Ngoài nước

Những cái bẫy của Đại hội XX

Tháng 11/2015, Tờ Báo Literaturnaja Gazeta (Số 44, 45) Đã Cho Đăng Bài “Stalin Và Nhữnng Người Theo Chủ Nghĩa Tự Do”. Trong Bài Báo Này, Tác Giả Rostislav Medinski Đã Tuyên Bố Một Cách Xác Đáng Về Tính Phiến Diện Và Sự Nguy Hiểm Của Lối Phê Phán Quá Quắt Đối Với Stalin. Hệ Thống Khủng Bố Được Quy Kết Cho Riêng Một Mình Stalin, Còn Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Đất Nước, Chiến Thắng Oanh Liệt Trong Đại Chiến Thế Giới Lần Thứ Ii… Thì Bị Phớt Lờ.

 

Rostislav Medinski đã thể hiện quan điểm của đông đảo nhân dân ở nước ta, của những người mà chính bản thân cuộc sống đã buộc phải so sánh thời đại của Stalin với thời đại của Gorbachev. Tác giả đã lên tiếng ủng hộ sự so sánh đối với những kết quả hoạt động của hai nhân vật này. “Nhờ sự nỗ lực của Gorbachev, chúng ta đã đánh mất một đất nước vĩ đại – Liên bang Xô Viết. Đó là sự trả giá cho việc chà đạp lên lịch sử, cho việc xóa bỏ ký ức về quy mô vĩ đại của Stalin”.

Chúng tôi cho rằng luận điểm này rất đáng chú ý và chúng tôi sẽ còn trở lại bàn về nó.

Trong năm vừa qua, việc bàn luận về nhân vật Stalin có thêm một kích thích tố bổ sung nữa, đó là dịp kỷ niệm 60 năm Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô và bản báo cáo của Khrushchev.

Song, như thông lệ, tất cả những cuộc tranh cãi đều lược quy vào một chuyện vô vị: “Khrushchev đúng, Stalin là bạo chúa” hoặc “Khrushchev không đúng, Stalin là thiên tài”. Hiện nay, trong thế kỷ XXI, vì một lẽ nào đó, người ta hoàn toàn không suy nghĩ đến việc Đại hội XX đã ảnh hưởng ra sao tới chúng ta, tới những người hiện đang sống ở nước Nga ngày nay. Nói một cách khác, bản báo cáo nổi tiếng nọ đã gây nên những hậu quả nào đối với thế giới quan của chúng ta.

Những hậu quả mà nó đã gây nên đối với Stalin đã quá cố thì ai cũng thấy rõ: những tượng đài bị phá dỡ, thi hài bị đưa ra khỏi lăng, tên tuổi ông không được nhắc tới trong các sách báo khoa học và nghệ thuật. Nhưng những hậu quả của bản báo cáo của Khrushchev đối với thế giới quan của chúng ta hiện nay ra sao? Thật đáng ngạc nhiên là vấn đề này hiện nay không được sự quan tâm chú ý của những người ủng hộ lẫn những người chống lại Stalin hoặc Khrushchev. Trong khi đó, chính vấn đề về những hậu quả lịch sử lại là vấn đề then chốt trong bất kỳ một cuộc tranh luận mang tính chất khoa học hoặc phi khoa học, nhất là trong trường hợp này.

Theo chúng tôi, bản báo cáo “Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó” do Khrushchev đọc tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đã giăng ra mấy cái bẫy lịch sử khá quỷ quyệt mà tất cả chúng ta đã bị sa vào và cho đến nay vẫn không thể thoát ra được.

Cái bẫy thứ nhất ẩn náu ngay trong cái nhan đề của bản báo cáo và trong tuyến chính của nó: “Sau khi Stalin qua đời, Ủy ban Trung ương Đảng đã nghiêm khắc và triệt để thực hiện chủ trương làm sáng tỏ sự không chấp nhận việc suy tôn một cá nhân vốn xa lạ với tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, việc biến cá nhân đó thành một thứ siêu nhân mang những phẩm chất siêu nhiên giống như thần thánh”. Như chúng ta đã thấy, bị lên án ở đây chỉ là tệ sùng bái một cá nhân cụ thể là Stalin. Chỉ một mình ông bị buộc tội đã gây nên những cuộc trấn áp chính trị và tình hình bi đát của đất nước và quân đội trong năm đầu tiên của chiến tranh mà thôi.

Nhưng ở đây, theo chúng tôi nghĩ, có một câu hỏi kinh điển rất thích hợp: “Thế ai là người phán xử?”.

