mà từng ấy trứng đấy!”.

So-550--Chan-dung-cuoc-doi---Pham-Thanh-Toan
Chân dung cuộc đời – sơn dầu – Phạm Thanh Toàn.

Thì ra “trên trăm đứa con nuôi” của lão là thế: Cứ con nào nuôi lão thì lão gọi là con. Cái quan niệm của người già, đôi khi giản dị mà chí lý. Trên trăm vịt đẻ, mấy chuồng chim câu, đàn gà thả đồi, hai con chó tinh khôn làm vệ sỹ. Cộng lại, phải là mấy trăm đứa con nuôi ấy chứ! Kinh tế như thế, gì mà lão đi ra chả đàng hoàng?…

*
Mấy chục năm về trước, lão Miên có cả khu rừng cây cộng hơn hécta ruộng gần kề. Đó là thời lão mới xuất ngũ, sức vóc đang còn cường tráng. Lão vốn lính đặc công nước, đã từng tham gia trận đánh Quân cảng Cam Ranh, cùng đồng đội phá hủy bao nhiêu tàu giặc. Hơn 10 năm lăn lộn các chiến trường, lão vẫn nuôi giấc mơ về quê trồng rừng, chăn nuôi, đặt bẫy. Cuối cùng, lão cũng đạt được ý nguyện. Cũng may là năm lão xuất ngũ về nhà, may mắn gặp thời điểm nhà nước đang có chủ trương “giao đất giao rừng” cho hộ nông dân. Lão nhận luôn 5 hécta đồi hoang mà lúc đó chả có ma nào dám nhận vì toàn đất sỏi. Lão nhận và bất chấp nắng mưa, kiên nhẫn đào hố trồng cây. Sau này, rừng cây của lão có người trả trên bạc tỷ lão không bán. Lão có thằng con trai, nó không thích trồng rừng, bỏ đi lập nghiệp mãi tận tỉnh Lâm Đồng. Cha con không hợp tính nhau. Bố thì cặm cụi lo khai phá đất đai, trồng cây, chăm ruộng, còn thằng con thì chơi bời. Nhiều khi lão buồn, rồi nghĩ, cũng tại bà ấy. Cứ đụng đến việc gì là mẹ làm thay con. Thương chiều con quá, học hết lớp 12, lẽ ra như con nhà người ta đủ điều kiện văn hóa để học thợ, rồi đi xuất khẩu lao động sang Tây sang Tàu, bố mẹ nhẹ cái thân. Đằng này, suốt ngày bạn bè lêu lổng. Bà vợ lão mấy năm sau thì chết vì ung thư dạ dày. Mẹ chết, còn lại hai cha con, nó bỏ đi theo bạn vào Nam làm ăn. Lão nghĩ, thôi thì cho nó đi ra, tự lập rồi mà biết thân. Tưởng nó hư hỏng hoàn toàn, nào ngờ nó cũng tỉnh ra. Vào đấy, ngày đầu đất đai còn dễ dàng, nó theo bạn đốt nương làm rẫy, bảo bố gửi ít tiền làm vốn. Vài năm sau, điện báo là đã có đến 2 hécta cà phê. Rồi nó cưới vợ. Đã mấy lần vợ chồng nó bảo lão bán cơ ngơi ngoài này vào ở với chúng nó cho có bố có con. Trong đó dễ sống, thực phẩm giá rẻ như cho không. Lão không nghe. Lão bảo, mẹ mày nằm đâu thì bố ở đấy. Bố mà vào đấy, ai chăm sóc phần mộ mẹ con?…

Thời gian trôi đi. Mới ngày nào lão còn bước xăm xăm lên đồi, vậy mà bây giờ bước đi đầu gối đã run. “Trẻ cậy cha, già cậy con”, người xưa nói vậy. Nhiều người khuyên lão bán rừng cây, lấy tiền gửi tiết kiệm mà lo dưỡng cái thân già. Lão quyết chí để lại, có chết cũng không bán. Sau rồi, thấy thằng con cứ biền biệt. Nói dại, nhỡ không may nằm xuống, lấy chi chi phí tang ma? Thế là lão bán rừng cây thật, được hơn tỷ hai. Vừa bán xong, nhận tiền, chưa kịp gửi ngân hàng thì thằng con lù lù vác xác về. Biết bố mới vừa bán rừng cây, hắn bảo, lần này thì bố không thể không vào. Già rồi, lỡ may có chuyện gì, hàng xóm bảo con bất hiếu. Bố chết rồi, để tiếng xấu cho con à?

Câu nói sau cùng của thằng con trai đã đánh trúng vào tâm can người cha. Chả có người cha nào chết đi muốn để lại tiếng xấu cho con? Thế là lão giao tiền cho con rồi theo nó lên tắcxi ra ga tàu một đường Nam tiến…

Vừa đúng 2 năm sau, người làng thấy lão trở về gầy gò tiều tụy như kẻ hành khất. Cũng còn may là ngôi nhà và khu ruộng liền kề lão chưa bán. Ngày đi, lão chỉ gửi nhờ người thân trông coi. Mấy năm trời theo con, tưởng được báo hiếu, khi ngờ vào trong ấy, lão mới ngã ngửa. Hai vợ chồng nó chơi hụi vừa vỡ nợ. Có tỷ hai của bố, chúng trả bớt nợ rồi đầu tư tiếp vào cây cà phê. Cà phê rớt giá, hạn hán kéo dài, nợ nần tăng lên, chủ nợ đến xiết, trắng tay, chúng kéo cả lão vào thành phố thuê nhà ở rồi đi bán vé số. Ngày nào con dâu lão cũng dúi vào tay lão chục tệp vé. Lang thang khắp các chợ, bến xe, có ngày bán được, có ngày không. Bữa nào bán được ít, về nhà con vợ nó gườm gườm nhìn lão, nói kháy nói khứa, rằng ốc không mang nổi ốc còn phải đèo rêu. Biết khi nào mới hết cái nợ đời! Biết nó nói ám chỉ mình, lão nhục lắm, chả nhẽ cứ sống ăn bám vào con? Lão cố cắn răng chịu đựng. Lần đi bán vé số, tình cờ gặp anh lái xe người cùng quê, nghe lão trần tình, anh ta bảo lão có muốn về quê thì lên xe…

