Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những câu chuyện rời rạc với Viễn Châu

 

Viễn Châu quê Đôn Châu

Cố Nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu là người con ưu tú của quê hương Trà Vinh trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Giới cải lương biết đến ông – trong vai trò nhạc công – là danh cầm Bảy Bá, tay đàn tranh cùng với Năm Cơ (đàn sến), Văn Vỹ (đàn guitar phím lõm) hợp nên bộ ba trứ danh trên các hãng băng dĩa nhựa, đoàn hát một thời lừng lẫy Sài Gòn. Khi sáng tác, ông lấy bút danh Viễn Châu – người con xa xứ Đôn Châu. Danh tiếng sáng tác vượt xa danh tiếng nhạc công. Chỉ riêng 2 bài “Võ Đông Sơ”, “Tình anh bán chiếu” đủ đưa tên tuổi ông vượt thời gian. Lần đầu tôi gặp ông ngay trên mảnh đất Trà Vinh là vào những năm cuối thế kỉ XX. Chân ướt chân ráo lên thành học, niềm đam mê vọng cổ cuốn tôi vào các cuộc thi “Giọng hát hay” truyền hình, Tiếng hát người lao động… Và Viễn Châu, khi đó, luôn cầm trịch trưởng ban giám khảo. Thi cử với người chưa qua trường lớp thì vui là chính. Đợi đến giải lao hoặc cuối buổi thi, tôi rề bước lại bàn làm việc của ban giám khảo, lân la lễ phép bắt chuyện, hỏi thăm sức khỏe ông. Ông trả lời ngắn, chắc, gãy gọn, giọng sáng trong đầm ấm. Có lúc, ông hỏi ngược lại thí sinh, quê quán, học đờn ca với ai, ở đâu và căn dặn phải đam mê, giữ gìn vốn quý âm nhạc dân tộc. Nghe tôi nói quê Tiểu Cần, ông hơi nghẹn trong ánh nhìn xa xăm…

Giây phút ngậm ngùi

Ánh mắt ông hình như muốn nói thêm điều gì nữa về những kỉ niệm với mảnh đất Tiểu Cần. Sau này, ngồi hầu chuyện với ông Tư Thi – cựu Giám đốc Đài truyền hình Trà Vinh, cựu Bí thư Huyện ủy – tôi mới “giải mã” được cái ánh mắt nghèn nghẹn xa xăm của Viễn Châu. Từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, soạn giả Viễn Châu thường được mời về quê nhà Trà Vinh, trước là chấm thi các hội thi ca cổ, sau là thực hiện các chương trình văn nghệ về cuộc đời và tác phẩm ông. Đó cũng là lý do ông thường trở lại đất Tiểu Cần, qua lời mời của ông Tư Thi.

Mấy mươi năm xa xứ là mấy mùa chinh chiến
Nay về Tiểu Cần lòng xao xuyến bâng khuâng
Khi ra đi đang lúc tuổi còn xuân
Ngày trở lại tóc xanh đà điểm trắng.

Viễn Châu kể, qua lời ông Tư Thi, mảnh đất Tiểu Cần gắn bó với ông từ năm tháng tuổi thơ, hồi giặc giã. Ngôi trường ông hồi đó ngồi học gọi là trường nhưng nhỏ xíu, lọt thỏm giữa cây cối um tùm. Sau này lớn tuổi, mỗi lần về thăm quê, ông hay tìm đến nghĩa trang, như lục lọi trong ký ức tên tuổi thân quen nào đó. Những hình ảnh, chi tiết trong bài vọng cổ đề tặng ông Tư Thi, Giây phút ngậm ngùi, dựa trên những chi tiết rất thật, sống động hòa quyện tâm hồn nghệ sĩ bay lên:

Trở lại quê xưa tôi nghe tâm tư ngậm ngùi bao kỉ niệm, miền đất thân yêu sau mấy lần dâu biển đã ghi đậm trong tôi muôn thuở chẳng phai mờ.

So-630--Nhung-cau-chuyen-roi-rac-voi-Vien-Chau
Soạn giả Viễn Châu.

Tôi vào tận nghĩa trang khi nắng chiều vừa nhợt bóng, kỉ niệm xa xưa bỗng dưng chợt đến khi quê hương lửa dậy bốn phương… trời… Tôi vẫn còn đây chúng bạn vắng đâu rồi. Đốt mấy cây nhang cắm lên nấm mộ, tôi đứng lặng nhìn những chiếc lá vàng bay.

Ôi Ly rượu mừng như nước mắt quê hương, giọt nước mắt mừng vui ngày tái ngộ. Uống đi bỏ lúc phong trần, giữa đất Tiểu Cần sâu nặng nghĩa tình xưa.