Khrushchev giữ cương vị Bí thư thứ nhất của Thành ủy Moskva Đảng Cộng sản Liên Xô từ tháng 1/1934 cho tới tháng 2/1938 – đúng lúc những cuộc trấn áp diễn ra rầm rộ nhất! Ông ta đã ký “theo chức trách” bao nhiêu bản danh sách những người bị hành quyết?! Bao nhiêu người vô tội bị lưu đày biệt tăm biệt tích do sự mẫn cán trong công vụ của ông ta?!

Khrushchev – cái kẻ phát giác ra tên bạo chúa vĩ đại ấy – đã hăng hái đấu tranh với “bọn Trốtskít” và với “những kẻ thù khác của nhân dân” đến mức ông ta yêu cầu Bộ Chính trị gia tăng hạn mức số lượng những người bị trấn áp đối với Moskva. Thật ra, ông ta đã nhận được sự khước từ thẳng thừng và có vẻ thô bạo của… Stalin! Của chính Stalin mà ông ta đã đổ hết trách nhiệm về những vụ trấn áp chính trị. Năm 1938, Khrushchev trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng bộ Ucraina và trong lúc Beria chưa giữ chức Dân ủy Nội vụ của Ezhov – những vụ trấn áp đã xảy ra khắp nơi ở Ucraina. Hơn nữa, những bản danh sách những người bị hành quyết, theo quy định, lại do chính Khrushchev phê duyệt. Dưới thời Khrushchev, chỉ trong vòng mấy năm, 150 nghìn đảng viên đã bị trấn áp!

Tiện thể cũng xin nói thêm rằng, tại sao việc phục hồi danh dự cho những nạn nhân của các cuộc trấn áp diễn ra sau bản báo cáo lại không đề cập tới, chẳng hạn, Bukharin và Rykov? Câu trả lời rất đơn giản: Tại vì năm 1937, Stalin đề nghị đưa những nhân vật này đi phát vãng, nhưng Khrushchev đã đưa họ ra tòa xét xử với bản án tử hình. Sau khi lên nắm quyền, Khrushchev tìm mọi cách lấy ra khỏi kho lưu trữ và tiêu hủy những tài liệu có liên quan đến danh sách những người bị hành quyết do ông ta phê duyệt. Song không thể thủ tiêu những tài liệu phơi bày hoạt động của ông ta trong những năm chiến tranh. Những kho lưu trữ quân sự là những kho tư liệu tối mật có tính truyền thống, thậm chí đối với những kẻ ngụy tạo.

Trong khi kết tội Stalin với tư cách là người chỉ huy quân sự là bất tài và hèn nhát, Khrushchev đã giấu nhẹm tội lỗi của mình (với tư cách là Ủy viên Hội đồng Quân sự tại mặt trận Tây Nam và một số mặt trận khác trong việc hồng quân bị bao vây ở gần Kiev năm 1941 và ở gần Kharkov năm 1942. Và trong việc tháng 5/1942, do quyết định sai lầm của ông ta về mở đợt tấn công nên mặt trận phía Nam bị chọc thủng, vùng Donbass bị quân Đức chiếm, và cuộc rút lui nhục nhã về Stalingrad bắt đầu. Số lượng sư đoàn bị tiêu diệt cũng nhiều như vào mùa hè năm 1941…

Thế còn những người tham dự khác tại cái đại hội tố cáo ấy thì sao?

Chẳng hạn, Kaganovich, người từng gọi Stalin không phải bằng một cái tên nào khác mà là “ông chủ”. Ông ta khởi đầu hoạt động trấn áp của mình bằng việc phấn đấu để thu mua lúa mì mà kết quả là sau mấy tháng của năm 1932, tại miền Bắc Kavkaz mấy trăm người bị chết đói và hơn 16 nghìn người bị trấn áp. Sau đó ông ta chuyển sang dùng biện pháp “di dân” và chỉ trong 3 xã cô dắc (stanisa) Poltavskaja, Medvedovskaja và Urupskaja có 45.600 người trong tổng số 47.500 người sinh sống tại đó bị di dời đi nơi khác. Trong khi tổ chức cuộc đấu tranh với những kẻ phá hoại trong năm 1937, đích thân Kaganovich đã ký vào 189 bản danh sách xử bắn hơn 19.000 “tên phá hoại”…

Không phải Stalin đã tổ chức việc sát hại gia đình Sa hoàng. Không phải Stalin đã đánh chìm những chuyến phà chở các sĩ quan bạch vệ ra đầu hàng chính quyền Xô Viết. Sau hết, không phải Stalin đã đề xuất việc ký kết hòa ước Brestsk. Vậy hà cớ chi Jakov Sverdlov và Rozalija Zemljachka được mai táng trọng thể như những vị anh hùng. Còn Stalin cũng được mai táng nhưng đến hai lần, hơn nữa, lần thứ hai – sau khi bị “tố cáo”? Và bằng cách nào việc tố cáo tệ sùng bái cá nhân Stalin lại mở rộng sang cả tệ sùng bái cá nhân Lênin khiến những tượng đài của Người cho đến nay bị hạ bệ nằm lăn lóc khắp nước Nga?!

