Tản văn

Nhớ “Sen” giữa đồng Tháp mười

“Tình vẫn đẹp khi đành dang dở!”

Tôi đến với Chiến khu D vào những ngày đầu mùa kháng chiến chống Pháp. Thoạt đầu được bố trí ở chung với Ban hội họa của Chi đội 10, chi đội trưởng là ông Huỳnh Văn Nghệ, chính trị viên là anh Phan Đình Công. Lúc đó tôi không là họa sĩ, nên sau đó một thời gian, tôi được cho đi dự khóa quân chính ở Xóm Chồi, địa danh này nằm giữa làng Mỹ Lộc và Tân Hòa, trung tâm của Chiến khu D.

Bên trong làng Mỹ Lộc là rừng già bạt ngàn, còn bên ngoài làng Tân Hòa, nơi có nhà ông Tám Nghệ là dòng sông Đồng Nai. Đêm trăng chiến khu nhìn đâu cũng thấy thơ mộng, có tiếng cọp “bép”, với tiếng con nai, con mễn nào đó vang lên từ con suối cá, khi chúng ra uống nước suối, ngắm trăng. Đêm đêm, chúng không biết sợ ai cả!

Hết khóa học quân sự, tốt nghiệp ra trường, tôi và các bạn được vinh danh là tiểu đội trưởng, có súng trường, và tham gia đánh trận. Trận đánh đầu tiên, tôi tham chiến là trận giao thông chiến, phục kích đánh đoàn “công-voa” nhiều xe giặc tại dốc đá Phước Cang – chỉ huy mặt trận là Thiếu tá Ân, biệt danh là Hùng xám Xuân Lộc! Thắng trận này, trận sau dữ dội hơn, đó là trận giao thông chiến tại La Nha (La Ngà), tiêu diệt hơn 50 xe địch.

Tôi có bài nhạc sáng tác đầu tiên ca ngợi chiến thắng La Nha, sau đó phổ nhạc bài thơ “Lúa vàng reo” của Thọ Khôi, chẳng biết anh ấy là ai! Chỉ lượm được mảnh giấy nhỏ có bài thơ, đọc lên nghe thấy hay, liền có cảm hứng, phổ thành bài ca. Cả bài bản nhạc “La Nha” và “Lúa vàng reo” được các đơn vị dân, quân, chính ở khắp nơi hát vang trời. Thế là tôi được gọi là nhạc sĩ! Thời đó, nhạc sĩ ở chiến trường miền Đông có hơi hiếm. Nên ông Tám Nghệ sợ “thằng nhỏ” đi đánh trận, chết uổng, nên cho rút về ở Ban Văn nghệ.

*
… Sau nhiều năm sống ở rừng miền Đông tuy gian lao mà anh dũng khá lâu, một số anh em văn nghệ sĩ xanh xao, ốm nhách, thiếu ăn, thiếu yêu, thiếu đủ thứ, được cho thuyên chuyển về Ty Thông tin Long Châu Sa, miệt Đồng Tháp Mười, có “con kinh xanh xanh” của anh Ngô Huỳnh, có “lá còn xanh như anh còn trẻ” của Hoàng Việt.

Tôi, anh Lê Vinh họa sĩ, anh Minh Lộc nhà văn từng có truyện ngắn “Con đường sống”, đoạt Giải thưởng Cửu Long của Hội Văn nghệ Nam bộ. Nghe nói, truyện ngắn này về sau Hiệp định Genève 1954 đình chiến theo các anh ra Bắc.

Anh-minh-hoa---Nho-Sen-giua-Dong-Thap-Muoi---Anh-1
Ảnh: coviet.vn

Được về Đồng Tháp Mười, hít thở không khí đồng nội thanh khiết, trong lành, lại có gạo trắng, cá tươi, đúng là một cuộc “đổi đời” rất ngoạn mục, thú vị vô cùng, trong lòng ai cũng vui mà chẳng dám nói ra. Trong khi đó thì những người quen sống giữa Đồng Tháp Mười chiêu đãi anh em từ miền Đông xuống, ngoài những món đặc sản, có cả rùa, rắn, chuột đồng, cá lóc ăn quên thôi, còn có những mẩu chuyện kinh nghiệm về “chém vè” khi có Tây “bố ráp”. Đang ăn ngon miệng, mà nghe kể những chuyện hãi hùng đó, anh em nào cũng… cố tỏ vẻ là những dũng sĩ của miền Đông, xem cái chết nhẹ tợ lông hồng, nhưng trong lòng, ai biết ai có rung rinh tí nào không.

