Tản văn

Những chiếc lá tuổi thơ

Tuổi thơ của tôi là những ngày tháng vất vả nhưng vui và nhiều ý nghĩa. Nhà có 4 chị em. Năm ấy tôi học lớp 3 (hệ 10 năm), bố phân công tôi và chị mỗi người nấu một bữa cơm. Ngoài ra, chị tôi lo tắm rửa cho hai thằng em. Còn tôi, nhiệm vụ tiếp theo là thu gom lá để đun nấu. Tôi nghĩ ngay đến loại lá xà cừ (còn có tên gọi là báng súng), tôi vẫn gặp trên đường đi học, nó dày và khi khô, dẫm lên nghe lạo xạo. Thế là từ lúc ấy, trong đầu tôi luôn lãng đãng màu lá vàng rơi, phiến lá từ trên cây cứ chao nghiêng, đong đưa, liệng đi liệng lại vài vòng rồi mới chịu nằm im trên bờ cỏ…

Từ nhà đến trường, tôi phải đi từ đầu làng, qua đường tầu hỏa, rồi đến đường quốc lộ trải nhựa đen sì nhẵn bóng mới tới trường. Đoạn đường khá xa, hai bên đường là những rặng cây xà cừ cổ thụ, lá xanh mướt quanh năm. Không như các loài cây khác trút lá hàng loạt, để lại thân cành trông khô khốc như bàng hay xoan, xà cừ chỉ thay phiên nhau trút lá, tạo cho bóng cây lúc nào cũng có màu xanh. Khi những phiến lá bầu dài, tròn ở đầu vàng lại, là lúc nó rụng xuống để thay lá mới.

So-499--Anh-minh-hoa---Nhung-chiec-la-tuoi-tho---Anh-1

Bố làm cho tôi một cái xiên dài bằng tre vót nhẵn nhụi, nhọn một đầu để tôi mang đến trường. Tới trường, tôi nhìn quanh xem có ai để ý không rồi mới giấu cái xiên một chỗ trước khi vào lớp. Lúc tan học trên đường từ trường về nhà, tôi dùng xiên chọc những chiếc lá xà cừ khô, đẩy dần lên phía tay cầm… Hết đoạn đường có hàng cây, tôi đã có một xiên dài chặt ních lá xà cừ khô giòn, mang về là nấu đủ một bữa cơm. Vẫn còn một bữa cơm chưa có lá để đun, nên thỉnh thoảng tôi mang cuốc ra sau nhà dẫy cỏ. Ở bên sườn đồi rất nhiều cỏ chân rết, phơi khô mang về đun rất đượm. Loài cỏ này còn có tên gọi là cỏ may. Vào mùa, cỏ lên hoa, cọng hoa vươn dài, đầu trên cùng là hoa nở xòe ra, khi già nó có thể bay theo gió rồi đậu ở một nơi nào đó để sinh tồn rất mạnh mẽ. Hoặc có người bước qua là bám chặt vào ống quần người ta một cách bướng bỉnh. Mỗi lần giẫy loại cỏ này là mỗi lần về nhà tôi phải nhặt nó ra một cách khổ sở. Nhìn hai ống quần bê bết, dày cộp vì cỏ bám, tôi ngán ngẩm mang dao ra cạo cho nhanh, rồi mới nhặt những cỏ may còn bậu lại… Mãi sau này lớn lên, tôi mới biết hoa cỏ may còn có một tên gọi nữa là cỏ đĩ. Loài cỏ này đã đi vào huyền thoại, biểu đạt sự buồn thương, nuối tiếc của một mối tình… Còn lúc ấy, thấy nó là tôi phạt không thương tiếc. Nhưng tôi cũng thích loại cỏ này vì khi khô, nó dễ đun hơn lá xà cừ nhiều.

Tuổi còn bé, giẫy cỏ với tôi lúc ấy là một việc làm khá tốn sức. Thường cứ giẫy được một đám cỏ xong là tôi mệt nhoài. Tôi lăn mình ra thảm cỏ, thở phì phò. Nhiều khi gió hiu hiu thổi, tôi ngủ quên lúc nào không hay. Có lần lúc bố đi làm về chưa thấy cơm nước gì, bố chạy ra sau nhà tìm, thấy tôi vẫn đang ngủ ngon lành, cái cuốc vắt ngang qua người, tay vẫn giữ khư khư cán như sợ mất trộm… Tôi tỉnh giấc khi nghe tiếng bố gọi, thấy trời đã nhá nhem liền vùng dậy về tính chuyện cơm nước, nhưng một mâm cơm đã bày sẵn: bát canh rau tập tàng nấu nước cua muối, đĩa cà pháo nén, bát lạc rang. Bố xúc lạc rang vào bát cơm cho mấy chị em, nhìn tôi trìu mến…

