Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những đứa con của Mẹ

Cũng như bao Bà mẹ Việt Nam anh hùng khác, mẹ Trần Thị Cậy, sinh năm 1926, quê quán xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, đã toát lên vẻ đẹp sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam với đầy đủ các đức tính anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang; thủy chung, chịu thương chịu khó, yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc và một lòng tin tưởng son sắt vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo. Chính niềm tin mãnh liệt đó là động lực thôi thúc mẹ không quên nhọc nhằn, không hề tính toán thiệt hơn hay tỏ ra nuối tiếc bất cứ điều gì để ngày đêm âm thầm, lặng lẽ đóng góp công sức cho cách mạng, kể cả phải chấp nhận nỗi đau hy sinh những người thân yêu nhất với mong muốn sớm giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; no ấm, hạnh phúc cho mọi người.

Trong cuộc tổng tấn công mùa xuân Mậu Thân năm 1968, quân dân ta đã làm thất bại nặng nề “Chiến lược chiến tranh cục bộ” của Mỹ – Ngụy. Với mưu đồ thâm độc dùng người Việt sát hại người Việt, chúng chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ráo riết bắt lính để bổ sung lực lượng bị thiếu hụt, củng cố tinh thần, lực lượng binh lính tại chỗ, triển khai chiến dịch “nhổ cỏ U Minh” và “bình định vùng nông thôn”. Riêng huyện An Biên vùng U Minh Thượng, chúng chia thành hai chi khu và một căn cứ hải quân (hạm tàu trên sông nhỏ), đó là căn cứ hải quân Xẻo Rô chi khu Kiên An (Thứ 3) và chi khu Hiếu Lễ (Thứ 11). Ở đây địch tăng cường nhiều trung đoàn thuộc sư đoàn 9, 21) và các binh chủng khác có xe tăng, đại pháo và máy bay ngày đêm đánh phá quyết liệt. Tuyến biển phía tây dọc đường kinh “Chống Mỹ” và các kinh, rạch khác, chúng bố trí đồn, bót dày đặc. Giặc lên danh sách các gia đình có thân nhân tham gia hoạt động cách mạng, kèm cặp, theo dõi gắt gao. Mẹ Cậy cũng nằm trong diện đối tượng được chúng săn sóc đặc biệt vì có 3 người con trai tham gia lực lượng du kích, quân giải phóng đang hoạt động vùng này. Năm 1970, trước sự theo dõi gắt gao của địch khiến mọi hoạt động của mẹ không thể thực hiện được, nếu cố tình sẽ rất nguy hiểm và nguy cơ bị lộ rất cao. Để tránh sự dòm ngó của địch, đảm bảo an toàn cho cơ sở cách mạng, cũng như hoạt động cách mạng của mẹ được thuận lợi, mẹ phải rời An Biên lên tá túc nhà người em ruột ở Chợ Giữa (Rạch Sỏi), sống bằng nghề mua lúa, bán gạo. Những tưởng cuộc sống tạm yên, tránh được tai mắt của địch. Nhưng không, bọn Bảy Đủ và Mười Tiên, cảnh sát phòng Nhì ngày đêm la cà khu dân cư theo dõi mẹ từng bước một.

Nguoi-me-VNAH-Nguyen-Thi-Thu-cho-nhung-nguoi-con-ve-an-com---Anh-1
Người mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ chờ những người con về ăn cơm​ - Đại tá Trần Hồng.