Ở đâu quen đó. Đúng là vậy thật. Ngoài bộ đội địa phương, các cơ quan đóng dọc theo hai bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, càng vào sâu giữa Đồng Tháp Mười càng thấy đồng bào ta thật là gan dạ, trải qua bao lần giặc Pháp tràn vô bắn giết, đốt nhà cửa, cướp bắt heo, gà, vịt, mọi thứ đều tan hoang, sau đó chúng rút đi thì tất cả những ai còn sống lần lượt trở lại chốn cũ, cất lại mái nhà tranh, cứ thế mà trường kỳ kháng chiến… vui vẻ như thường.

Ty Thông tin Long Châu Sa do anh Phát làm Trưởng ty, anh Lực làm Phó, cả hai anh tiếp nhận anh em văn nghệ sĩ từ miền Đông Khu 7 về với cả tấm lòng ưu ái, mới gặp mà đã thân thương như quen mến nhau tự bao giờ. Bộ phận anh em văn nghệ sĩ chúng tôi được bố trí gởi sống trong nhà đồng bào. Chủ nhân cũng tốt bụng, hai ông bà chỉ có một cô con gái tuổi độ trăng tròn, có cái tên nghe dễ mến: “Sen”. “Con ra giúp phụ các anh nếu có chuyện gì cần nhờ thì vui vẻ, nghen con”. “Dạ!”.

Nhìn thấy cô gái Đồng Tháp Mười hồn nhiên, tươi trẻ mà tồn tại giữa cuộc chiến tranh tàn khốc này, hình dung tới những trận Tây trắng, Tây đen với bọn “pạt-ti-dzăng” chúng về đây, nếu mà không kịp, thì trời ơi… thảm kịch sẽ đến với gia đình ông bà Năm, với Sen như thế nào.

Đi kháng chiến, chẳng những thiếu thức ăn, thiếu mặc, bản thân tôi chỉ có một bộ đồ bà ba đen bạc màu như cây đàn guitar thùng bong sơn, trông lam nham thê thảm; nhưng còn có cái thiếu cực kỳ quan trọng, đó là thiếu tình yêu…

Thế rồi, có mấy lần nhìn thấy em Sen xắn quần, xuống cầu chùi vo gạo, cho thấy hai bắp đùi non trắng muốt… Ái cha!

- Anh biết đặt bài ca hả? – Sen hỏi.

- Hồi còn ở khu 7, miền Đông, anh đã là nhạc sĩ rồi, chớ đâu phải về đây mới biết sáng tác. Này nhá, để anh hát mấy bài của anh sáng tác cho em nghe…

Nghe rồi một lúc sau, Sen hỏi nhỏ:

- Sao không có bài nào… tình cảm, mà toàn là…

Tôi hơi quê, bèn chống chế:

- Ờ thì… đi kháng chiến, làm nhạc chiến đấu, chớ có yêu đương ai bao giờ đâu mà có nhạc tình cảm.

Sen cười cười:

- Anh bi lớn vậy mà chẳng có ai thương. Tội nghiệp hén.

Tôi hỏi bạo:

- Tía má em đã định gả cho em lấy chồng chưa?

- Cũng có vài người tới hỏi, nhưng ổng bả chê.

- Sao kỳ vậy?

Sen thở ra:

- Ổng bả nói, mấy anh du kích, chống càn, hổng biết chết sống lúc nào! Mà thanh niên ở vùng này có ai không đánh giặc đâu. Còn thanh niên ở thành, có ai chịu vô đây kiếm vợ. Tía má em, ổng bả nói, thà ở vậy chớ lấy chồng nghèo khổ lắm con ơi!

Nghe Sen tâm sự, trong lòng tôi bỗng dưng giá băng, với ý nghĩ… mình có thương con nhỏ này cũng đừng hòng!

Bất ngờ, nghe Sen hỏi:

- Nghe nói cán bộ kháng chiến mấy anh không được yêu đương tình ái lăng nhăng, phải không anh?