Những ngày nghỉ học cuối tuần, tôi không đi giẫy cỏ nữa. Đầu làng có một cây xà cừ cổ thụ, rất nhiều lá rụng. Tôi mang một cái chổi tre đến gốc cây để quét thu lá lại. Sau đó cho vào một cái bao to. Những bao lá xà cừ khô chỉ cồng kềnh chứ không nặng lắm. Tôi một mình kéo từng bao ven theo triền cỏ về nhà mà không nhờ chị, vì chị còn phải trông coi hai thằng em nghịch như quỷ sứ. Do hoàn cảnh gia đình, từ bé trong tôi đã hình thành tính tự giác và không ỷ lại. Tôi đã quen và thích tự làm hết những việc của riêng mình một cách thích thú, nên bao giờ cũng được bố khen. Những lần đi làm về sớm, thấy tôi chưa chuyển hết lá, bao giờ bố cũng muốn làm cùng với tôi. Bố mượn một cái xe ba gác của hàng xóm, mỉm cười chất những bao lá khô lên xe, và bao giờ cũng dành cho tôi một lời khen: “Con giỏi lắm”. Lời khen của bố làm tôi rất vui, nó như một liều thuốc bổ thần tiên làm tiêu tan hết mệt nhọc. Bố đi đàng trước cầm càng kéo xe, còn tôi đi sau đủn. Trong những lúc như thế, bố thường kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích “Ngày xửa, ngày xưa…”. Rồi hai bố con cười rổn rảng rất vui. Những lúc ấy, bố thường dặn dò: “Con gắng học giỏi, sau này có một cái nghề cho đỡ vất vả”. Tôi ghi nhớ lời bố dặn, chăm chú nghe cô giáo giảng trên lớp để nắm vững bài, đỡ rất nhiều thời gian học ở nhà. Những công việc nhà ấy chiếm gần hết quỹ thời gian của tuổi thơ tôi, nó trở thành một dấu ấn đậm sâu không bao giờ phai mờ trong trái tim tôi. Những lúc xoay trần với việc nhà như thế, mồ hôi nhễ nhại, tôi luôn nghĩ về một cái đích còn rất xa xôi, nhưng thật lung linh… Tôi ước mơ trở thành cô giáo, trong cái áo sơ mi màu trứng sáo, tết hai cái đuôi sam vắt về đàng trước, như hình ảnh cô giáo tôi bấy giờ. Ngoài những bài giảng trong chương trình, tôi sẽ kể cho học trò của tôi nghe câu chuyện đào giun bắt dế chăn gà. Chuyện nấu cơm bằng lá, bếp lúc tắt lúc đỏ, phải dùng cái ống bằng tre thổi phù phù lửa mới bùng lên được. Chuyện về chiếc lá xà cừ vàng tươi lảng bảng lượn mấy vòng trên cao, rồi từ từ đậu lặng yên trên thảm cỏ xanh. Kể về những tia nắng xuyên qua đám lá trên cành, nhấp nháy chiếu xuống nơi yên nghỉ của phiến lá vàng như một lời tiễn biệt, đầy lưu luyến và cảm thông. Kể về tâm trạng của những tia nắng ấy mong ở phiến lá vàng đã rụng kia ngày gặp lại trong hình hài những phiến lá mới tươi non… Tôi muốn các học trò của mình hiểu: Hình như, những đám cỏ may bên đường bám chặt người qua lại kia, nó chơi vơi như đang chứa đựng linh hồn một con người, nó muốn níu kéo, bám chặt một điều gì đấy rất linh thiêng để gìn giữ một tình quê? Cứ thế, càng gắn bó sâu đậm với tuổi thơ bao nhiêu, tôi càng muốn bung ra, muốn thoát khỏi một điều gì đấy chưa thể lý giải nổi thành lời, thấy khát khao, thôi thúc…Sau này, mỗi lúc có dịp trở về nơi cũ, tôi lại đi dọc con đường có hàng cây xà cừ mát rượi ấy, bồi hồi nhớ những ký ức thuở nào. Tôi nhớ như in cái cảm giác sung sướng khi dang rộng hai tay tuốt những cái lá xà cừ khô cong ra khỏi cái xiên dài, một đống lá khô lù lù hiện ra trước mặt… Tôi bỗng cảm thấy sự cần cù, nhẫn nại đã mang về thành quả lao động cho mình, cho gia đình mà vui sướng vô cùng…

Chính vì thế, sau này trở thành cô giáo, mỗi khi học sinh trả lời câu hỏi đúng, bao giờ tôi cũng nhớ lời bố nói năm xưa, nghẹn ngào khen: “Em giỏi lắm”. Và bây giờ, nếu những đứa cháu của tôi ngoan hay làm được việc gì, tôi cũng dành cho chúng những câu khen tặng: “Ngoan lắm” hay “Giỏi lắm”. Vì hơn bao giờ hết, từ tấm bé, chính bố đã truyền cho tôi một niềm tin: Con người dù trong hoàn cảnh nào mà làm tốt công việc của mình, đều xứng đáng được ngợi khen. Đấy là thái độ trân trọng công sức của người khác. Họ sẽ tự tin, phấn khởi làm tốt hơn công việc của mình. Tôi đã mang lối hành xử ấy của bố vào cuộc đời mình từ khi lớn khôn, và nhất là khi bước vào nghề dạy học…

Bao năm qua, mỗi lần nhìn thấy lá xà cừ rơi ven đường, thấy làn gió thổi làm lao xao những chiếc lá, hay nhìn đám lá khô bay là là rồi cuốn đi trong cơn gió bất chợt thổi về, trong tôi cứ run lên khi nghĩ về những ký ức đã qua… Giờ đây không còn nhìn thấy ai quét hay xiên những cái lá khô mang về đun cho khói um nhà cửa, và đen xì nồi xoong nữa, nhưng trong tôi cứ bâng khuâng khi nghĩ về số phận của những chiếc lá khô ấy sẽ đi đâu về đâu?

Vào một ngày tươi xanh, nắng vàng ươm dát lên bóng hàng cây một màu huyền thoại. Tôi đi trong một miền nhung nhớ, thầm thì lời tạ từ với phiến lá vàng vừa chợt rụng xuống gót chân. Bất chợt tôi thấy mình thật nhỏ bé khi dõi mắt theo một cành xà cừ đang vươn ra như che chở nắng gió cho mình. Trên cành cây ấy, những chiếc lá mới óng lên một màu mật ong, quyện cùng với chùm lá già đang xanh nhưng nhức một màu rất đậm của thời gian…

Lưu Thị Phụng
(Lục Ngạn – Bắc Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 499

Ý Kiến bạn đọc