Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những câu chuyện về thơ và… báo

Thơ Đưa Tôi Đến Với Báo

Năm 1947 là thời kỳ gay go nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn tay sai ở Khánh Hòa. Với chủ trương “đánh mạnh, thắng nhanh”, địch tập trung một lực lượng quân sự lớn liên tục càn quét, đánh phá vùng giải phóng và vùng tranh chấp nhằm đẩy cán bộ và du kích, bộ đội địa phương lên núi, xa rời nhân dân để chúng tha hồ “làm mưa làm gió” với đồng bào. Trước tình hình hết sức nghiêm trọng ấy, tỉnh có chủ trương bằng mọi giá phải phá thế “tách cá khỏi nước” của địch với chủ trương “TIẾN VỀ LÀNG” nắm lại dân, xây dựng lại phong trào.

Lúc này tôi đang làm Trưởng ban Thông tin – Tuyên truyền xã Vạn Thắng (Ninh Hòa) là quê tôi, nơi có căn cứ của xã ở ven rừng. Ban ngày địch lùng sục liên tục, tôi cũng như anh chị em lãnh đạo của xã mỗi người phải bám hầm bí mật riêng của mình, sẵn sàng súng và lựu đạn nếu bị phát hiện. Đêm đến lại tập trung lại, chia từng bộ phận nhỏ hai, ba người bí mật, vượt rừng, vượt đồng vào nhà cơ sở, nhiều lúc không vào được vì bị địch phục kích, nhiều anh chị em bị thương và hy sinh.

Thương gia đình, người thân bị bao vây, kềm kẹp, thương đồng bào như rắn mất đầu, tôi đã viết 4 câu thơ thay lời người dân gởi cán bộ, chiến sĩ trên rừng:

“Khói ai phơ phất bên đèo
Phải người chiến sĩ nấu cơm chiều đó không?
Quê làng người đợi, kẻ trông
Sao anh chưa xuống núi để em mong ngày ngày”…

Tu-trai---Nguyen-Chi-Hieu-Diep-Minh-Tuyen-Chim-Trang-Bao-Dinh-Giang-Bui-Kinh-Lang-Anh-Duc-Giang-Nam
Từ trái: Nguyễn Chí Hiếu – Diệp Minh Tuyền – Chim Trắng – Bảo Định Giang- Bùi Kinh Lăng – Anh Đức – Giang Nam

Ảnh chụp trong chiến khu năm 1970

Dưới bài thơ tôi ký tên Giang Nam, bút danh mà tôi đã chọn 2 năm trước khi Khánh Hòa bước vào cuộc chiến đấu chống Pháp, sau Sài Gòn đúng 1 tháng (23/10/1945). Tôi gởi bài thơ “quê mùa” ấy về báo THẮNG của tỉnh, không hy vọng nó được đăng. Bất ngờ làm sao, trong số báo kế tiếp bài thơ được in trang trọng lên trang 3, bên cạnh những bài thơ của nhiều cán bộ, đảng viên, bộ đội… hưởng ứng chủ trương của tỉnh. Đặc biệt ở trang 1 có đăng bài “TIẾN VỀ LÀNG” của tác giả Trọng Minh – một bài rất hay, rất tình cảm nhưng cũng rất kiên định không thua gì những bút ký, tùy bút… của nhà văn Nga nổi tiếng I-ly-a Ê-ren-bua kêu gọi căm thù và tiêu diệt phát xít Hít-le mà tôi đã đọc hồi còn đi học.

Bất ngờ thứ hai cách đó chừng vài mươi ngày là thư của Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh gởi huyện Ninh Hòa nhờ thông báo cho xã Vạn Thắng và cho tôi (kèm theo quyết định điều tôi từ xã về tỉnh để bổ sung cho báo THẮNG).

Do bận nhiều việc (tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân chống giặc, đối phó với địch càn quét, khủng bố…) nên mãi đến tháng 5/1948 tôi mới mang ba lô, vượt Hòn Lớn về “trình diện” với Ủy ban tỉnh. Ba người đầu tiên mà tôi được tiếp xúc là bác Tôn Thất Vỹ (chủ tịch) và các anh Lý Văn Sáu, Võ Văn Sung. Bác Vỹ – sau này đổi lại Nguyễn Minh Vỹ – chính là Trọng Minh, người Chủ nhiệm báo đầu tiên. Hai anh Lý Văn Sáu và Võ Văn Sung là những trí thức trẻ rất nổi tiếng sau này phụ trách toàn bộ công việc tòa soạn.