Toàn bộ hệ thống chính quyền của những người bônsêvích, toàn bộ cái chế độ trấn áp đẫm máu của họ khởi đầu không phải từ Stalin. Stalin chỉ là một bộ phận của nó. Và tiềm ẩn ở đây chính là cái bẫy đầu tiên trong bản báo cáo của Khrushchev: phạm pháp ở đây không phải là chế độ, không phải là hệ thống chính quyền, không phải là những người tạo ra cái hệ thống đó, những người từng phá xập đế chế Nga mà chỉ là một người – đó là Iosij Stalin. Chính ông, theo thâm ý của các tác giả bản báo cáo, là một thiên tài độc ác của chính quyền Xô Viết chứ hoàn toàn không phải là bản thân cái chính quyền ấy. Theo quan điểm của các tác giả bản báo cáo và của những người kế tục họ cho đến ngày nay, hậu quả của việc tố cáo Stalin với tư cách là người gây nên mọi tai họa là một kết luận cho rằng tất cả những gì mà Stalin đã làm, đều là sai lầm, đều là tội lỗi, đều là ngu dốt, thiếu chuyên nghiệp… Bắt đầu bằng việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cho đến việc tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại: “Stalin không hiểu được tình hình thực tế trên các mặt trận”.

Đây là cái bẫy thứ hai trong bản báo cáo của Khrushchev. Sa vào cái bẫy đó, chúng ta phải lên án tất cả những gì đã xảy ra dưới sự lãnh đạo của Stalin và với sự tham gia trực tiếp của ông: việc công nghiệp hóa được tiến hành trong những năm 30, những nỗ lực ngoại giao để củng cố sự an ninh của châu Âu trong những năm 30, việc đánh bại bọn quân phiệt Nhật ở Khalkhin – Gol; việc ký hiệp ước không tiến công với nước Đức, việc tổ chức phòng thủ trong những ngày đầu và những tháng đầu của chiến tranh, việc sơ tán các xí nghiệp và nền công nghiệp, cuộc phản công ở Moskva, việc thành lập khối liên minh chống phát xít, việc nước Đức đầu hàng, việc khôi phục lại đất nước, việc chế tạo bom nguyên tử, những điều kiện để bay vào vũ trụ…

Hãy lấy một sự kiện không thể bác bỏ làm ví dụ: Stalin không rời khỏi Moskva vào mùa thu năm 1941. Ông ở lại Moskva. Thủ đô đang bị nguy ngập. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu như trong giây phút hiểm nghèo ông rời bỏ Moskva và đến thành phố Kuibyshev?! Có lẽ cũng giống như chuyện gì đã xảy ra khi Sa hoàng Nikolai đệ Nhị rời khỏi Hoàng thôn vào năm 1917, Khrushchev rời khỏi Moskva vào năm 1964, còn Gorbachev – vào năm 1991. Thủ đô có thể mất chính quyền, còn chúng ta thì mất nước.

Có gì bảo đảm cho việc những kẻ mạo danh không tuyên bố thành lập một “chính phủ nhân dân” ở Moskva để ký kết “bản hòa ước chính đáng” với chính phủ Đức theo kinh nghiệm của hòa ước Brestsk?! Bởi lẽ đối với cả nước thì Moskva bao giờ cũng là cội nguồn của quyền lực.

Như vậy là, theo bản báo cáo của Khrushchev, không phải hệ thống mà đích thân Stalin đã thiết lập chế độ quyền lực và tất cả những gì Stalin đã làm thì đều có tội. Và ở đây, chúng ta sẽ sa vào cái bẫy thứ ba: Nếu như tất cả những điều Stalin đã làm, hoặc những người khác đã làm dưới sự chỉ đạo của ông đều là sai lầm và tồi tệ thì tất cả những gì mà những người tố cáo tệ sùng bái cá nhân và những hành động tội lỗi của ông sẽ làm thì đều là đúng và hay ho.

Về việc đập phá tượng đài Stalin một cách tràn lan, về việc đổi tên các đường phố, quảng trường, cơ quan và các con tàu một cách vô tội vạ, về việc bôi nhọ “những con cưng” của Stalin (chẳng hạn, K. Simonov, tác giả bài thơ thiên tài “Đợi anh về…”) – người ta đã viết quá nhiều.

Tốt nhất là hãy nhớ lại việc cắt giảm quân số vốn gắn liền với cái được gọi là “giải trừ quân bị” – những chiếc kỳ hạm đầu đàn của Hạm đội hải quân Liên Xô sau này vốn đang ở giai đoạn sẵn sàng chiến đấu, đã bị cắt giảm 80% và biến thành đống sắt vụn. Người ta bảo rằng cường quốc tên lửa không cần đến những chiếc hàng không mẫu hạm (?!). Hãy nhớ lại “kế hoạch trồng ngô” ngu xuẩn được xây dựng một cách khoa trương và lòe bịp. Và vụ triệt hạ giới văn nghệ sĩ tại Manezh. Và chiến dịch chống tôn giáo vô tiền khoáng hậu, khi những tòa thánh đường lại bị phá dỡ và các tu viện lại bị đóng cửa…

Chúng ta sẽ không quên chính sách đối ngoại (ở đây đường lối chống Stalin của Khrushchev được triển khai khắp nơi) cùng với việc xây bức tường ở Berlin (Stalin không bao giờ cho phép làm những trò dung tục như vậy), cùng với việc đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy ở Hungari năm 1956, cùng với việc can thiệp vào mối mâu thuẫn vùng cận Đông giữa các nước Ả Rập và Do Thái, với cuộc khủng hoảng trên vùng biển Caribê suýt dẫn tới chiến tranh hạt nhân, với việc đóng băng mối quan hệ với Trung Quốc tới mức chiến tranh lạnh không tuyên bố, và, lẽ cố nhiên, với việc múa giày tại diễn đàn Liên hiệp quốc.

Và ở đây chúng ta đã đi tới điều quan trọng nhất. Chính cái bẫy này – luận điểm cho rằng việc phê phán và tố cáo Stalin sẽ đảm bảo cho sự thành công về mặt đối nội và đối ngoại – đã dẫn chúng ta tới tình cảnh hiện nay.

Ở phần trên, chúng tôi đã trích dẫn ý kiến của Rostilav Medinski về Gorbachev, kẻ đã làm sụp đổ một cường quốc vĩ đại. Nhưng sự trị vì của Gorbachev bắt đầu từ đâu? Từ việc tố cáo những chuyện khủng khiếp của Stalin (làm sao mà quên được việc tờ “Tia lửa nhỏ – Ogonek” và “Tin tức Moskva – Moskovskie novosti” phát hành hàng triệu bản gồm những bài chống Stalin bắt đầu bằng việc lên án những hành động của ông (cái được gọi là “Hiệp ước Molotov – Ribbentrop” lập tức được những phần tử theo chủ nghĩa dân tộc ở các nước vùng Pribaltich vớ lấy như một thứ bảo bối).

Tất cả ba cái bẫy trong bản báo cáo của Khrushchev thuộc dạng rõ ràng nhất. Gorbachev có lý khi xếp mình vào hàng hậu duệ của Đại hội XX. Và kết quả hoạt động của ông ta không thể là gì khác mà chính là thảm họa đối với nhà nước và xã hội.

Bản báo cáo của Khrushchev không chứa đựng chân lý. Nó, cái chân lý ấy, như mọi người đều biết, bắt đầu bằng việc tự phân tích, hay nói như các giáo dân, bằng việc xám hối. Bản báo cáo ấy đưa ra trước xã hội một chân lý bị bóp méo vốn tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ bốc thơm nó và rũ bỏ mọi trách nhiệm ra khỏi họ. Chính Khrushchev là con người như vậy, và kẻ môn đệ trung thành của ông ta là Gorbachev cũng một cốt một đồng như thế. Tục ngữ đã có câu: “Tội lỗi của người khác không khiến ta trở thành thần thánh”…

Xã hội chúng ta hiển nhiên lấy làm xấu hổ về quá khứ của mình, hơn nữa, xấu hổ về một nhân vật lịch sử cụ thể và không định lý giải xem chuyện gì đã xảy ra trong năm 1917 – và đó là một trong những hậu quả của bản báo cáo Khrushchev.

Hiện nay, làm người ủng hộ Stalin và người chống Stalin đã trở thành một cái mốt. Và đó chính là tấn bi kịch của sự phân đôi ý thức lịch sử của chúng ta. Cho đến nay, chúng ta xuất phát từ cái ngụy chân lý do Khrushchev đưa ra và chúng ta nhìn vào lịch sử của chúng ta thông qua cái ngụy chân lý ấy. Còn những mưu toan áp dụng trên thực tiễn những kết luận (những cái bẫy) trong bản báo cáo nổi tiếng – Khrushchev và Gorbachev – sẽ bị chôn vùi trong hố rác của lịch sử.

Và vấn đề ở đây hoàn toàn không phải ở Stalin. Người đã từ lâu vĩnh biệt chúng ta.

(Theo Literaturnaja Gazeta)

Petr Derkachenko (Nga)
Lê Sơn (giới thiệu và dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 572

Ý Kiến bạn đọc