Truyện ngắn

Những cuộc gặp tháng Năm

Tôi đang xem chương trình thời sự trên tivi thì chiếc ĐTDĐ rung nhẹ. Một số điện thoại lạ hoắc hiển thị. Không biết ai nhầm số. Tôi bấm máy.

- Alô, tôi nghe đây.

- Có phải số máy anh Ba Thạch không ạ?

Một giọng đàn ông đặc trưng Nam bộ trầm, ấm. Chỉ ai ở miền Nam mới gọi tôi là Ba Thạch.

- Vâng, tôi Ba Thạch đây.

Vang lên một tiếng reo:

- Em Trường Gian đây (giọng người đàn ông cố nói giọng Bắc từ “gian”). Anh Ba nhớ em không?

- Mô Phật! Giọng nói này ai mà quên được, thế Trường Giang đang ở đâu? Cần Thơ hay Sài Gòn.

- Không, Hà Nội. Em được đi trong đoàn các doanh nghiệp Cần Thơ ra viếng lăng Bác nhân dịp 30/4 và 1/5. Gặp mấy anh nhà báo, hỏi đại tên anh, may quá gặp “hên”, thế là em có số máy của anh Ba.

- Cố thu xếp lên Thái Nguyên đi.

- Rồi. Em “nhắm” từ lâu, ra Hà Nội thế nào cũng tìm thăm anh Ba, để em lấy viết ghi lại cách đi đứng…

Sau khi đọc cách mua vé, tôi “cúp” máy – Thừ người ra một lát, suy nghĩ về sự tình cờ những lần gặp nhau của tôi và Trường Giang.

Lần thứ nhất vào đầu tháng 5 ngay sau ngày giải phóng miền Nam, khi Trường Giang đến trình diện tại Ban quân quản TP.Cần Thơ.

Hoi-tu---Gom---Le-Trieu-Dien
Hội tụ – gốm – Lê Triều Điển

Cán bộ quân quản hỏi:

- Anh tên gì?

- Dạ! Phan Trường Giang.

- Năm sinh?

- Dạ! 1951.

- Cấp bậc trong quân đội ngụy Sài Gòn?

- Dạ! Hạ sĩ.

Nhận một giấy triệu tập hẹn ngày đến địa điểm tập trung dành cho hạ sĩ quan và binh lính ngụy Sài Gòn, Trường Giang cung kính chào người cán bộ quân quản và tôi.

Tôi có nhận xét gương mặt cậu hạ sĩ này có vẻ trầm tĩnh chứ không lo sợ, ủ rũ như nhiều người khác, tôi gọi Trường Giang lại hỏi chuyện.

- Này, anh có cái tên khá đẹp đấy.

- Đâu có. Lúc ông già còn sống, “ổng” nói tên em là gọi tắt trường kỳ gian khổ, nhưng giọng miền Nam, không nói “gian” được mà thành Trường Giang.

- Chắc ông già anh biết nhiều về giải phóng.

- Dạ, trước kia gia đình em ở trong đồng, sau bom đạn quá, chịu không nổi, nhà em dạt ra thành phố, ông già mua chiếc xe đò chạy đường gần “độ nhật” (kiếm sống qua ngày).

- Thế đi lính lâu chưa?

- Dạ, 3 năm. Nói 3 năm nhưng đâu chừng chưa tới 30 tháng.

- Thế cũng là “tiến” nhanh đấy.

- Dạ, cũng là bất đắc dĩ. Đi học để trốn lính, sau nghèo quá trốn không nổi. Ở quân trường thấy em có chút chữ nghĩa, họ cho làm hạ sỹ, tiểu đội trưởng. Cũng “chạy” miết mới được ở lại liên đoàn biệt động không phải ra “sư”.

- Đi càn quét vùng giải phóng nhiều chưa?

- Đâu ba, bốn bận.

- Lần đi sâu nhất vào vùng giải phóng là lần nào?

