Tản văn

Nhớ… xe lôi đạp

Nắng sáng vàng ươm như mật nhưng mồ hôi ông đang chảy dài thành vệt trên gương mặt gầy gò khô sạm. Ghé lại quầy tạp hóa bên đường mua gói thuốc lá, hơi thở vẫn còn hì hục. Ông bảo, vì phải ra chợ từ 4 giờ sáng. Chợ Long Hoa này hầu như hoạt động suốt ngày đêm, nên chỉ lo không có người chịu làm chứ không lo không có việc. Xe lôi đạp của ông nhỏ, chở được 3 bội rau cải là hết chỗ. Người ông gầy nhom, tuổi 60 đã qua rồi, nhưng không bỏ được “nghiệp” từ 40 năm qua người và xe làm bạn trên mọi nẻo buồn vui của cuộc đời.

Có lúc mệt mỏi cũng nghỉ đôi hôm; có khi vì thời cuộc xe lôi đạp của ông cũng nằm xó một thời gian. Nhưng rồi xe nhớ chợ, người nhớ không khí lao xao của buổi hừng đông ở trung tâm thương mại lớn nhất tỉnh nên ông lại lau chùi con chiến mã, người ngựa cùng rong ruổi.

Ong-gia-va-chiec-xe-loi-dap-40-nam-qua
Ông già và chiếc xe lôi đạp 40 năm qua.

Mỗi ngày ông cũng kiếm được trăm ngàn từ chiếc xe lôi già nua cũ kỹ như tuổi đời của mình. Số tiền đó không nhiều không ít đối với cuộc sống chỉ có hai vợ chồng già, đôi khi uống thuốc nhiều hơn ăn cơm.

Rít vài hơi thuốc, mệt mỏi như tan biến rất nhanh. Ông lại lên xe, bóng nắng nghiêng nghiêng đổ dài xuống mặt đường chênh chao… chênh chao…

Nhìn chiếc xe lôi đạp đậm dấu thời gian của ông, tôi chợt nhớ ngày xưa…

Hồi đó nhà tôi cũng có một chiếc xe lôi đạp. Nhưng xe của cha tôi không dùng để chở rau củ như ông, mà để chở giàn giáo. Mỗi khi có công trình xa xa là cha chất vài bộ giàn giáo lên, thêm mấy tấm ván đã ướp đậm hương vôi vữa. Rồi qua những vòng bánh xe quay, tiếng cót két bởi bạc đạn khô mỡ bò, dưới đôi chân khỏe mạnh của cha, chiếc xe lôi đạp đưa mấy bộ giàn giáo chu du suốt đoạn đường lắm bụi đỏ, nhiều cát chày, có khi phải đẩy bộ đến hụt hơi, hay phải cầu cứu người hai bên đường đẩy xe giúp mới qua khỏi đoạn đường đầy cát đó.

Chiếc xe lôi đạp bé nhỏ ấy cuối cùng cũng đưa mớ giàn giáo đến nơi cần đến để góp cùng mồ hôi của cha mà có cơm có áo cho chị em tôi.

Chiếc xe lôi đạp ngoài chở giàn giáo, lâu lâu còn làm “nhiệm vụ đặc biệt” là chở bầy con 4 đứa của cha đi chùa chơi. Trước khi đi chơi một ngày, những đôi bàn tay nhỏ nhắn phải xách nước rửa xe, mấy miếng xơ dừa cũng sẽ tham gia làm nhiệm vụ, sao cho thùng xe thật sạch sẽ.

Thùng xe bây giờ sẽ được cha gác hai miếng gỗ dài, hai đứa ngồi trên một miếng gỗ. Nhớ là không được chọc ghẹo cười giỡn nghen, dễ té xe lắm đó con à.

Cót két… cót két… con dốc Đoạn Trần Kiều hồi đó cao lắm, mà đường toàn đất đỏ, đứng dưới dốc chỉ thấy phần đầu của người trên dốc. Qua đoạn dốc này bắt buộc 4 chị em phải cuốc bộ. Cha đạp xe qua, tiếng pê-đan bị ấn xuống dưới sức nặng chân cha khiến thanh âm “cót… két…” càng ngân dài. Thằng em 8 tuổi của tôi bảo: “Xe lôi nhà mình có nuôi con két trong bụng nên nó kêu hoài hén Hai?”.

Bây giờ con dốc đã lài đi bớt, không cao như trước nữa, bởi khi tráng nhựa con đường, người ta đổ đất cho dốc bớt cao. Bây giờ ai đi qua con dốc này dù là xe đạp hay xe máy đều không phải đẩy hay sợ xe chết máy giữa chừng.

Chiếc xe lôi đạp nhà tôi từ lâu lắm đã không còn lôi giàn giáo hay chở mấy chị em đi chơi chùa Trí Huệ, chùa Tòa Thánh nữa.

Bởi đứa nào cũng đã lớn, xe máy lướt vù vù. Cha già không đạp xe lôi được nữa, mà xe cũng đã hư hao nhiều theo thời gian.

Hôm nay ở chợ Long Hoa bỗng dưng gặp chiếc xe lôi đạp, thanh âm cót két… cót két… vọng về một nỗi nhớ khôn cùng.

Đ.P. Thùy Trang
(Hòa Thành, Tây Ninh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 443

Ý Kiến bạn đọc