Tôi ngập ngừng:

- … Ơ ờ… thì thì…

- Thì sao, anh?

- Thì cũng có trường hợp được cho phép làm lễ “tuyên bố”, nấu nồi chè, mời hết cơ quan tham dự, chứng kiến cho thành vợ chồng với nhau, chớ đâu phải tuyệt đối cấm. Cũng tùy nơi, em ạ!

*
Chúng tôi, 4 mạng được bố trí ở nhà ông bà Năm, gồm có tôi; anh Minh Lộc nhà văn, nguyên quán ở Cái Bè; anh Lê Vinh họa sĩ, gia đình ở Sài Gòn; Phạm Hưng họa sĩ, người được coi là “thổ địa” vùng này. Anh thường dẫn chúng tôi ra mấy đám lát, năng, cỏ, sậy vào buổi hừng đông, để “dặm cù”, bắt chuột đồng đem về rô-ti, hoặc nấu canh chua với bông điên điển, ăn ngon lắm. Còn Sen thì một hai ngày chống xuồng đi vô đầm sen xa tít giữa đồng không mông quạnh để hái sen đem về cho bà Năm có dịp ra Cao Lãnh bán với mớ gà vịt, để có tiền mua nhu yếu phẩm. Hoặc lâu lâu bà đi lên Chợ Lớn – Sài Gòn bổ hàng, đem vải vóc về bán lại cho bà con trong vùng. Chớ cả nhà chẳng có ai đi làm ruộng. Mà vùng này, toàn đất phèn, có ai trồng lúa được đâu. Muốn mua gạo ăn, phải tới mua lại ở nhà bà Năm như cái quán nhỏ. Gạo bà mua ở Cao Lãnh chở về đây. Dầu lửa, cũng vậy.

Anh-minh-hoa---Nho-Sen-giua-Dong-Thap-Muoi---Anh-2

Gọi nơi đây là “vùng giải phóng”, đồng bào ta chấp nhận cuộc sống khó khăn, thiếu thốn, gian khổ nhưng không ai nghĩ tới ra thành để sống chung với giặc. Trong đó, kiên định nhứt là gia đình ông bà Năm, và nhiều gia đình khác nữa.

Những khi thức khuya, viết lách mệt mỏi, ngủ trưa, lúc có máy bay “còng cọc” của Tây tới bắn phá, nhờ có Sen nhanh nhẩu tới kêu, lay tôi dậy, kéo ra phía sau “chém vè” mới thoát chết. Hú hồn mấy bận!

Sen cười hồn nhiên:

- Ở đây mà không biết “chém vè” là khó sống lắm anh ơi! Dễ thôi, nhưng phải có kinh nghiệm. Đi với em vô đồng sâu, tới nơi nào có đầm sen, để em chỉ cho anh vài lần, anh biết “chém vè” rồi thì mới an tâm.

Bỗng nhiên, mình thấy cảm động, không cô đơn. Đi theo Sen vài lần, thích thú làm sao! Sen thì hồn nhiên. Còn tôi thì không được tử tế lắm! Những lần nhìn trộm, Sen bắt gặp, mặt bừng nóng, ửng hồng lên, tôi như đê mê, được ngắm bức tranh thiếu nữ sống động, tuyệt tác của hóa công, tưởng như dành riêng cho mình.

Về Đồng Tháp Mười đâu chỉ được ăn cơm gạo trắng, cá tươi với những rùa, rắn, chim, cò, chuột đồng, cá lóc, cá rô ngon lành, mà còn được Sen đưa đi hái sen, để sống trong chiến tranh mà vẫn thấy có những hạnh phúc bất ngờ, cũng như những hiểm nguy không chờ đợi. Có như thế mới có dịp nếm đủ mùi vị của cuộc đời làm chiến sĩ, không chỉ có ra trận, trúng đạn, chết, rồi hết.

Đột nhiên nghe tiếng Sen hỏi:

- Anh đang nghĩ gì vậy?

- Anh đang nghĩ, tía má em hổng bằng lòng thì sao?

Sen bỗng sa sầm nét mặt, không dám có câu trả lời. Một lúc sau, Sen mới thốt:

- Thôi, mình lo đi hái sen cái đã.