- Dạ, có một lần vào U Minh năm 1972, đâu cũng lóng này (dạo này)…

Tôi bất chợt nghĩ, có khi chính hắn đã càn quét nơi đóng quân của chúng tôi, đốt sạch, phá sạch nơi ở của chúng tôi năm đó, tôi hỏi thêm:

- Có phải trận càn vào Cán Gáo không?

Mặt Trường Giang chợt tái đi, môi run run.

- Sao. Sao ông biết ạ?

- Có bắn ai không?

- Đâu dám ạ!

- Có gặp ai ở đấy không?

- Dạ, bọn em gặp mỗi một bà già ốm nhom.

… Ngày đó, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân dân ta, địch phản kích quyết liệt, đẩy lực lượng ta ra xa các thành phố, thị trấn. Chúng thực hiện chiến dịch “nhổ cỏ U Minh”, triệt hạ mọi nguồn sống của quân ta bằng mọi phương tiện, bom đạn, chất độc khai quang, cắm đồn bốt sâu vào vùng giải phóng cũ của ta.

Năm 1972, địch mở cuộc càn quét khá lớn vào vùng ruột của ta ở U Minh hạ, trong cuộc càn ấy, bám trụ ở lại với chúng tôi ngày đó chỉ còn mỗi má Tư. Đúng là thời gian ấy má Tư ốm nhom như nhận xét của Trường Giang, vậy giữa hắn với cuộc càn quét ấy tôi có thể khai thác được vài ba chi tiết.

Chúng tôi đào hầm, cất chòi trên liếp dừa của má Tư. Trong cuộc càn lớn ấy chúng tôi phải tránh né, lúc di chuyển chúng tôi phải đẩy xuồng cho má trong tầm đạn nhọn của giặc. Tạm nghỉ trên một bờ đìa, chúng tôi thấy má bỏm bẻm nhai trầu, nét mặt vẫn bình thản. Hình ảnh ấy của má hơn mọi lời giáo dục, động viên về lòng dũng cảm và niềm tin, về tinh thần bám trụ.

Khi nhìn về phía đóng quân, chúng tôi thấy khói bốc lên nghi ngút. Chúng tôi hình dung ra sự tàn phá của ngọn lửa tại nơi ăn chốn ở của chúng tôi. Như sực nhớ ra điều gì, má nói với tôi:

- Má phải về.

Gặng hỏi mãi, má mới nói:

- Trong chòi của má có tấm hình Bác Hồ, coi chừng nó đốt mất.

Can thế nào, má cũng không nghe. Chúng tôi đành để má trở lại vườn.

Nhìn má bơi chiếc xuồng be 8, trong lòng xuồng chỉ có mỗi cơi trầu bằng đồng đã xỉn màu như một chiếc lá tre trôi về phía lửa cháy và súng nổ, lòng chúng tôi không yên. Chúng tôi càng thương má, càng thương Bác. Bác ơi, sắp đến ngày sinh nhật Bác. Ước chi Bác còn sống để được về với những tấm lòng như má Tư, chung thủy với Bác, với cách mạng…

Sau khi giặc rút, chúng tôi tìm gặp ngay má, nghe má kể lại lúc trở về căn chòi của má khá ly kỳ. Má vừa cập bến đã thấy bọn lính rằn ri đang uống nước dừa. Ngọn lửa mới bén vách lép bép. Má chạy ào đến lấy thau té nước, vừa té má vừa nói:

- Các người thật độc ác. Có mỗi căn chòi của bà già cũng đốt.

- Bà nuôi Việt Cộng!

- Nuôi cái gì, thân già sắp xuống lỗ, nuôi thân không đặng còn nuôi ai. Mà tôi nói các cậu hay, trong chòi của tôi có ảnh thờ Cụ Hồ, các cậu mà đốt cháy là có tội lắm đấy.

- Bà yên tâm đi, tôi dời ảnh Cụ ra gốc cây kia kìa – Một người lính nói và chỉ tay về phía cây sa bô chê (hồng xiêm).