Một lần nữa mẹ rời chỗ ở vào chợ Tà Niên xã Vĩnh Hòa Hiệp, cất tạm căn nhà lá cạnh nhà máy Tân Hiệp Thành (Cây Dương) bên bờ sông Cái Bé đối diện đồn Khe Luông để tránh tai mắt giặc. Nơi này địch cho đặt một trạm kiểm soát để kiểm tra việc đi lại trên bến, dưới thuyền của người dân. Trong một lần kiểm tra, bọn chúng bắt quả tang thím Năm vận chuyển thuốc và vải đỏ vì nghi ngờ thím cung cấp thuốc, vải đỏ dùng để may cờ giải phóng. Bọn chúng còn phát hiện ra thím Năm là vợ của đồng chí Nguyễn Minh Quang (Năm Dồi), huyện ủy An Biên. Nếu thím Năm bị giải về đồn thì rất nguy hiểm, nguy cơ bị lộ đường dây, cơ sở cách mạng là rất cao nếu thím không chịu nổi các đòn tra tấn dã man của địch, dùng thím làm mồi nhử để chiêu hàng người chồng, người đồng chí của mình. Đối mặt với kẻ thù, mẹ đến trạm kiểm soát nhận thím Năm là em bà con buôn bán tạp hóa cùng và dùng tiền đút lót để chúng thả thím Năm về. Mấy ngày sau bọn cảnh sát dã chiến ruồng bố bắt lính quân dịch ở Đập Đá (Cây Dương), lúc bọn chúng dừng quân nghỉ ngơi, mẹ đến biếu một cặp vịt xiêm, có mồi ngon bọn cảnh sát ăn nhậu, thừa lúc bọn lính say xỉn, 4 thanh niên chạy thoát. Tỉnh rượu, cả bọn tức tối vô cùng vì bị lừa, nhưng không dám làm khó dễ mẹ vì sợ lộ ra sẽ bị cấp trên phạt nặng.

Trên vàm sông Cái Bé, bọn giặc bố trí hai chiếc giang thuyền ngày đêm thả trôi trên sông nhằm ngăn chặn đường tiếp tế của ta. Ở nơi này gần vàm biển, thuận tiện cho việc vận chuyển lương thực nên những chuyến vận chuyển về vùng giải phóng của mẹ đều trót lọt. Qua thời gian rình rập, theo dõi, khám xét không hiệu quả, bọn cảnh sát phòng Nhì bắt mẹ đưa về Rạch Giá thẩm vấn, tra khảo buộc mẹ phải khai tổ chức, li khai cộng sản. Ngày 20/4/1970, trong phiên tòa xét xử, bọn địch khép mẹ với hai tội danh là tiếp tế lương thực cho Cộng sản và có 3 con trai theo Việt cộng chống lại chính phủ quốc gia. Nghe tuyên án, mẹ chỉ tay vào mặt tên chánh án Trung tá Huỳnh Trung Chánh, nói to: “Các người không thể buộc tội người vô căn cớ, tôi không có tội, luật lệ ai ban? Sao bạo tàn đến thế? Các người đi học luật thêm rồi về xét xử dân”. Lúc đó nhân dân tại phiên tòa hò reo phản đối: “Hãy thả bà ta tự do, bà ta vô tội!”. Tên chánh án Huỳnh Trung Chánh vì bị sỉ nhục trước đám đông, cầm thước cây ném trúng đầu mẹ máu ra xối xả. “Chúng bay không phải là quan tòa gì cả, mà chỉ là bọn côn đồ đi bắt, đánh lương dân vô tội! Đả đảo bắt bớ, đả đảo đánh đập, yêu cầu thả người vô tội”. Trước sự phản đối gay gắt của nhân dân, phiên tòa xét xử bị hoãn, bọn cảnh sát giải mẹ về khám lớn Rạch Giá giam cầm. Trong nhà giam, chị em tù nhân, đấu tranh đòi địch phải thả tự do cho mẹ. Do không có bằng chứng, 10 ngày sau, bọn giặc buộc phải thả mẹ ra tù. Về Tà Niên, mẹ được tổ chức giao nhiệm vụ vận động bà con tiểu thương đóng góp tiền của giúp đỡ cho cách mạng.

Tháng 7/1970, mẹ đau đớn khi được tin Cái Văn Bé Lớn, người con trai lớn của mình hy sinh. Cái Văn Bé Lớn, sinh năm 1952, tham gia cách mạng năm 1968, thuộc đơn vị U Minh Mười. Trong một trận đánh địch, anh bị thương nằm quân y huyện điều trị. Sau khi ra viện vì sức khỏe còn yếu anh được tổ chức tăng cường về xã đội Tây Yên với chức vụ Trung đội trưởng. Đơn vị anh phối hợp với D2 đánh đồn Bàu Trâm và quân tăng viện lính “538” chi khu quận Kiên An. Quân địch được sự hỗ trợ của máy bay trực thăng và đạn pháo cùng lực lượng đồn Bàu Trâm và đồn Thứ 3 vây chặt quân ta. Lúc này anh bị thương, khẩu súng của anh còn lại 2 băng đạn và 2 quả lựu đạn. Trước thế trận không cân sức, anh ra lệnh cho đồng đội rút lui để bảo toàn lực lượng còn mình ở lại thu hút, đánh lạc hướng địch để đồng đội rút lui được an toàn. Dẫu bị thương, anh vẫn đánh địch đến khi hết đạn, gượng bò lên gò Sậy. Quân giặc ào ạt xông lên định bắt sống anh. Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên, vài tên địch ngã gục đền tội ác.