Nghe các bậc đàn anh kể lại vì sao quyết định điều động tôi về báo, tôi vô cùng xúc động và khâm phục cách phát hiện “tài năng” của tập thể này. Đặc biệt lời phát biểu của bác Tôn Thất Vỹ: “Khi nhận được bài thơ của cậu đẹp như một câu ca dao xói vào lòng người, mình có nói với hai bạn thân thiết: có lẽ người chúng ta tìm lâu nay giờ đã có. Hỏi huyện Ninh Hòa về tác giả, các đồng chí trả lời: Giang Nam đã học trường Quốc học Qui Nhơn, đã lấy bằng thành chung năm 1945, mình rất vui. Báo THẮNG là báo của Đảng mà khô khan quá, thiếu sức hấp dẫn, khó đi vào lòng người đọc. Cần một nhà văn hay nhà thơ chuyên lo về mảng văn hóa, văn học – nghệ thuật của báo. Báo cần có trang văn nghệ riêng với những tác phẩm hay, xúc động lòng người. Chúng tớ dành phần việc này cho cậu đấy”. Tôi lúng túng, nhận lời quên cả những gì mình định nói.

Điều bất ngờ cuối cùng đối với tôi – một anh cán bộ xã 19 tuổi, chưa phải đảng viên – là gần 3 tháng sau khi về tòa soạn, trang văn nghệ được bạn đọc nhiệt liệt hưởng ứng, nhiều bài thơ, truyện, bút ký ra mắt bạn đọc tạo được phần nào bộ mặt mới… thì tôi được kết nạp vào Đảng. Hai đồng chí cũ giới thiệu tôi là các anh Lý Văn Sáu và Võ Văn Sung; người xét duyệt và chuẩn y là đồng chí Tôn Thất Vỹ, Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Khánh Hòa, tất cả đều là thành viên lãnh đạo của báo THẮNG.

Các bạn bè tôi ở Khánh Hòa sau này thường nói vui: “Thơ mở cửa cho ông đi vào nghề báo” và “một câu ca dao làm nên một nhà báo, ông sướng thật!”. Tôi chỉ biết cười, nhưng cảm thấy các anh chị ấy đã nói đúng sự thật.

Báo Của Ta Hay Của Địch?

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tôi được lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa lựa chọn ở lại, không đi tập kết và giao nhiệm vụ cùng với đồng chí Mai Xuân Công, Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Bí thư Thị ủy Nha Trang, chỉ đạo bí mật báo Gió Mới do Tỉnh ủy có chủ trương thành lập. Đây là một tờ báo xuất bản công khai, lợi dụng khả năng hợp pháp để hoạt động. Một số trí thức yêu nước ở Nha Trang đứng tên xin phép chính quyền Sài Gòn (trong số này chúng ta đã cài một số nòng cốt là đảng viên). Tòa soạn đặt tại số 8 đường Hoàng Tử Cảnh (tức đường Hoàng Văn Thụ bây giờ). Với tư cách là một tờ báo chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… báo Gió Mới chủ trương ủng hộ hòa bình, chống chiến tranh, ủng hộ Hiệp định Giơnevơ, Hiệp thương tổng tuyển cử để “Bắc Nam sum họp một nhà”.

Quả thật tôi chưa từng làm một tờ báo nào như thế. Phải né tránh việc gây căng thẳng với ngụy quyền, phải đăng những bài, những tin họ bắt các báo phải đăng, nhưng đồng thời phải mạnh mẽ dựa vào dân, lên án chủ trương “Bắc tiến, giải phóng miền Bắc khỏi ách Cộng sản” của bọn phản động thân Mỹ hò hét hàng ngày. Đồng thời phải quan tâm đấu tranh cho những quyền lợi dân sinh, dân chủ của đồng bào trong tỉnh. Đặc biệt phần văn hóa – văn nghệ (thơ, tùy bút, truyện ngắn, bút ký…) phải thật đặc sắc, đi vào lòng người.

Không thể từ chối vì tôi đã làm báo THẮNG nhiều năm, có kinh nghiệm nghề báo… Tôi tự an ủi mình: mình làm thơ, viết văn có ai dạy cho đâu mà vẫn làm được. Lại có anh Cống và các bạn trí thức yêu nước gợi ý, nhất định mình không chịu thua đâu!

Báo Gió Mới lúc mới ra đời đã gây một sự chấn động lớn. Lần đầu tiên, Khánh Hòa có báo công khai, có lẽ chỉ thua thành phố Sài Gòn. Báo lại có quy mô khá lớn: dày 30 trang, khổ 24×30, in 5.000 số mỗi kỳ, trong đó gởi Sài Gòn 3.000 số. Bìa in ốp-sét màu khá đẹp.