Má tất tưởi đi về phía cây, thấy ảnh Bác nằm giữa chạc ba, má nói:

- Cụ Hồ là thánh, là con trời, cụ cứu nhân độ thế mọi người, ai đụng đến cụ là trời phật không tha đâu.

Tôi kể lại chuyện ấy và hỏi Trường Giang có biết sự việc ấy không. Trường Giang tươi tỉnh hẳn lên:

- Thưa ông, chính em là người dời ảnh Cụ Hồ ra và nói với bả như thế.

Tôi tin Trường Giang nói thật, tôi hỏi:

- Vì sao anh làm như thế?

Một lát suy nghĩ như cố hình dung lại câu chuyện đã qua, Trường Giang nói:

- Ông thiếu tá ra lệnh cho chúng em phải đốt phá sạch mọi thứ để Việt cộng không còn đường sống. Em chỉ nghĩ, nếu chòi cháy ảnh Cụ Hồ cũng bị cháy, mà Cụ là người rất linh thiêng, cha già dân tộc…

Tôi cảm nhận được sự thật thà trong những câu nói của Trường Giang.

*

… Các diễn biến của cuộc càn quét năm ấy cũng chưa dừng ở đấy. Theo phán đoán của chúng tôi, sau khi nghỉ trưa, thế nào địch cũng kéo quân qua kinh 5 và ngọn Cán Gáo để hội quân và nghỉ đêm.

Chúng tôi gài một quả mìn cơ-lây-mo trên một nền nhà cũ, chờ giặc đi qua sẽ “thổi” một cú bất ngờ. Vì lực lượng của chúng tôi chỉ có 5, 6 tay súng, chúng tôi dùng kế đánh “vét đuôi” chứ không “đỡ ngực” đề phòng đụng độ với lực lượng mạnh của địch. Mấy tràng tiểu liên cực nhanh vang lên, chúng tôi biết cuộc hành quân buổi chiều của chúng đã bắt đầu.

Nhìn thấy đám lính đi trước quả mìn, tim tôi đập thình thịch, chờ tốp cuối cùng. Tôi nói với Tâm khi nào tôi khoát tay thì chập điện.

Tốp lính cuối cùng lố nhố 6, 7 tên cụm lại trước họng mìn. Miệng tôi khô đắng chuẩn bị hạ lệnh, thì đột nhiên tôi nhìn thấy má Tư đứng ngay trước họng mìn, lẫn vào giữa đám lính.

Một thời cơ rất hiếm để tiêu diệt địch, nhưng lại xuất hiện một tình huống có cả má Tư ở đó. Tôi không biết má nói gì nhưng thấy má chỉ trỏ phía trước. Toán lính lội xuống kinh đi sang bờ bên kia. Má còn đứng lại một lát sau mới đi về chòi. Tôi bò lại phía Tâm.

- Sao không đánh? – Tâm hỏi.

- Có má Tư ở trước họng mìn, đánh sao được.

Tối hôm ấy, tôi nói, nếu không có má chúng con đã quét sạch mấy tên lính. Má nói nếu đổi má lấy mấy thằng lính thì lời quá rồi, má không ân hận. Tôi nói, không đánh trận này thì đánh trận khác, lo gì. Má chết ai nuôi chúng con.

Má rưng rưng nhìn chúng tôi. Má kể, có thằng coi cũng dễ thương nó hỏi má đường tắt qua kinh 5 mà không phải qua ngọn.

Má chỉ cho nó cứ theo đường câu là đường thẳng tới kinh 5. Nó chính là thằng đem ảnh Bác Hồ ra gốc cây, nó sợ cháy ảnh Bác.