Tôi thích bài này vì câu chuyện được nghe và ngẫm, mỗi vùng đất soạn giả Viễn Châu đi qua, ít hay nhiều, sớm hay muộn đều đi vào vọng cổ của ông, như nỗi niềm gửi gắm quê hương Đôn Châu hay mọi miền đất nước của người con sớm rời xa xứ sở.

Lưu giữ gia tài vọng cổ

Được tháp tùng cùng nhà văn Trần Dũng thực hiện cuốn “100 bài vọng cổ Viễn Châu – Tác phẩm đi cùng năm tháng”, lòng hồ hởi quá đỗi, phần vì thỏa nguyện tiếp cận để hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác nói chung, mảng vọng cổ nói riêng của danh cầm Bảy Bá – soạn giả Viễn Châu, phần được góp sức thực hiện một ấn phẩm về người con văn nghệ tiêu biểu của mảnh đất Trà Vinh. Chuyến đi thành phố Hồ Chí Minh tiếp xúc nguồn tư liệu về soạn giả Viễn Châu của chúng tôi là chuyến đi khá thành công. Trước hết, người đại diện cho gia đình, được cố soạn giả Viễn Châu và anh em trong gia đình ủy quyền làm việc về các tác phẩm của Viễn Châu là nhạc sĩ Trương Minh Châu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cuộc thương thảo. Tuy vậy, Hội đồng tuyển chọn đối mặt một số khó khăn: nguồn tư liệu tuyển được nhiều, đòi hỏi sức đọc (để tuyển chọn) cật lực của các thành viên Hội đồng; các tác phẩm của Viễn Châu trước đây qua nhiều người đánh máy nên tần suất sai sót về câu chữ khá lớn; xuất hiện hiện tượng trùng lặp nhau ở đôi ba bài vọng cổ.

Cách lưu giữ kho tàng vọng cổ, cải lương Viễn Châu cũng đem lại đôi chút băn khoăn cho người mến mộ. Bút tích của soạn giả để lại không nhiều. Thời trước, cộng tác với các hãng đĩa, và sau này cũng vậy, ông không cố công lưu giữ. Bản thảo vừa viết tay xong thì đã có mặt tại phòng thu, bản gốc chính là bản trên bàn biên tập và trên tay nghệ sĩ đang chuẩn bị thu. Do đó, bản gốc khả năng thất lạc rất cao. Việc lưu giữ sau này, qua lời kể của nhạc sĩ Trương Minh Châu, chủ yếu qua đánh máy lại từ băng đĩa. Song số lượng các bài vọng cổ được đánh máy (khoảng 600 – 700 bài), chưa kể đến cải lương, chỉ chiếm một phần nhỏ trong gia tài ước tính hơn 2.000 bài vọng cổ của Viễn Châu. Tôi nghĩ, phải số hóa toàn bộ tác phẩm của Viễn Châu, may ra, việc lưu giữ mới vẹn toàn. Điều này đòi hỏi kinh phí và thời gian.

Ngẫm về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác vọng cổ của bậc tài danh xứ Trà Vinh và những đóng góp của ông, Trà Vinh nên làm gì? (Như nhạc sĩ Cao Văn Lầu – Bạc Liêu, nhà văn Sơn Nam – Kiên Giang đều đã có nhà lưu niệm). Tôi mường tượng, quê hương Trà Vinh sẽ sớm nghĩ đến việc này, nhà lưu niệm Viễn Châu, với khuôn viên sân vườn là những nhân vật trong các bài vọng cổ của bậc danh cầm kiêm sáng tác bậc nhất về bài ca vọng cổ (chẳng hạn Tư Ếch)… cùng với những cuộc hội thảo về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của ông.