Cũng như mọi lần, Sen bảo tôi ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ, phía dưới gốc cây có cái miếu quí ngài Thổ địa, vắng nhang đèn, không ai cúng kiến.

Khi có tình yêu, bỗng sinh ra mê tín, như quan chức khi đã quá giàu rồi hay đi tìm thầy bói. Tôi tới nhìn ông Thổ địa, rồi lâm râm khấn vái. Đáng lý phải vái cho sớm dứt chiến tranh, quân ta toàn thắng, đánh đuổi hết bọn ngoại xâm, đất nước thống nhất, mọi người vui hưởng thái bình… Đằng này quên mất điều vái hệ trọng đó, lại vái quí ngài Thổ địa phù hộ cho hai đứa có được duyên lành! Thì ra, khi có tình yêu, con người dễ sinh ra tâm lý ích kỷ, chỉ nghĩ tới bản thân.

Mặt trời lên cao, mây vẫn xanh lơ, rồi tím nhạt. Gió từ đâu dìu dặt mang hương sen tới ướp lấy hồn tôi, một kẻ lãng du đang mơ mộng tới một bến bờ hạnh phúc. Để sau này vui pháo nhuộm đường, Sen đẻ cho tôi một tiểu đội con gồm có trai lẫn gái. Để sau này, lớn lên chúng nó có 10 đứa ngỗ nghịch, bất hiếu thì cũng còn 2 đứa biết thương mình. Sống phải biết trừ hao.

*
Chiều, rồi tối một ngày đẹp trời nọ, tôi chờ ông bà Năm gia chủ ăn cơm nước xong, tôi mới lấy hết can đảm, xin thưa với chú thím.

- Chẳng dám nào, xin chú thím lượng thứ, tha lỗi cho cháu hôm nay thành khẩn xin với chú thím… – Nói tới đây, tôi nghẹn lời, liếc thấy Sen đứng nơi cửa buồng ngó ra với đôi mắt âu lo, tội nghiệp.

Chú Năm gia chủ chậm rãi:

- Có điều chi… thì cháu nói ra đi, chú thím coi cháu như người thân trong gia đình, đừng ngại gì. Hễ có thể giúp cho cháu vui, thì chú thím cũng không tiếc chi.

Nghe ông “Tía vợ tương lai” nói vậy, trong lòng tôi như mở cờ, tim đập nhịp Fox và đầu óc tràn trề hy vọng với bao niềm vui, tuy nhiên cứ vẫn ấp úng chưa thốt nên lời. Chú Năm thấy vậy, giục:

- Nói đi cháu.

Thím Năm thì mần thinh, ý chừng như đã đoán biết tôi sắp nói ra điều gì. Do đó, mà tôi vẫn cứ hồi hộp lạ. Sau cùng điều hệ trọng sẽ nói, phải nói thôi.

Sau khi nghe tôi ngỏ lời xin cưới Sen làm vợ, chú Năm tặc lưỡi, ngó qua thím Năm, nói nhẹ:

- Cháu nó đã nói như vậy, ý bà như thế nào, nói cho cháu nó biết đi. Hễ bà tính sao thì tui cũng y vậy.

Nghe chồng “bán cái” qua mình, thím Năm lặng thinh, ngồi xỉa thuốc qua lại, nhai trầu bỏm bẻm một lúc khá lâu rồi mới thở ra, và nói:

- Chà! Chuyện này… coi bộ khó dữ đa!

Tôi nghe như sét nổ bên tai. Trái tim muốn nhảy vọt ra ngoài. Bao nhiêu hy vọng, cùng với tất cả mơ mộng đang sắp như sụp đổ do cơn động đất dưới chân.

- Em nó còn nhỏ quá, cháu ạ. Coi nó vậy chớ, nó còn con nít lắm.

Tôi nhủ thầm: Con nít mụ nội tôi chớ con nít gì, bà ơi! Nó bự sộn thế kia mà bà đui sao không thấy, lại nói nó còn nhỏ xíu! Bà mà cho tôi cưới, nó đẻ liền cho bà coi.

Sau cơn “sốc” nặng vì từ chối khéo của bà mẹ, tôi biết ngay là bà thấy tôi quá nghèo. Chỉ có bộ đồ bà ba bạc màu bận từ miền Đông xuống ở gần một năm mà chưa có bộ nào để thay. Mặc quần tà lỏn, chờ bộ đang phơi, khô rồi mới bận tiếp. Thân thế, sự nghiệp như vậy mà dám đòi cưới con gái bà! Láo thật.