Trở về nhà với hai bàn tay trắng, nhưng lão vốn người lo xa, còn mấy chỉ vàng, trước khi đi lão chôn dưới chân giường, lão moi lên, bán làm vốn, mua hơn trăm vịt đẻ. Còn hơn hécta đất ruộng gần khu đồi rừng, đàn vịt tha hồ bơi lội. Hai con chó một đực, một cái cho nó canh chừng đàn vịt và làm bạn với lão. Hai con chó, con nào cũng khôn. Sáng ra, có việc phải đi, lão gọi hai con chó lại rồi bảo, hôm nay tôi đi vắng, anh chị ra canh chừng “đàn em” nhé! Thế là hai con chó nghe theo, ra đồi nằm ghếch mõm ở hai đầu khu ruộng ngập nước, con vịt nào mà ló cổ sang bờ ruộng nhà khác, chúng chạy đến sủa gâu! Lập tức quay đầu liền. Lão ra đồng kiểm tra, thấy thế, bảo: “Anh em trong nhà, không nên không phải thì bảo ban nhau”.

Hai con chó, lão đặt tên theo màu lông. Chị Vàng và anh Mốc. Người lạ đi qua nhà, nghe lão gọi, cứ tưởng con cái lão. Ngày nào ngoài đồng cũng có vịt đẻ rơi. Những quả trứng đẻ rơi, lão để chị Vàng với anh Mốc ra nhặt mà tẩm bổ. Đó là phần thưởng lão dành cho chúng.

Giờ thì lão Miên là người nhàn nhất xóm. Sáng nào cánh buôn trứng cũng đến tận nhà lão mua cất. Trứng vịt nhà lão thuộc hàng sạch. Vịt chỉ mò cua bắt ốc trên ruộng và ăn thêm lúa chứ không có lẫn bất cứ thức ăn kích thích đẻ trứng nào. Hôm nào trong xóm có người mời ăn cỗ, lão cho con Vàng đi theo. Anh Mốc giữ nhà. Lần khác, anh Mốc theo thì chị Vàng thay thế. Con chó Vàng đến đâu cũng nằm dưới chân chủ, thi thoảng lại liếm vào gót chân lão như biểu lộ tình yêu. Lão ném một dẻ xương cho nó, giọng âu yếm: “Này chị Vàng, ăn đi con!”.

Mọi việc trong nhà lão được sắp đặt rất quy củ. Ban ngày ngoài ruộng, nếu có vịt chạy loạn xạ và kêu gióng lên, là y như rằng có rắn hoặc trăn trên đồi bò xuống. Trong trường hợp ấy, cả anh Mốc và chị Vàng biết phải làm gì. Chúng lao ra, cắn nháo nhào vào con rắn rồi tha về. Hôm ấy, “cha con” lão lại có nồi cháo bồi dưỡng. Lão cưng chiều hai con chó lắm. Nửa đêm tỉnh dậy, lão gõ nhẹ vào giường, rồi chìa bàn tay ra. Hai con chó nằm ở hai đầu hè, tức tốc chạy vào liếm vào bàn tay của lão, như muốn nói với lão rằng, cha nuôi của chúng con ơi, cứ yên tâm mà ngủ ngon nhé…

Một buổi sáng cuối thu, trời chỉ se se lạnh. Đàn vịt nhà lão tự nhiên kêu vống lên như bị trăn, rắn bắt. Rồi hai con chó cũng tru lên những hồi thảm thiết. Sau đó chúng chạy đến các nhà, cuống quýt như muốn thông báo một tin gì đó hệ trọng lắm. Chắc lão già có chuyện rồi. Người làng vội chạy đến. Lão Miên nằm trên giường đã tắt thở từ lúc nào. Hai tay lão để trên bụng như chuẩn bị cho tư thế nằm trước lúc ra đi. Lục trong áo gối của người quá cố, người ta thấy số tiền lớn và một bức thư của lão dặn lại, những việc lão nhờ bà con xóm giềng. Người ta đưa tất cả các thứ ấy cho trưởng thôn, rồi mời chính quyền xã đến lập biên bản để làm cơ sở pháp lý sau này.

Sau khi lão chết, cả hai con chó đều nhịn ăn. Chúng buồn bã ra nằm bên ngôi mộ của lão. Một tuần sau, cả hai con đều chết trên ngôi mộ ông chủ. Chúng đã chọn cách đi theo chủ của loài chó…

Một năm sau ngày lão chết, thằng con trai lão mới mò về. Hắn muốn tìm trích lục đất để bán tất tài sản để lại của cha hắn. Khi hắn ra ủy ban xã trình bày nguyện vọng thì mới biết, trước khi chết, cha hắn đã làm tờ di chúc chuyển nhượng toàn bộ đất vườn, nhà cửa cho ủy ban xã để làm chốn nương thân cho những bậc làm cha làm mẹ nào bị con cái bạc đãi. Ủy ban xã bàn giao toàn bộ tài sản của lão cho Hội Người cao tuổi trông coi. Nguồn thu nhập thường xuyên của khu đất vườn nhà lão Miên được xung vào quỹ của Hội, dành riêng giúp đỡ những người già nua cô đơn, không nơi nương tựa…

5/2019

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 550

Ý Kiến bạn đọc