Tôi nhớ lại chuyện ấy bèn hỏi Trường Giang: “Anh nói gì với bà già?”. Trường Giang nhớ lại và nói anh ta hỏi đường tắt qua kinh 5, tránh đi theo ngọn vừa xa, vừa khó lại nguy hiểm. Anh ta kể lại bà già còn cẩn thận dẫn đường cho anh ta, chỉ vài chục bước chân liền gặp đúng đường đi anh ta ra hiệu biểu bà quay về.

Tôi hỏi:

- Anh có biết ai cứu mạng anh hôm ấy không?

- Dạ, hôm ấy không “đụng trận”.

- Anh nhầm. Chính bà già ấy đã cứu mạng các anh. Lúc đó các anh đang đứng trước họng mìn cơ-lây-mo của tôi, vì có bà má mà tôi không ra lệnh chập điện.

Mặt Trường Giang tái đi thật sự, đôi môi run run, lắp bắp:

- Mô Phật. Chúng em đội ơn “bả”. Đội ơn cả ông nữa.

Tôi cho Trường Giang địa chỉ của bà má Tư để có dịp anh về cảm ơn bà và chúng tôi cũng chia tay nhau luôn, không còn liên hệ gì nữa.

*

… Mấy năm trước tôi thu xếp công việc, trở lại thăm vùng U Minh nơi tôi gắn bó bao năm với cô bác.

Cảnh vật thay đổi quá nhiều. Lớp người quen trước đã nghỉ hưu gần hết. Lớp cán bộ sau chỉ biết chúng tôi qua lời kể. Anh Năm Hưởng chủ tịch UBND huyện An Minh cùng anh Bảy bí thư huyện ủy tổ chức cho tôi đi vòng quanh huyện bằng tàu cao tốc, vừa đi các anh vừa chỉ những nơi chúng tôi đóng quân ngày xưa, những chỗ đồn giặc lấn chiếm vùng giải phóng của ta hồi ấy.

Tôi nói anh Năm Hưởng cho tôi đến thắp nén nhang trên mộ má Tư.

Khi đến nơi, ở bến đã đậu một chiếc vỏ lãi (loại xuồng máy thân dài). Trên nền mộ má lố nhố bóng người dáng dấp thành phố. Má Tư trong họ hàng, anh Năm gọi bằng dì, nên anh cũng rất ngạc nhiên với tốp người lạ.

Bước lên bờ, trong số những người lạ ấy, tôi thoáng thấy gương mặt người đàn ông đã đứng tuổi và chợt nhớ đến câu chuyện tôi đã kể với anh ta. Tôi quả quyết đó là Trường Giang. Anh ta cũng nhìn chúng tôi… rồi anh ào đến bên tôi như một người quen biết từ lâu. Anh gọi vợ, con trai, con gái cũng có mặt trong đoàn đến. Các con anh đã trưởng thành, đều học xong đại học, có công ăn việc làm. Chắc đi cùng còn có con dâu và con rể tương lai. Anh giới thiệu vợ con anh với chúng tôi. Anh nói, anh vẫn nhắc với vợ con anh rằng, anh được một bà già ở U Minh trong một cuộc ruồng bố đã cứu mạng cho anh. Tôi nghĩ, chắc ăn nên làm ra, nay vợ chồng con cái anh đến đây tạ mộ. Anh cúng má cả một con heo quay, bánh hỏi, hoa quả.

Tôi kể vắn tắt với anh Năm và anh Bảy về trường hợp người lính ngụy ngày đó đã dời ảnh Bác ra khỏi chòi lá của má Tư sợ lính đốt cháy chòi, cháy ảnh thờ Bác Hồ và kể chuyện má Tư dẫn đường tắt cho anh sang kinh 5. Tốp lính đứng trước quả mìn định hướng nhưng có má, tôi không cho chập điện, hôm nay vợ chồng con cái mới đến tạ mộ má. Chúng tôi mời cả gia đình anh về văn phòng UBND huyện.

Trước khi đi, tôi dẫn mọi người đến cái nền nhà cũ ngày xưa. Tôi chỉ chỗ Trường Giang cùng tốp lính đứng trước họng mìn. Tôi chỉ chỗ đặt quả mìn, cách chỗ Trường Giang chừng 2m. Tôi nói trước khi về thành phố, tôi cho nổ quả mìn ở một hố bom để bắt cá.

Nghe đến đấy, Trường Giang sụp xuống đất lạy tôi 3 lạy. Cả vợ con anh ta cũng dợm chân định làm theo.

Tôi đỡ anh dậy:

- Anh đừng làm thế. Anh tạ mộ má Tư của chúng tôi là đủ rồi.

Một lát sau tôi nói thêm:

- Đúng ra anh được Bác Hồ phù hộ độ trì đấy.

Tôi nói thế vì lâu nay tôi cứ nghĩ đến cái sống, cái chết trong chiến tranh. Có những ứng xử của con người dường như được điều hành từ một thế giới siêu phàm nào đó mà không ai giải thích được. Trường hợp của Trường Giang có thể là một ví dụ chăng?

Sau khi hình dung lại mấy lần gặp Trường Giang tôi bỗng phát hiện ra một quy luật. Cả ba lần gặp ấy đều xảy ra vào tháng 5, tháng có ngày sinh nhật Bác. Lần thứ nhất chúng tôi nhìn nhau qua họng súng. Những lần sau rất ngẫu nhiên nhưng vẫn liên quan đến sự kiện mà người lính ngụy chỉ phản ứng như một sự vô hình.

Và lần này lại liên quan tới việc Trường Giang ra thăm lăng Bác đúng dịp kỷ niệm 30/4, 1/5 và sắp tới kỷ niệm ngày sinh của Bác.

Tôi lấy tờ tạp chí Sài Gòn Tiếp Thị ra đọc lại một bài viết về một doanh nhân bắt đầu sự nghiệp của mình bằng hai bàn tay trắng, trong cảnh thất nghiệp.

Bài báo kể chuyện một người đi xin việc làm, đến đâu cũng bị từ chối. Trên đường đi xin việc, tình cờ lượm được chiếc mũ bảo hiểm ai đánh rơi còn mới nguyên. Anh đem mũ đi bán, cửa hàng trả cao nhất cũng chỉ tới 20 ngàn đồng, trong lúc một chiếc mũ gần 200 ngàn đồng, gấp 10 lần giá họ trả. Anh về nhà tỉ mẩn tháo từng bộ phận rời ra rồi đem đặt làm mỗi nơi một bộ phận, nếu ráp lại thành chiếc mũ giá thành cũng không bằng một nửa giá họ bán. Họ ăn lãi kinh khủng. Anh đi chào hàng với giá rẻ và được các cửa hàng hào hứng chấp nhận. Thế là những chiếc mũ đầu tiên được tiêu thụ.

Từ đó, cơ sở sản xuất của anh ngày càng phát triển. Anh giải quyết công ăn việc làm cho hơn 50 lao động. Anh làm từ thiện cả ngàn chiếc mũ cho vùng sâu, vùng xa. Cái thương hiệu mũ bảo hiểm xe máy Trường Giang được nhiều thị trường chấp nhận. Thật không ngờ người chủ doanh nghiệp ấy là Trường Giang mà tôi vừa gặp và lần nào gặp lại cũng vào chính tháng 5 như thế này.

Tôi lan man suy nghĩ. Từ ngày toàn dân ta ở cả hai miền Nam Bắc đều một lòng biết đến ngày 19/5, ngày sinh của Bác Hồ, vận mệnh đất nước ta có những thay đổi cực lớn và số phận mỗi con người cũng có những đổi thay lạ lùng, những đổi thay đi gần đến sự hoàn thiện của lòng nhân ái.

Và tôi chờ đón cuộc gặp mặt với Trường Giang, lần này ở quê nhà Thái Nguyên của tôi trong cái nắng tháng 5 vàng óng bầu trời.

Lê Thế Thành
(Phường Quang Trung, TP.Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 402

Ý Kiến bạn đọc