Anh-minh-hoa---Nhung-dua-con-cua-me---Anh-1

Tên Cuộc, chi khu trưởng quận Kiên An cho lính đồn giữ xác, không cho mọi người lấy. Mẹ gặp các đồng chí lãnh đạo bàn kế hoạch lấy thây Bé Lớn. Đồng chí Nguyễn Minh Quang (Năm Dồi) huyện ủy viên, chỉ đạo 3 xã tuyến biển An Biên; đồng chí Nguyễn Văn Ký (Hai Ký), bí thư chi bộ xã; đồng chí Tư Mới, xã đội trưởng họp chỉ đạo mẹ về Thứ Ba Biển tìm gặp bác Tư, chú Tám Mầm và một số bà con có uy tín với lính đến chỗ bọn lính canh giữ xác vận động đòi lấy cho được xác anh. Tên đồn trưởng Danh Nol quát lớn: “Các người là ai? Sao dám bén mảng đến hiện trường xác tên Việt cộng?”. Chú Tám từ tốn: “Bà đây là chị dâu tôi, là mẹ của người chết nằm kia, mấy ông thông cảm cho chị ấy nhận xác con về chôn cất”. Tên đồn trưởng đi đi lại lại dòm mẹ chăm chú, dò hỏi: “Có thật bà là mẹ thằng này hay do Cộng sản phái tới mượn danh là mẹ để nhận xác?”. Bác Tư nói: “Tôi là người ở ấp này mấy ông cũng biết rồi đó. Còn đây là thiếm Ba Tiều, em dâu của tôi, còn người chết kia là Bé Lớn”. Tên trưởng đồn hạ giọng: “Hèn chi gan dạ thật!”. Hắn quay lại nói với tụi lính: “Kỳ này tụi mình được tiền thưởng to rồi. Bắn hạ tên Việt cộng có tiếng tăm như vậy đâu phải dễ”. Chú Tám nói, là chỗ quen biết xin các ông cho bà ta nhận xác con về, giữ mãi chỉ gây phiền cho mấy ông mà thôi.

Tên đồn trưởng suy nghĩ hồi lâu rồi nói: “Để tôi điện lên chi khu xin ý kiến quận trưởng xem sao?”. Điện xong, tên đồn trưởng quay lại nói: “Thiếu tá Cuội nghĩ tình họ Cái các người có người phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa nên ổng cho bà nhận xác con về chôn cất”. Bọn lính rút về đồn hết, mẹ chống xuồng ra giữa đồng cắm sào, treo khăn rằn làm hiệu. Bé Nhỏ con của mẹ cùng các đồng đội đến chở xác theo đường tắt về Nghĩa trang Liệt sĩ thứ nhất (Tây Yên). Trong buổi lễ truy điệu, mẹ kéo khăn rằn lau dòng nước mắt chực trào ra, cố gắng kìm nén không bật tiếng khóc. Bé Nhỏ và đồng đội bùi ngùi cúi đầu mặc niệm trước anh linh người anh, người đồng chí đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc.

