Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Những bức xúc về Giải thưởng Nhà nước!

Các tác giả Lưu Khánh Thơ trên Văn Nghệ số 34 ngày 20/8/2016 và Hữu Việt trên Nhân Dân số 22241 ngày 22/8/2016 đều tỏ ra buồn, bức xúc, không “tâm phục khẩu phục” kết quả làm việc của Hội đồng cấp Nhà nước xét Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2016.

Bài của Hữu Việt tuy viết có tiểu mục, chi tiết, nêu cụ thể những người được tác giả ủng hộ… nhưng chỉ là phụ họa thêm vào bài của tác giả Lưu Khánh Thơ.

Tác giả Lưu Khánh Thơ – PGS-TS, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Văn học, từng Phụ trách nội dung tờ Tạp chí Nghiên cứu Văn học của Viện Văn học… lại tỏ ra nhiều sai lầm, nhiều lỗ hổng về lý luận và thực tiễn văn học và đời sống. Vì vậy, chúng tôi xin trao đổi chung với hai tác giả về một số vấn đề sau:

Cơ Sở, Tiêu Chí Đánh Giá Tác Giả, Tác Phẩm Văn Học

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lưu Khánh Thơ (từ đây xin viết tắt L.K.T) viết:

“Nhưng cớ sao những người nước ngoài có cách nhìn, cách đánh giá về một tác giả Việt Nam lại công bằng hơn, chính xác hơn những người có trách nhiệm “cầm cân nảy mực” đánh giá, xếp hạng giá trị của nền văn học chúng ta” (VN, số đã dẫn).

Với một PGS-TS, Nghiên cứu viên cao cấp thì không nên xem nhẹ những lỗi về logic hình thức. Đánh giá về một tác giả rất khác với đánh giá, xếp hạng giá trị của nền văn học (của chúng ta). Khác về phạm vi khảo sát và cấp độ đánh giá. Đó là sự thường. Việc gì phải buồn, bức xúc về một sự bình thường!

Về một tác giả Việt Nam, tuy L.K.T không nói rõ tính danh tác giả này nhưng qua cách diễn giải của cả hai tác giả, dễ dàng nhận ra đó là tác giả Bảo Ninh, mà chủ yếu là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Tiểu thuyết này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và nhận được nhiều giải thưởng ở nước ngoài. Chuyện này không có gì lạ. Cũng như Cao Hành Kiện không được đón nhận ở đất nước quê hương ông nhưng lại được Giải Nobel. Cũng như Nguyễn Huy Thiệp, được dịch và nhận nhiều giải thưởng ở nước ngoài. Mà không phải ở Hội Nhà văn Việt Nam (trừ Hội Nhà văn Hà Nội, dù sao cũng là một địa phương!).

Anh-minh-hoa---Nhung-buc-xuc-ve-Giai-thuong-Nha-nuoc

Điều đó chứng tỏ việc đánh giá một tác giả, tác phẩm văn học không thể có một thước đo chung cho mọi quốc gia, mọi tổ chức xã hội có quan tâm đến văn học. Khó có thể có một cơ sở chung, một căn cứ chung để đánh giá tác giả tác phẩm văn học cho toàn thế giới. Chân – Thiện – Mĩ, Nhân văn, Nhân bản vẫn là nguyên lý chung nhất nhưng hiểu, vận dụng, thể hiện lại rất khác nhau theo thời đại, xã hội, giai tầng xã hội, cá nhân… Giải Nobel Hòa bình năm 1973 trao cho Kissinger và Lê Đức Thọ là một minh chứng. Từ rất xa xưa cho đến thời đại ngày nay, mỗi nền văn học, mỗi tác giả, tác phẩm văn học gắn chặt – chưa nói là con đẻ – của truyền thống văn hóa – lịch sử , của hiện thực văn hóa – lịch sử… của quốc gia, xứ sở đó. Chỉ có truyền thống văn hóa – lịch sử, hiện thực văn hóa – lịch sử của đất nước đó, quốc gia đó mới là cơ sở, là tiêu chí, là thước đo từ nền văn học cho đến các tác giả tác phẩm cụ thể. Những cá nhân, tổ chức nước ngoài dù rất có thiện ý, cũng không thể có được cơ sở, truyền thống văn hóa – lịch sử… ở bên ngoài họ. Những cảm tình trong giao lưu văn hóa giữa các quốc gia bao giờ cũng mang tính khuynh hướng. Có thể là chia sẻ, gần gũi, cũng có thể ngược hẳn lại.

Vì vậy, cho rằng người nước ngoài lại có cái nhìn, có sự đánh giá công bằng, chính xác hơn những người có trách nhiệm “cầm cân nảy mực”… ở trong nước là đi ngược lại những điều sơ đẳng nhưng căn bản nhất của lý luận văn học, của phương pháp luận nghiên cứu văn học.

Phải trên cơ sở truyền thống và thực tại văn hóa – lịch sử Việt Nam, nếu không là từ năm 40 đầu CN với sự kiện Hai Bà Trưng… thì ít ra cũng là từ 1858, “Từ ngày Tây lại cửa Hàn” cho đến ngày 30/4/1975 mới có cách nhìn, cách đánh giá đúng về Nỗi buồn chiến tranh.

Ai đến xâm lược Việt Nam? Ai gây ra đau thương khủng khiếp cho nhân dân Việt Nam, không những trong chiến tranh mà còn lâu dài sau chiến tranh? Ai đã tàn phá cuộc sống bình thường của nhân dân Việt Nam? Từ cụ già, em nhỏ đến tình yêu lứa đôi? Từ mái nhà tranh, đồng ruộng, nhà thờ, phố xá, trường học và bệnh viện… Đó là tội ác man rợ của các thế lực bành trướng, xâm lược muốn thôn tính Việt Nam suốt 2.000 năm qua. Vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, từ 700 năm trước đã nói rõ điều đó:

… tàn hại cả côn trùng thảo mộc… Trúc Nam Sơn không ghi hết tội. Nước Đông Hải không rửa sạch mùi…

Thời hiện đại, hết người Pháp đến người Mỹ đem bom đạn đến hủy diệt đất nước và con người Việt Nam. Chỉ nói năm 1945, hai triệu đồng bào chết đói vì giặc Pháp – Nhật thu cướp lúa, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay. Và hiện nay, có 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam – đioxin, trong đó 3 triệu người thành nạn nhân (Báo Gia đình và xã hội – số 94, ngày 5/8/2016). Đất nước Việt Nam hôm nay, từ cực bắc Hà Giang đến cực Nam Đất Mũi, biết bao nhiêu nghĩa trang liệt sĩ. Chưa kể biết bao đồng bào ta đã bị giết hại trong rất nhiều tình huống, cảnh ngộ như các vụ thảm sát Phú Lợi (Thủ Dầu Một), Hướng Điền (Quảng Trị), Vĩnh Trinh (Quảng Nam) và cực điểm tàn bạo là ở Sơn Mỹ (Quảng Ngãi).

Các tác phẩm văn học ở Việt Nam trong những thập kỉ qua, chưa nói được bao nhiêu về nỗi đau cực kì đó, thật khó có lời nào tả xiết những đau thương mà người dân Việt Nam đã và đang phải gánh chịu.

Các giới nước ngoài thù địch với Việt Nam hoặc chưa hiểu Việt Nam không quan tâm đến dòng văn học này.

Người ta đổ xô vào tung hô Nỗi buồn chiến tranh.

Nỗi buồn chiến tranh nói gì?

Tiểu thuyết này là cách nhìn cuộc chiến tranh ở Việt Nam với con mắt, với cách nhìn của đối phương. Chính Jeam G. Zumwalt, con trai Đô đốc Mỹ Elmo Russell Zumwalt người đã lệnh rải chất độc da cam xuống Việt Nam, đã viết: “Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết của một cựu chiến binh miền Bắc – Bảo Ninh, là tác phẩm văn chương đầu tiên viết về xung đột tại Việt Nam từ góc nhìn của đối phương”.

(Chân trần chí thép, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2011, tr.244)

Một câu đó đủ nói lên tất cả cái gọi là giá trị của Nỗi buồn chiến tranh.

Nhưng cũng cần nói thêm đôi chút. Bởi không phải ai cũng có điều kiện đọc và đọc kĩ Nỗi buồn chiến tranh. Kể cả PGS-TS L.K.T!

Nỗi buồn chiến tranh tái hiện cuộc chiến tranh Việt Nam như là giữa những người Việt Nam với nhau. Giữa Việt cộng và Ngụy quân. Những binh sĩ Ngụy quân như là những nạn nhân bất khả kháng, bị bắn giết một cách tàn bạo, vô nhân tính, bởi những tay súng Việt cộng. Còn phía Việt cộng, hay quân giải phóng, qua nhân vật Kiên, là những con người không có lí tưởng, không có lí do cầm súng mà chỉ bị bắt buộc: … Họ được rèn luyện để quên đi cuộc sống gia đình ở hậu phương, được dạy kĩ năng bắn súng, tinh thần chấp hành mệnh lệnh, chịu đựng gian khổ… Chúng tôi chỉ biết bắn nhau! (Chân trần chí thép, sđd., tr.246)

Đó không phải là lời nhân vật. Mà là phát ngôn của chính tác giả Bảo Ninh khi trao đổi, trò chuyện (hay trả lời phỏng vấn) của Zumwalt, tác giả Chân trần chí thép.

Còn có thể nói gì hơn nữa?

Có đấy, một chút thôi, cho cụ thể hơn, qua lời nhân vật Kiên:

“Cả thế hệ anh đã lao vào cuộc chiến một cách hăng say, một cách hung dữ, làm đổ máu mình, đổ máu người. Hàng đọi máu. Hàng sông máu…

“Tôi sẵn sàng nhập thân lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng. Thói hiếu sát. Máu hung tàn. Tâm lí thú rừng. Ý chí tối tăm và lòng dạ gỗ đá”.

(Nỗi buồn chiến tranh, NXB Trẻ, 2004, tr. 59)

“… Không phải bắn mà là tàn sát” (sđd., tr.151)

Như thế là đủ rõ, quá rõ, Nỗi buồn chiến tranh đã xuyên tạc bản chất cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, xuyên tạc phẩm chất người chiến sĩ quân đội cách mạng của chúng ta. Mọi nỗi buồn, đau thương là do “chúng ta” gây ra cho nhau. Kiên đã tan nát cuộc đời do tình yêu bị chà đạp. Phương suốt đời không sao trở lại với Kiên vì tình yêu của cô, trinh tiết của cô bị chính những đồng đội của Kiên, trên đường ra trận, ngay ngày đầu tiên, đêm đầu tiên ấy cưỡng đoạt. Đó là cánh lính tên lửa trên một toa tàu ở ga Thanh Hóa. Họ thú vật đến mức đang đêm bom đạn như thế mà đè Phương ra cưỡng hiếp. Chính mắt Kiên chứng kiến. Xin PGS-TS L.K.T đọc kỹ đoạn văn này, ở trang 239, sách đã dẫn trên! Chúng tôi đánh giá cao tài năng chữ nghĩa và trí thông minh của Bảo Ninh. Theo tác giả Zumwalt thì Bảo Ninh nhặt được cuốn Mặt trận phía Tây yên tĩnh trong balô một lính ngụy tử trận. “Cuốn sách gây cho ông cảm xúc mãnh liệt để về sau ông viết Nỗi buồn chiến tranh” (Chân trần chí thép, sđd., tr.248).

Có thể nói Bảo Ninh đã tiếp thu được tư tưởng và bút pháp của Remark. Nó chỉ khác nhau là Remark viết Mặt trận phía Tây yên tĩnh từ chiến hào của chiến tranh đế quốc hồi 1914-1918 mà ông buộc phải cầm súng ra trận. Còn Bảo Ninh? Dù lòng dạ ông đã thuộc về Remark nhưng chỗ đứng của ông là trên chiến hào của cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa. Nhờ vậy mà đồng đội và đồng bào của ông đã chiến thắng.

Cần nhấn mạnh rằng, Bảo Ninh và nhiều nhà văn khác như tác giả các tiểu thuyết Miền hoang, Mình và họ rất chăm chút vào bút pháp nhưng tư tưởng, tâm hồn, tính nhân văn của họ còn quá thấp so với đồng đội, đồng bào của họ, với chính những con người từng là kẻ thù địch nhưng đã sám hối, đã thú tội, đã xin được tha thứ và hết mình trong hành động chuộc tội, “bỏ dao thành Phật” như cựu binh Mỹ Richard Aluttrell mà chúng tôi sẽ giới thiệu ở phần phụ lục, sau bài báo này.

Những thế lực thù địch với Việt Nam, đặc biệt những kẻ muốn phủi tay, chối bỏ trách nhiệm về chiến tranh Việt Nam đương nhiên rất hoan nghênh Nỗi buồn chiến tranh chính là ở lẽ đó.

Những kẻ đầu hàng giặc sau khi chiến thắng nó – biểu hiện của sự non yếu về bản lĩnh văn hóa – những kẻ phản bội lại lý tưởng độc lập tự do của dân tộc, phản bội lại sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bào chữa cho kẻ thù – tự nguyện làm miếng giẻ lau vết máu trên giày quân xâm lược – như Nguyên Ngọc và những người đồng thanh đồng khí – càng đề cao Nỗi buồn chiến tranh.

Những điều vừa nói trên lại biểu hiện mặt thứ hai của vấn đề: đó là Quan điểm văn hóa nghệ thuật, quan điểm chính trị – xã hội trong sự nhìn nhận đánh giá các hiện tượng văn học. Quan điểm này chi phối nhà sáng tác, nhà bình luận, nhà “cầm cân nảy mực” đánh giá nền văn học.

Cùng một thực tại văn hóa lịch sử nhưng cách nhìn rất khác nhau. Những quan điểm, cách nhìn này không giới hạn về không gian địa lý. Rõ ràng PGS-TS-Nghiên cứu viên cao cấp L.K.T có cách nhìn giống với “nhiều người nước ngoài”, và rất khác với những người “cầm cân nảy mực” về văn học ở trong nước. Quan điểm, cách nhìn, chỗ đứng… quyết định trực tiếp sự đánh giá.

Không cần nói “những người nước ngoài” mà ngay những người trong nước đánh giá về Nỗi buồn chiến tranh cũng đã quá rõ. Ở đây phải thấy sự thay đổi quan điểm cách nhìn là cực kì phức tạp. Một đồng sự của L.K.T. – tác giả Phạm Xuân Nguyên – đã chứng tỏ điều đó. Đấy là con người một tay nắm chặt Văn đoàn độc lập, tay kia giơ ra đón nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng và rất đề cao Nỗi buồn chiến tranh!

Đây là câu chuyện dài. Chỉ nêu vắn tắt như thế.

Với các tác giả L.K.T. và Hữu Việt, chúng tôi có hai giả thiết:

Một là, các vị đã không hiểu những điều sơ đẳng nhưng rất căn bản về lý luận văn học, về truyền thống văn hóa – lịch sử dân tộc, về hiện thực trong chiến tranh và sau chiến tranh cho đến hôm nay.

Hai là, các vị biết cả đấy nhưng cố tình bỏ qua những điều căn bản đó khi nhập vào hội của Nguyên Ngọc và những người đồng thanh đồng khí tung hô Nỗi buồn chiến tranh. Đây là vấn đề cốt lõi nhất trong hai bài báo của L.K.T. và Hữu Việt cũng như những người khen tặng bốc đồng cho Bảo Ninh kể từ Giải thưởng Hội Nhà văn 1991 đến nay, nhân danh Đổi mới văn học. Đổi mới văn học là nhu cầu thường xuyên. Nhưng không nhận rõ bản chất cuộc sống và con người thì chỉ là trò hình thức chữ nghĩa. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh chính nghĩa đòi hỏi và đồng thời sản sinh ra con người có ý thức, có lý tưởng, có động cơ và ý chí kiên cường, sự dũng cảm hi sinh và tình thương yêu cuộc sống, đồng đội, con người… Quyết tâm chiến đấu đánh bại kẻ thù chính là vì lòng yêu nước. Nỗi buồn chiến tranh không nhìn thấy, không biểu hiện điều bản chất đó, mà biểu hiện cuộc chiến tranh như cuộc ẩu chiến giữa những kẻ vô lý tưởng, không có lí trí, tàn bạo, hiếu sát, không còn nhân tính. Đó thực chất là xuyên tạc để phủ nhận cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Sự phủ nhận đó sẽ đi đến đâu? Điều đó, tư tưởng và hành động, hoạt động của Nguyên Ngọc đã thể hiện rất rõ, như đã nói trên.

Còn mấy đề xuất của các tác giả thì quá đơn giản và ngây ngô nữa. Hội đồng cấp Nhà nước cần tham khảo đề xuất của các Hội đồng cơ sở chứ không phải tôn trọng đến mức chỉ cần điều chỉnh lại phần nào. Vì các Hội đồng cơ sở đều có tính tương đối. Như có ứng viên ở Hội đồng cơ sở Hội Nhà văn chỉ được thiểu số 6/13 phiếu, liền chạy sang Hội đồng cơ sở ở Viện nọ theo đường khoa học công nghệ lại được 100% số phiếu. Vậy nên dựa vào Hội đồng nào?

Thời gian công tác hay thâm niên công tác chỉ vận dụng cho lương, thưởng đề bạt, bổ nhiệm, chế độ nghỉ hưu… khen thưởng (theo niên hạn…). Đánh giá cống hiến khoa học ở giá trị tư tưởng khoa học, công trình. Làm việc 40 năm, 60 năm hay 100 năm đều không phải là tiêu chí ưu tiên. Khoa học xem xét công trình không tính công nhật.

Tác giả Hữu Việt có lời bênh vực cho GS Phong Lê và GS Trần Ngọc Vương… Xin nói cụ thể thế này:

- Giáo sư Phong Lê: với việc lãnh đạo Hội Kiều học và tổ chức các hoạt động như biên soạn lại Truyện Kiều sai đến mức phải hủy đi in lại, chất lượng vẫn rất kém; cho ra ấn phẩm Cõi người ta làm ô nhục Nguyễn Du, cắt xén văn bản của cụ Phạm Quỳnh để biện luận theo ý mình, dù là để tôn vinh cụ Phạm… thì đôi vai của nhà văn Phong Lê đã quá trĩu nặng khi mang vác danh vị, học hàm Giáo sư, nếu lại đội thêm vương miện cao quý… e rằng quá sức không kham nổi.

- Cho rằng Cụ Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo động và nhìn thấy mặt thứ hai của chủ nghĩa thực dân là không chỉ phá hoại mà còn là xây dựng rằng Cụ Phan Châu Trinh đã đi xa hơn, tiến bộ hơn Cụ Phan Bội Châu… là một luận điểm vô sở cứ, phản khoa học và lịch sử của GS Trần Ngọc Vương… (Xem Đồ vương không tranh bá, VN TP.HCM, số 410, tháng 8/2016). Nếu nghiêm túc về văn hóa và học thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội và cơ quan chức năng có trách nhiệm chưa hủy bỏ, thu hồi học vị học hàm của Giảng viên đại học Trần Ngọc Vương là “dĩ hòa vi quí” lắm rồi. Nói gì đến Giải thưởng cao nhất của quốc gia.

Tác giả Hữu Việt chỉ nên nhân danh cá nhân mình. Còn muốn thay mặt cho các nhà khoa học chưa “tâm phục khẩu phục”, những nhà khoa học thẳng thắn đưa ra kiến nghị… thì nêu rõ tính danh họ ra – Thẳng thắn đưa ra kiến nghị sao phải mượn lời người khác.

Hữu Việt không nên cậy thế sân nhà mượn báo Đảng “kiến nghị thay” như thế!

Cuối cùng nhà khoa học – nghệ sĩ sáng tạo đều mang ít nhiều phẩm chất kẻ sĩ. Nên lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đừng hong hóng vào giải thưởng, đãi ngộ. Mua danh ba vạn… không phải mua bán mà được vinh dự lớn càng phải cảm kích và lo lắng. Lo sao cho xứng đáng với đời. Đừng để có tiếng cười: Ông ấy vận động hành lang, có lời xin trước… Được thì huênh hoang “Không có gì để kém ai cũng không có gì để hơn ai…”. Mà không được thì khi dỗi phụng phịu lời này tiếng kia….

Hà Nội, 28/8/2016

Nguyễn Văn Lưu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 418

Ý Kiến bạn đọc