Tôi nghĩ mình quá dại. Phải chi chậm chậm để cho bụng Sen lum lúp rồi mới ngỏ lời, dẫu bà có muốn từ chối thì chuyện đã rồi! Đằng này mình muốn giữ tư cách của người yêu nước, đi đánh giặc để đem hạnh phúc đến cho mọi người, nên đâu có làm chuyện xấu khi hằng ngày đi tuyên truyền nói toàn chuyện tốt, nói toàn điều hay lẽ phải cho mọi người đều nghe. “Thua!”.

Bình tĩnh nghĩ lại thì thấy bà ấy có lý. Mẹ nào lại cho con gái mình đi làm vợ của một kẻ nghèo xác nghèo xơ như vậy. Gả cho nó, con mình khổ thì sao?

Chú Năm có vẻ thông cảm với nỗi buồn không tên của tôi, nên nói xụi lơ:

- Nhà này, cháu ở đây, cháu biết đó, mọi chuyện lớn nhỏ gì cũng do bả quyết hết trọi!

Lâu nay chú mang tiếng là “sợ vợ”, thì cũng chẳng phải oan ức gì. Vợ mình, mình sợ chứ có phải sợ vợ ai.

Tôi nghe tiếng khóc nức nở từ trong buồng vọng ra, biết rằng Sen cũng khổ như tôi. Ôi, cái nghèo, đời thuở nào cũng thua thiệt! Mà đã đi vô chiến khu, bưng biền để kháng chiến, thì đem cái giàu, cái sang ra khoe… để làm gì.

Ngày qua ngày, kể từ khi tôi dâng “kiến nghị”, y như là thú tội, Sen không dám rủ tôi đi hái sen như mọi khi. Đương nhiên là bà mẹ đâu cho hai đứa có dịp gần nhau. Sợ tụi này… “tiền trảm, hậu bụng bự” thì sao!

Cả tháng sau, tôi không dám tiếp xúc, nói chuyện với bà má của Sen. Cho tới một hôm, được biết thím Năm chuẩn bị đi lên Sài Gòn – Chợ Lớn bổ hàng, tôi mới viết mấy dòng trong mảnh giấy nhỏ, nhờ thím gởi về cho má tôi ở tại nhà cô ruột của tôi tại đường Viénot, ngang mặt đồng hồ chợ Bến Thành, để liên lạc với gia đình mà bao nhiêu năm qua tôi không hề gởi về một tin tức nào. Vài hôm sau, đi Sài Gòn về, thím Năm đem về cho tôi một số đồ của gia đình tiếp tế, kèm theo “một ngàn đồng bạc xanh”.

Điều đó làm cho cả gia đình thím Năm vô cùng kinh ngạc. Thím rỉ tai nói với chú Năm:

- Úi dào, gia đình chú em này ở Sài Gòn giàu lắm ông ơi!

Tuần lễ sau, theo địa chỉ của thím Năm để lại, em rể tôi lại đi xuống Cao Lãnh, rồi mướn ghe tam bản chở cả một bao bồng bột đủ thứ thức ăn đồ hộp, áo quần và đưa thêm một ngàn đồng bạc xanh nữa. Và nó đem đến một tin vui:

- Sắp đình chiến rồi, anh Hai ơi! Đã có ký kết Hiệp định đình chiến, các báo Sài Gòn đăng tin sôi nổi mấy ngày nay. Ai cũng vui quá chừng!

Thế rồi cả Ty Thông tin Long Châu Sa cũng ồn ào sôi nổi với tin tức “đình chiến theo Hiệp định Genève”. Đó là năm 1954. Thời sự mỗi ngày một nóng bỏng. Cả cơ quan Ty Thông tin rộn rịp chuẩn bị tiến ra Cao Lãnh để thực hiện “Tập kết” theo lệnh đình chiến.

Ôi chao! Lúc này tôi và các anh trong cơ quan đều được phân công, ai nấy bận việc túi bụi, không còn thời giờ nghĩ tới chuyện riêng tư. Đây là thời điểm lịch sử cực kỳ nghiêm trọng.