Nỗi đau mất con chưa nguôi, thì mẹ nhận được tin Cái Văn Bé Nhỏ hy sinh trong trận chống càn ở Thứ Hai Biển. Cái Văn Bé Nhỏ, sinh năm 1956, tham gia cách mạng năm 1969, đội viên du kích xã Tây Yên. Sau khi người anh Cái Văn Bé Lớn hy sinh, với lòng căm thù giặc bọn giặc Mỹ, anh đã tham gia hoạt động cách mạng. Buổi sáng ngày 15/12/1970, tại vàm Thứ Hai Biển, tổ chức đang họp chi bộ thì bất ngờ hai trung đội địch từ đồn thứ Ba và đồn thứ Nhất do tên Mười Mun trước ở chung đơn vị đã ra hàng địch dẫn lính vào chỉ điểm, đánh úp căn cứ của ta. Lực lượng cận vệ bận đi công tác nơi khác nên chỉ còn lại một mình anh ở lại bảo vệ. Phát hiện địch thấp thoáng ẩn hiện sau những lùm cây tiếp cận căn cứ, anh đã chủ động nổ súng vào đội hình địch để báo động cho các đồng chí đang họp, thu hút địch về phía mình để các đồng chí rút lui an toàn. Bị thương rất nặng, anh trườn vào chòi củi ẩn thân. Bọn lính dùng loa gọi đích danh tên anh ra hàng để nhận được sự khoan hồng của chính phủ quốc gia, bảo toàn tính mạng. Sau nhiều lần gọi hàng không thành, bọn địch đã dùng súng M79 bắn thẳng vào nơi anh trú ẩn. Chúng lao vào kéo anh ra giữa sân, tên lính người dân tộc bật lê súng, gằn giọng: “Thằng du kích nầy trẻ mà gan dạ quá, để tao mổ bụng coi xem gan nó lớn bao nhiêu”. Nói xong hắn dùng lê mổ giữa bụng anh một đường thì một tên lính khác giữ tay hắn lại, bảo, tôi biết thằng này, nó là em của thằng Bé Lớn mà mấy tháng trước mình bắn chết ở Bàu Trâm, anh em nó là họ Cái, dòng họ nó có máu mặt ở quận, tỉnh này. Nó chết rồi mổ bụng nó làm gì, không khéo tụi mình còn bị cấp trên quở phạt đó. Sau khi bọn địch rút quân, bà con trong ấp cùng các đồng chí đưa thi thể anh ra nền đất cao ngoài bìa rừng vàm Thứ Hai Biển an táng. Sau ngày giải phóng, mộ anh được chính quyền đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện an táng.

Người con Cái Thế Vân, sinh năm 1950, cũng đã tham gia du kích xã Tây Yên, An Biên năm 1967. Cuối năm 1968, trong một trận giặc càn quét, anh và 7 người khác bị địch bắt tại Ba Biển. Tên quận Cuộc hắn vốn có thân tình với một số sĩ quan họ Cái đang phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa nên hắn khuyến dụ anh khai báo thành thật về tổ chức, về 7 thanh niên khác cùng bị bắt và khẩu súng trường thu được là súng của ai. Anh bình tĩnh trả lời, nếu tôi khai sự thật ông có thể thả 7 người thanh niên này không? Tên Cuộc nói, nếu mày khai khẩu súng này của thằng nào tao sẽ thả mày liền tại chỗ, bằng ngược lại, bọn bây sẽ ở tù mục xương.

Anh nhìn từng anh em rồi nói, những người bị các ông bắt đều là các thanh niên trốn quân dịch, khẩu súng kia là của tôi, xin các ông thả những người đó như đã hứa. Tên quận trưởng Cuộc tức giận đưa anh về chi khu An Biên, mời một số sĩ quan có bà con với anh đến, dùng lời dụ dỗ ngon ngọt hòng lung lay ý chí anh nhưng không thành. Bọn chúng đầy anh đi nhà lao Cây Dừa – Phú Quốc.

Lúc bấy giờ ở đảo Phú Quốc có tổ chức đấu võ đài. Tên sĩ quan Đại Hàn là võ sư đã lần lượt thượng đài đánh bại các võ sĩ ở địa phương. Trước sự thất bại của các võ sĩ người Việt, thiếu tá quận trưởng Đỗ Hột Xoàn rất bức xúc muốn có một võ sĩ người Việt đánh bại tên Đại Hàn mới hả giận. Một lính quân cảnh canh giữ tù nhân biết Cái Thế Vân là học trò của ông võ sư Tiểu La Thành ở miền Tây khét tiếng giỏi võ thuật, thỉnh thoảng dạy các tù nhân tập võ, đã “tấu” lên thiếu tá quận trưởng.