Một năm rưỡi tồn tại (từ tháng 5/1955 đến tháng 12/1956) với 12 số báo, bao lần anh Cống và tôi suýt bị bắt, bao lần mật vụ của địch đến kiểm tra tòa soạn, kể cả đăng lời nhắn muốn gặp Châu Giang, Hà Trung (là bút danh của tôi trên Gió Mới) tại tòa soạn. Nếu không có một anh phu xích lô đến gặp tôi tại hãng của tôi làm để nói nhỏ một câu: “Trên cấm chú đến tòa soạn Gió Mới, địch sẽ bắt chú” thì tôi chắc chắn đã bị vào tù rồi.

Đó là những ngày cực kỳ nóng bỏng, sôi động mà tôi không bao giờ quên. Đó còn là sự thể nghiệm văn học yêu nước công khai trong lòng địch, với tất cả sự phong phú đa dạng của nó trong tình hình ta và địch xen kẽ lúc bấy giờ.
Có một câu chuyện vui mà tôi xin dành để kết thúc bài viết này.

Lúc báo Gió Mới mới ra được vài số đầu tiên, đồng chí Mai Văn Cống bí mật hẹn tôi gặp anh trong một quán cà phê không xa nơi xưởng cưa mà tôi là thợ. Anh nói: “Tỉnh ủy và Thị ủy rất vui mừng vì tờ báo rất hấp dẫn, rất hay. Ngay cả một số trí thức, giáo viên, văn nghệ sĩ, cũng như số sĩ quan, công chức làm việc cho địch đều mua báo và chuyền tay cho nhau đọc. Cơ sở của mình và anh em bám rừng đều mê tờ báo. Tuy nhiên, anh chị em ta có một băn khoăn: Nó là của ai? Ta hay địch? Anh em nói: địch có thể lợi dụng uy tín của một tờ báo tư nhân để lừa dối dư luận, lôi kéo quần chúng. Giang Nam có cách nào khẳng định đây là tờ báo tiến bộ do Đảng lãnh đạo không?”.

Tôi suy nghĩ mấy đêm liền và viết bài thơ “Nhớ Khánh Hòa”, lấy tư cách là một người con của quê hương trôi dạt vào Sài Gòn, nhớ về quê mẹ. Bài thơ gởi tòa soạn vẫn lấy tên Châu Giang, một cây bút quen thuộc của báo. Bài thơ chiếm trọn bìa trang 4 của Gió Mới. Tôi trích một vài đoạn:

… Vòm trời Đèo Cả sóng xao
Rừng dương Đại Lãnh rạt rào gió khơi
Nhớ đường Dốc Mỏ chơi vơi
Nhớ Tu Bông lúa vàng phơi nắng đồng

*

Ninh Hòa đất rộng, người đông
Sông Dinh uốn khúc mấy vòng yêu thương
Muối Hòn Khói, ruộng Đồng Hương
Hòn Hèo mây bạc, nước nguồn Cửa Bô

*

Nhớ người vợ trẻ ngày xưa
Chồng đi, son sắt đợi chờ tháng năm
Vĩnh Xương dừa đậm màu xanh
Xuồng câu Cửa Bé, chiếc mành Cù Lao

*

Về Diên Khánh nhớ mưa rào
Đá Đen vòi vọi rừng cao tiếp rừng
Đại Điền mía ngọt, đường thanh
Thanh Minh: cam quít, chợ Thành: cá, rau

*

… Về Nha Trang nhớ phố phường
Biển xanh, xanh cả cồn dương cạnh bờ
Nhớ tà áo trắng em thơ
Giữa mùa khói lửa, ước mơ thanh bình.

Điều thú vị trong bài thơ này là những địa danh nhắc trong bài thì chỉ có người kháng chiến biết: Đèo Cả (ranh giới vùng tự do và vùng tạm chiếm Phú Yên – Khánh Hòa); Dốc Mỏ (Vạn Ninh); Hòn Hèo, Cửa Bô (Ninh Hòa); Đá Đen, Đại Điền (Diên Khánh), tất cả là căn cứ của tỉnh, của huyện trong kháng chiến chống Pháp. Và Vĩnh Xương… người vợ chờ chồng đi tập kết… Sau này anh em có kể lại: “Báo đến, anh em ta mở ra đọc ngay bài thơ trước hết. Đây là lời nhắn gởi của Đảng, của cách mạng các cậu ơi!”. Và dân mình thì phấn khởi: “Cách mạng còn ở lại với dân chứ không phải bỏ dân, như kẻ địch rêu rao”. Rồi câu hỏi tự nhiên đặt ra: Tác giả là ai? Trí thức trong thành không thể nào viết được. Còn các đồng chí ở tỉnh, ở huyện thì khẳng định: “chắc là thằng cha Tư Gương rồi” (Tư Gương là mật danh của tôi trong rừng). Riêng đồng chí Mai Xuân Cống thì bắt tay tôi (tất nhiên là trong quán cà phê, cơ sở bí mật của ta) và nói: “Cám ơn Giang Nam”.

Giang Nam
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 405

Ý Kiến bạn đọc