Thơ Viễn Châu

Ông thầy dạy học người Đà Nẵng của tôi rất thích bài “Tình anh bán chiếu” của Viễn Châu. Màn ca hát trong các bữa rượu thân mật chỉ có thầy – trò hoặc thêm vài đồng nghiệp quen thì thể nào thầy cũng bắt tôi hát cho bằng được “Tình anh bán chiếu”. Chăm chú lắng nghe mà cảm nhận, mà nhập tâm để rồi đến đoạn Thơ Vân Tiên trong câu 4 sau đây thể nào thầy cũng hòa hát cùng: “Người ta đã có đôi rồi. Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung. Để mình vác cặp chiếu bông. Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ” (Tình anh bán chiếu). Bởi lẽ, tâm trạng ấy, nỗi niềm kia đâu phải của riêng anh bán chiếu mà còn là tâm trạng, nỗi niềm của bao trái tim yêu thổn thức, đợi chờ… Lại nữa, có những câu, những ý của từng bài ca đã trở thành những giai thoại hấp dẫn trong các câu chuyện làng quê Nam bộ. Soạn giả Viễn Châu có lần kể: ông đến dự đám cưới ở một vùng quê, bàn bên cạnh đang chén tạc chén thù, đến đoạn ly rượu chuyền đến anh nọ, anh bỗng cao hứng nói kháy bằng câu hát “Giết kẻ thù chớ giết bạn đành sao”. Về sau có người chế lời nhại của người đối ẩm của anh bạn đó, sau khi nghe hát thế, anh dốc bầu: “Giết kẻ thù rồi giết bạn mình luôn”. Dĩ nhiên đây chỉ là câu chuyện phiếm trên bàn tiệc nhưng chừng đó đã cho thấy sức sống của lời bài hát vọng cổ trong các sáng tác của Viễn Châu.

Góc nhỏ ít người biết về soạn giả Viễn Châu là ông cũng viết truyện, làm thơ. Báo chí Sài Gòn từng đăng truyện ngắn và thơ của ông. Sau này, truyện ngắn và thơ Viễn Châu thi thoảng xuất hiện trên Báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh. Ông viết truyện và thơ không nhiều. Có lẽ, nhiều thứ không truyền tải hết được qua những tuồng cải lương, những bài ca vọng cổ, Viễn Châu tìm đến truyện ngắn hoặc là thơ.

Tâm trạng thơ Viễn Châu đau đáu nỗi ưu hoài quê hương, cố quận:

Cánh chim về tổ chở mây xa
Cổ thụ nghiêng nghiêng dưới nắng tà
Người đẹp đi rồi, cây nhớ bóng
Ao Vuông còn đọng dấu hài hoa.

(Ao Bà Om)

Lâu lắm rồi, buổi trước
Mới mười chín tuổi đầu
Mang nỗi buồn tang tóc
Ngậm ngùi xa Đôn Châu.

Trông lên hàng cổ thụ
Hiu hắt lá vàng bay
Nhìn cây mình khẽ nói:
Ai già nua hơn ai?

Sao mi tràn nước mắt
Khi thờ thẫn trên đường
Bỗng dưng mình chợt nhớ
Vì đây là quê hương.

(Tình quê hương, 1996)

Chiêm nghiệm tình đời, tình yêu, kiếp cầm ca người nghệ sĩ là đề tài thường nhật trong thơ ông. Những bài như: Chinh chiến đây rồi biệt ải quan; Có ai còn nhớ Cẩm Giang không?; Tiễn đưa; Tâm sự loài hoa trắng; Tâm sự với lan; Tần Phi; Khóc Lạc đế; Nắn tiếng tơ đồng loạn gió thu; Dạ túy; U uất; Mấy cung đàn loạn; Nhắc làm chi nữa… Một số bài thơ, Viễn Châu viết tặng bạn, như tặng thi sĩ Kiên Giang; viếng ngày giỗ thứ 30 của soạn giả Trần Hữu Trang; tặng đôi vợ chồng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ – Lê Giang; tặng Thiện Mộc Lan; viếng hương hồn nghệ sĩ Tám Thưa; tưởng nhớ Út Trà Ôn…

Câu đối tặng Kiên Giang, Viễn Châu viết:

Tâm huyết gởi tri âm
gom mớ văn chương xây giấc mộng
Đất đai nhường trọc phú
xé chồng bản thảo lợp lầu thơ.

Ông viết thơ về chính chuyện tình của mình trong bài vọng cổ ông sáng tác:

Gió buốt về đây lạnh đất trời
Sương mờ nhỏ giọt lá thôi rơi
Con sông Ngã bảy buồn hiu hắt
Ghe chiếu Cà Mau khuất dạng rồi.

(Ghe chiếu Cà Mau khuất dạng rồi)

Những bài thơ Viễn Châu viết sớm nhất là vào khoảng năm 1949, sau vài năm ông đặt chân lên đất Sài thành. Những năm sau, khi viết vọng cổ, Viễn Châu lồng vào đó nhiều thơ, đoạn mở đầu, đoạn giữa nối câu 1, 2, đoạn giữa nối câu 5, 6, khổ cuối dứt vọng cổ, thơ rải rác khắp bài vọng cổ. Thơ trong vọng cổ là đặc sản của Viễn Châu, thiết nghĩ, có dây dưa ít nhiều từ những bài thơ đầu tiên và sau này của bậc tài danh xứ Trà Vinh.

Nguyễn Văn Hiếu
(Giáo viên THPT Hiếu Tử – Trà Vinh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 630

Ý Kiến bạn đọc