Sau buổi tiếp xúc, thiếu tá hứa nếu anh Vân thượng đài đánh thắng tên võ sĩ Đại Hàn, ông sẽ bảo lãnh anh ra tù. Anh Vân lưỡng lự, nói, để tôi suy nghĩ lại 3 hôm sau sẽ trả lời. Tên thiếu tá bắt tay với anh, nói, cậu về suy nghĩ rồi cho tôi biết, tôi mong cậu sẽ đồng ý, vì đây là cơ hội để cậu được ra tù, tùy theo bản lĩnh của cậu.

Về nhà lao, anh báo lại với tổ chức xin ý kiến chỉ đạo. Các đồng chí trong tù đều ủng hộ anh đại diện cho võ sĩ người Việt giao đấu với võ sĩ ngoại quốc và ra điều kiện với thiếu tá quận trưởng, nếu thắng, anh em tù nhân được miễn lao động một tuần.

Tên thiếu tá vui vẻ nhận lời. Những ngày này, anh được bọn lính quân cảnh đưa ra phòng riêng để luyện võ chờ ngày quyết đấu sinh tử với tên võ sĩ Đại Hàn. Trong ngày thượng đài đấu võ, anh được đông đảo bà con địa phương trên đảo nồng nhiệt cổ vũ. Qua hai hiệp đầu, anh cố tình né tránh không phản đòn để thăm dò nắm thế đánh của đối phương rồi mới ra đòn quyết định một mất một còn, vì đây là cuộc đấu sinh tử. Cuối hiệp hai, bất ngờ bị trúng một cú đá của đối phương, anh ngã nhoài người vào dây chằng của võ đài, tên võ sĩ chưa kịp đánh bồi thì đã hết hiệp hai.

Nghỉ giải lao vài phút, bà con khuyên anh nên chịu thua sớm để bảo toàn tính mạng vì thực lực tên võ sĩ rất cao. Anh mỉm cười cảm ơn bà con đã quan tâm. Hiệp ba bắt đầu, anh ra đòn tới tấp không cho đối phương có cơ hội phản kháng, rồi bất ngờ anh quay lưng bỏ chạy. Đối phương thừa lúc tấn công. Anh bất ngờ quay người lại đánh song chỉ về phía đối phương. Tên võ sĩ Đại Hàn nhanh nhẹn giơ tay chẻ tay anh ra để hở khoảng trống ngực. Tận dụng sơ hở của tên võ sĩ Đại Hàn, anh liền dùng thế La Thành Hồi Mã Thương tung gót thẳng vào ngực tên võ sĩ Đại Hàn khiến hắn gục đầu, miệng phun máu loang sàn đấu.

Anh vừa được trọng tài tuyên bố thắng cuộc thì tụi lính quân cảnh ùa lên khán đài, còng tay, trùm mặt lôi ra xe. Hồi hộp, lo lắng nghĩ mình bị chúng nó gạt rồi, chết chắc. Đang suy nghĩ tìm cách đối phó với sự xảo trá của địch thì xe dừng lại. Tên lính dìu anh bước xuống, tháo còng, khăn trùm đầu thì anh thấy mình đang ở dinh quận Phú Quốc. Gặp thiếu tá quận trưởng, chưa kịp hỏi điều gì, thiếu tá đã trấn an, cậu yên tâm, tôi hứa trong giao kèo với cậu tôi sẽ thực hiện. Trước tiên, kể từ hôm nay cậu không còn ở trong tù, ở lại đây cộng tác với chúng tôi, 3 năm sau cậu mới có phép về thăm gia đình ở đất liền, còn phần miễn lao động của tù nhân, kể từ ngày mai sẽ có hiệu lực.