Lúc bấy giờ, chú với thím Năm đối với tôi như bát nước đầy. Sen thì nét mặt vui hẳn lên. Nhưng thấy tôi quá bận với công tác, cho nên hai đứa không có thời giờ nào để tâm sự với nhau. Còn tôi thì nhớ tới cái “đau” của bà má Sen từng khinh khi kiếp nghèo của mình ra mặt, khiến cho lòng tự ái bị tổn thương đau đớn, khác nào bị trúng đạn của trực thăng bắn trúng tim, cõi lòng đã tan nát, tình cảm tan biến theo mây gió tự lúc nào. Tôi vùi đầu lo công việc. Tổ chức phân công tôi phụ trách Đài phát thanh tại Cao Lãnh… Tình hình cứ thế mà thăng hoa. Mở cờ trong bụng.

Cán bộ kháng chiến được phân loại, sắp xếp kẻ ở người đi. Những người được đi ra Bắc thì lo chuyện lên đường. Còn số anh em ở lại, thì vẫn tiếp thu cơ sở tại thị trấn Cao Lãnh để hoạt động tuyên truyền với đồng bào thành. Hằng ngày, phát thanh tin tức thời sự nóng bỏng… với khí thế người đi giúp nước giờ này lên hương.

Thỉnh thoảng tổ chức chiếu phim tại sân vận động có chục ngàn đồng bào tham dự mít-tinh và xem phim. Phim trận chiến thắng Điện Biên Phủ là phim trắng đen, lại không có tiếng nói. Bộ phận chiếu phim gắn micro tại nơi máy chiếu để cho tôi đàn mandoline và hát minh họa rất xôm – “Bao chiến sĩ anh hùng”.

Những ngày công tác tại thị trấn Cao Lãnh, thím Năm dẫn Sen đi ra thăm nhưng vì bận việc liên tục nên đôi bên không có thời giờ để nói chuyện với nhau nhiều. Nhớ mãi đôi mắt quyến luyến!

Cho đến ngày cuối cùng chấm dứt nhiệm vụ, tôi thuộc thành phần “ở lại” miền Nam để tiếp tục hoạt động dân vận khi bắt đầu có cuộc tuyên truyền vận động cho “Tổng tuyển cử hai năm sau”.

Hôm đó, thị trấn Cao Lãnh cực kỳ nhộn nhịp sôi động với giờ phút chia tay nhau. Em rể tôi lái chiếc xe Peugeot 203 chở em gái và mẹ tôi từ Sài Gòn xuống rước tôi về Sài Gòn.

Khi xe bắt đầu lăn bánh, tôi chợt nhìn thấy thím Năm dắt Sen vừa xuất hiện. Lúc đó, tôi chỉ còn biết ngó ngoáy lại, nhìn nhau qua màn lệ mỏng, chứ chẳng có cơ hội nào để nói với nhau lời tạm biệt! Và một lời hứa thiêng liêng: “Anh sẽ về lại với em!”.

Thấy thím Năm với Sen đứng như hai bức tượng xa mờ dần, tôi thấy cay mắt và chợt nhớ tới lời thề với Sen trước miếu Thổ Thần trên cái gò giữa đầm sen bát ngát, rồi tự nhủ trong lòng: Không giữ trọn lời thề với nhau biết ngày nào ông Thổ Địa của Đồng Tháp Mười ổng sẽ vật mình đây! Tôi định có một ngày, đi một mình trở lại tìm Sen, nhưng rồi thời cuộc ác liệt liên tục như cơn “sóng thần” của chính quyền mới do Mỹ dựng lên. Nhiều cán bộ ở lại bị bắt, bị tù đày, thân phận như “cá nằm trên thớt”.

Bao nhiêu người trải qua 9 năm kháng chiến dầm mình trong chiến tranh mà không chết, nay lại sống những ngày bạc mệnh, biết bao mộng đẹp tan vỡ theo dòng đời chảy xiết.

Sen không biết tôi đã như thế nào. Còn tôi không biết Sen về đâu, về đâu. Bất cứ lúc nào, ngó thấy một đóa sen là tôi nhớ da diết, nhớ như điên về Đồng Tháp Mười… Nhớ về người con gái tinh khôi như hoa sen của lòng tôi!

Văn Lương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 448

Ý Kiến bạn đọc