Tản văn

Những bài hát Mường của mẹ

Bà mẹ việt nam anh hùng bùi thị triều, sinh năm 1912, xã chí đạo, huyện lạc sơn, tỉnh hòa bình. Mẹ có người con trai duy nhất – anh bùi văn nhỏn hy sinh nơi chiến trường miền nam.

“Nửa đất nước còn mất,
sao mẹ lại không cho con đi…

Từ Hòa Bình, chúng tôi về xã Chí Đạo, huyện Lạc Sơn, tìm đến ngôi nhà mẹ VNAH Bùi Thị Triều. Từ huyện Lạc Sơn, chúng tôi được Ủy ban Nhân dân huyện hỗ trợ chiếc xe U-oát leo núi, chinh phục mọi địa hình, bởi đường về Lạc Sơn rất trắc trở…

Mẹ VNAH Bùi Thị Triều – năm tôi gặp đã 99 tuổi (Mẹ sinh năm 1912) nhưng còn rất minh mẫn. Ấn tượng sâu đậm của chúng tôi về bà mẹ Mường này là vẻ ung dung tự tại, trầm tĩnh và sâu lắng đến kỳ lạ. Cũng thật bình tĩnh, mẹ kể con trai mẹ – anh Bùi Văn Nhỏn đi bộ đội năm 1968. Tiễn anh Nhọn lên đường, mẹ không ngăn được nước mắt vì cảm động, lo lắng. “Có một con một mẹ thôi, thương lắm, con đi lo lắm!”. Mẹ Triều kể. Chúng tôi hỏi mẹ: “Anh nói gì trước lúc ra đi?”. “Con chẳng nói gì với mẹ trước phút lên đường, chỉ chảy nước mắt. Nhưng nó nói nhiều với vợ…”.

Chị Quách Thị Lan – con dâu mẹ Bùi Thị Triều năm nay đã 72 tuổi, ngồi bên mẹ chồng. Chị bùi ngùi nhớ ngày tiễn anh Bùi Văn Nhỏn lên đường nhập ngũ… Đã mấy mươi năm trôi qua, người vợ khắc cốt ghi xương lời người chồng dặn dò trước lúc ra đi: “Ở nhà chăm mế, chăm con. Anh đi giải phóng miền Nam rồi anh về…”. Nhưng anh Nhỏn đã không trở về…

Me-VNAH-Bui-Thi-Trieu---Ky-hoc-cua-Dang-Ai-Viet
Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Triều Ký họa của Đặng Ái Việt.

Vật kỷ niệm duy nhứt anh Bùi Văn Nhỏn còn để lại cho mẹ và vợ là cái rổ Mường, được anh đan bằng những sợi tre rất chắc. Chiếc rổ Mường đã ngời bóng nước thời gian, không đựng hết nỗi niềm người mẹ nhớ thương con, người vợ với nỗi cô đơn dài dằng dặc đời người…

Chị Quách Thị Lan kể về mối tình của mình với anh Bùi Văn Nhỏn. Hai người cùng là học sinh miền núi. Họ đi học, quen biết nhau rồi yêu thương nhau. Đôi trai gái Mường thế là nên vợ nên chồng. Họ yêu thương, quấn quýt bên nhau. Rồi những đứa con lần lượt ra đời. Nhưng anh Bùi Văn Nhỏn như bao thanh niên thời ấy được kêu gọi “đất nước bị xâm lược, miền Nam máu chảy”. Vậy là người chồng trẻ, người cha trẻ không yên lòng sống trong cảnh ấm êm, hạnh phúc. Anh lên đường nhập ngũ…

Mẹ chồng và con dâu lục tìm trong ngăn tủ mối mọt ăn lỗ chỗ, lấy ra tờ giấy báo tử đã ố vàng. Theo giấy báo tử, chúng tôi biết được vài nét chính của người liệt sĩ. Anh Bùi Văn Nhỏn học lớp 7, làm giáo viên. Ngày anh lên lớp dạy học sinh. Đêm anh dạy bổ túc. Anh hy sinh anh dũng ngày 12 tháng 9 năm 1969, thi hài được an táng tại nghĩa trang mặt trận phía Nam, tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam…

Nhìn ngôi nhà mẹ Triều, nhìn chị Quách Thị Lan và những đứa con của chị: Bùi Văn Khoen, sinh năm 1962; Bùi Văn Bim, sinh năm 1964; Bùi Văn Bum, sinh năm 1966; Bùi Văn Nhơn, sinh năm 1968; tôi thầm hiểu người con trai Mường Bùi Văn Nhỏn đã có được một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, một mái nhà ấm áp, một cuộc sống yên bình những năm tháng tuổi trẻ. Vậy điều gì thôi thúc anh nhập ngũ, lao vào chiến trường miền Nam?! Mẹ Bùi Thị Triều đã trả lời ngắn gọn câu hỏi ấy của chúng tôi: “Nửa đất nước còn mất, sao mẹ lại không cho con đi… ”.

Mẹ Bùi Thị Triều đích thân đưa chúng tôi thăm căn nhà sàn của đứa cháu nội gần bên gian nhà của mẹ. Tuổi 99, mẹ khó nhọc bước lên từng bậc thang, dường như ký ức thời con gái xa xăm cũng xô về. Mẹ nở nụ cười, hàm răng đen nhánh, kể: “Thời con gái, mẹ phải nhuộm răng đen vì với người Mường thời ấy, răng đen mới đẹp. Con gái phải nhuộm răng đen mới lấy được chồng!”. Mẹ vẫn còn nhớ, khi ấy mẹ dùng mè, sấu, táo chua cùng vài thứ vỏ, lá cây nấu lên. Khi ngậm loại nước ấy, hàm răng mẹ tê buốt, ê ẩm. Mẹ cắn răng chịu đựng, vì theo tập tục, làm thân con gái, phải nhuộm cho được hàm răng đen…

Trên ngôi nhà sàn, sau khi nhấp 2 chung rượu ngô, mẹ bộc bạch tâm sự thầm kín, qua ký ức đan dệt của cụ bà tuổi 99. Mẹ từng trải qua một tuổi thơ cơ cực. Nơi mẹ sinh ra ở một xóm nghèo, heo hút xã Phú Lương, Lạc Sơn. Cha hút thuốc phiện, bán mẹ cho một nhà giàu để thỏa cơn nghiện. Mẹ làm thuê trả nợ cho cha. Một chàng trai Mường xuất thân trong một gia đình khá giả, lương thiện đem lòng yêu thương mẹ, chuộc mẹ về làm vợ hai. Năm ấy, mẹ đã 25 tuổi. Bà cả lo chuyện trong nhà, mẹ lo chuyện ngoài đồng. Khi mẹ sinh anh Bùi Văn Nhỏn, bà cả cùng giúp mẹ nuôi nấng con…

Khi anh Bùi Văn Nhỏn hy sinh, mẹ Bùi Thị Triều vô cùng đau đớn. Bà cả xem anh Bùi Văn Nhỏn như con ruột, cùng hòa với mẹ những giọt nước mắt khóc con. Anh Bùi Văn Sim nói: “Khi buồn, bà nội hay hát!”. “Bà thường hát gì?”. Chúng tôi hỏi anh Sim. “Bà hát Mường. Bà hay hát những bài hát về nỗi khổ phụ nữ, về người bạn đời, về tình mẫu tử…”. Tôi bày tỏ: “Con từ phương Nam ra miền Đông Bắc, rất mong được nghe mẹ hát Mường”. Mẹ Bùi Thị Triều nở nụ cười hiền, chậm rãi rót rượu ra chiếc ly. Mẹ không uống, mắt nhìn xa xăm. Mẹ cất giọng, hát bài hát Mường ru con. Anh Sim dịch sang tiếng Kinh cho tôi nghe và chép lại:

“Ru con để con ngủ
Đập bông bông
Quả bưởi vàng
Quả nang sao
Quả đào chín
Chín chọi mặt trời
Chín đợi mặt trăng
Bẻ hoa bông trăng
Cho bụt ở
Bụt không ở
Bụt trở về trời
Mời hằng nga xuống chơi

Chơi với nhau
Được ba đốt mía
Được con trâu nghé
Được tiếng gà gáy
Được chó sủa nhà
Được gà sáng trăng…”

Những làn điệu Mường tiếp tục ngân lên từ lồng ngực của bà mẹ ở tuổi 99: “Chỗ khô con nằm”, “Chỗ ướt mẹ nằm như trâu đầm dưới nước…”. Tôi lặng đi vì lời bài hát nghe sao mà quen thuộc, gợi nhớ một bà mẹ Việt Nam anh hùng ở miền Tây Nam bộ đã từng hát cho tôi nghe. Người mẹ Kinh miền Tây thì hát “Chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo để con”. Lời hát ru tương đồng từ hai cực Tổ quốc khiến chúng tôi thấu hiểu về tình mẫu tử cao đẹp và sự trĩu nặng của những giọt nước mắt khóc con. Trong nước mắt, mẹ kể mẹ nuôi con rất cực nhọc, vất vả. Con báo tin mẹ đi bộ đội, mẹ tìm chỗ vắng ngồi khóc. Mẹ không biết miền Nam là ở đâu. Nhưng con mẹ quyết chí đi bộ đội Cụ Hồ, vào miền Nam đánh giặc, mẹ thương con, tin Bác Hồ, không nỡ cản ngăn con. Nhưng rồi con mẹ đã không trở về…

Anh Bùi Văn Bim nhớ lại: “Một hôm, tôi thấy nhà mình rất đông. Tôi thấy các ông bà, thấy nội, thấy mẹ tôi khóc nức nở. Tôi không hiểu vì sao, cứ đứng nhìn, ngơ ngác. Một lúc sau, người ở xã mới giải thích cho tôi biết, rằng bố tôi đã hy sinh ở chiến trường miền Nam. Chính quyền đang làm lễ truy điệu cho bố tôi…”. Năm ấy, tôi mới 7 tuổi…”.

Khi người con trai mẹ Bùi Thị Triều nằm lại nơi chiến trường miền Nam, nơi mảnh đất xa xôi của tỉnh Hòa Bình, trên miền Bắc, những người phụ nữ ở lại phải thay những người đàn ông, trở thành trụ cột gia đình, làm việc vất vả hơn nuôi đàn con, cháu lớn lên. Lớn lên, anh Bim luôn bị thôi thúc bởi mong ước được đặt chân đến mảnh đất miền Nam, nơi cha anh hy sinh. Và anh Bim đã quyết tâm ra đi, cùng anh Bùi Văn Lục – người con của một ông chú cũng đi bộ đội, vào Nam chiến đấu và hy sinh như con trai của mẹ Triều. Giữa nghĩa trang bạt ngàn mộ chí, anh Bim không biết hài cốt của cha giờ nằm đâu?! Ở Hòa Bình không chỉ có riêng gia đình anh có thân nhân đi bộ đội, vào Nam chiến đấu rồi hy sinh… Anh Bùi Văn Lục cũng không tìm được mộ cha. Mơ ước lớn nhất của những người con liệt sĩ là đưa hài cốt của cha về quê hương.

Lòng mẹ Bùi Thị Triều ngày đêm đau đáu niềm mong ước được đưa hài cốt anh Bùi Văn Nhỏn về Nghĩa trang Liệt sĩ Lạc Sơn, để con được gần bên mẹ. Nhưng mẹ già rồi, không thể vào miền Nam tìm mộ con được. Nhưng mẹ tin linh hồn anh Bùi Văn Nhỏn theo gió bay về bản Mường quấn quýt bên mẹ. Anh Nhỏn hiện hữu cùng mẹ trong chén rượu mừng năm mới, trong bữa cơm mừng gạo mới, trong những gương mặt cháu con. Mẹ nói mình hạnh phúc hơn nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng khác, bởi dẫu con trai độc nhất của mẹ hy sinh, mẹ còn được 4 đứa cháu nội. Mẹ còn có thêm cháu rể, cháu dâu. Tất cả, mẹ có được 18 chắt. Mẹ có cả chắt ra Hà Nội học đại học. Mẹ vẫn thường ngồi khóc mỗi khi nhớ con nhưng mẹ được an ủi, con trai mẹ như cái cây ngã xuống vẫn còn có được những chồi non. Từ bản Mường xa xôi, con trai mẹ đã gởi phần máu xương cho ngày hòa bình, thống nhất. Bà mẹ Mường bé nhỏ trong ngôi nhà sàn trở nên cao lớn lồng lộng với câu nói giản dị: “Nửa đất nước còn mất, sao mẹ lại không cho con đi…”.

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 420

Ý Kiến bạn đọc