Cuối năm 1970, tên đại úy người Mỹ từ đất liền ra đảo nhậm chức cố vấn. Tên này là võ sĩ môn Thái cực đạo rất ỷ lại và khinh thường võ sĩ người Việt. Hắn thách đấu tự do không cần khán đài với anh. Thiếu tá quận trưởng vốn không ưa hắn nên khích lệ anh thi đấu với tên Mỹ kia. Hiệp 1, tên đại úy sung mãn ra đòn liên tiếp. Anh trụ người, hai tay dang rộng chỉ thiên, chỉ địa để khoảng trống ngực lộ ra. Tên Mỹ liền tung cú đá thật mạnh vào ngực anh, anh dùng một tay bắt chân đối phương, bàn tay còn lại đấm thẳng vào hạ bộ của hắn làm hắn đau đớn chết giấc. Dù rằng đây là trận so găng giao hữu nhưng tên sĩ quan Mỹ rất tiểu nhân. Hắn cho tốp lính hải quân tìm cách ám sát anh để trả thù. Thiếu tá quận trưởng Đỗ Hột Xoàn thấy khó mà bảo vệ cho anh được nên đã liên hệ với ngư dân đánh cá đưa anh về đất liền tìm gặp thiếu tá quận trưởng Mai Hoàng Hoa, quận Kiên Thành (Rạch Sỏi) nương náu. Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, về đến đất liền, anh về xã Tây Yên bắt liên lạc với đồng chí Lê Văn Lưỡng là đội trưởng thị trấn Thứ Ba và tham gia chiến đấu cùng đơn vị của người em út Cái Thành Bảy cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/4/1975.

Người con út của mẹ, Cái Thành Bảy, sinh năm 1959, dù mới 14 tuổi đã trốn mẹ vào vùng giải phóng tìm mấy chú lãnh đạo của đơn vị anh mình xin tham gia cách mạng. Chú Nguyễn Văn Ký (Hai Ký) lúc ấy là huyện ủy viên, chỉ đạo 3 xã tuyến biển (An Biên) cùng các đồng chí khác rất cảm động: “Cháu còn nhỏ quá, mấy anh của cháu đã hy sinh rồi, gia đình còn lại một mình cháu, các chú không thể…”. Nghe các chú nói, mắt Cái Thành Bảy đỏ hoe, rấm rứt khóc. Chú Nguyễn Lê Châu, đội trưởng đơn vị thị trấn, xoa đầu Cái Thành Bảy, nói, các đồng chí nói vậy cũng phải, cháu nó còn nhỏ, hai anh của nó đã hy sinh, một anh bị địch giam ở nhà lao Cây Dừa, theo tôi biết, chị Ba, mẹ của cháu đang bị địch bắt giam vì tội tiếp tế cho cách mạng. Hiện tại cháu nó bơ vơ không nơi nương tựa thôi thì mình cứ nhận cháu, khi chị Ba ra tù mình sẽ giao cháu lại cho chị.

Với nhiệm vụ liên lạc của đơn vị thị trấn Thứ Ba, ông đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông cùng đơn vị tấn công giải phóng chi khu Kiên An (An Biên). Tháng 6/1976, ông làm diễn viên đoàn Văn công huyện An Biên. Năm 1977, đoàn giải thể, ông làm cán bộ văn hóa – thông tin xã Nam Yên đến năm 1983 được điều về Phòng văn hóa – Thông tin của huyện phụ trách biên tập, sáng tác, biên kịch cho đội thông tin lưu động. Năm 1991, tăng cường về làm Trưởng ban Văn hóa – Thông tin xã Nam Yên đến năm 1994.

Là hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam, hội viên Phân hội Sân khấu Hội Văn học – nghệ thuật tỉnh Kiên Giang, ông đã có nhiều sáng tác hay về quê hương An Biên, về Kiên Giang. Năm 2013, đạt giải A, B, C, cuộc thi sáng tác văn hóa – thông tin huyện An Biên. Năm 2015, đạt giải Ba tác phẩm “Thiêng liêng tình mẹ”. Năm 2016, đạt giải Nhì “Mẹ và nấm mộ”. Tháng 4/2017, được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen vì hoàn thành xuất sắc năm 2016 trong tỉnh về chuyên môn (văn học – nghệ thuật) và một số giấy khen của Hội Văn nghệ tỉnh.

Năm 1977, mẹ Trần Thị Cậy được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng “Bảng vàng Gia đình danh dự” vì có 4 con thoát ly tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 2014, mẹ được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”.

Bài viết này thay nén tâm nhang kính dâng lên Mẹ Trần Thị Cậy và những người con của mình đã không tiếc tuổi thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc. Mẹ đã dâng hiến những người con yêu quý nhất, là một phần máu thịt của mình cho Tổ quốc, để đất nước có được cuộc sống thanh bình.

Trương Anh Sáng
(TP. Rạch Giá, Kiên Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc