Truyện ngắn

Nhớ rừng

 

Tôi phải mượn chữ của cụ Thế Lữ vì chỉ hai chữ này mới gói trọn đủ tâm tình của tôi với rừng quê tôi. Quê tôi, rộng là “Vùng Khu Bốn”, từ Thanh Hóa vô hết Thừa Thiên Huế. Xuống tí thì Quảng Bình, từ Cha Lo, Mụ Giạ đến Bãi Hà, Bến Quan. Gần hơn nữa là vùng Nam Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn). Dọc theo con đường sắt xuyên Việt, khu giữa ga Lạc Giao và ga Minh Lệ dài 7 km, là địa hạt của 4/9 xã vùng Nam nói trên. Con đường sắt như một dây cung giới hạn giữa rừng và đồng ruộng. Quê tôi là một trong những ngôi làng nằm gối đầu lên bìa rừng.

Rừng Trong Lời Kể

Song thân của tôi và các cụ cùng trang lứa nếu còn trụ thế thì khoảng 110 tuổi. Từ nhỏ tôi là đứa thích nghe chuyện cổ tích, chuyện xưa của người lớn nên thu thập được khá nhiều chuyện, cả trong huyền thoại, cả trong đời thực. Nghe chuyện của bố mẹ, bố mẹ lại có nguồn từ ông bà. Có nghĩa là cháu có thể biết những câu chuyện từ ông bà của mình, nguồn càng phong phú. Câu chuyện về rừng của bậc tiền nhân, không lớp lang, bài bản, không đầu không cuối, ngang đâu kể đó, nhớ gì nói đó, gặp sự gì có liên quan là nhắc nhớ cái đó. Người nghe không có ý định nhặt lấy để làm gì, chỉ là cái tính tò mò, hóng chuyện. Ấy thế mà bây giờ tôi cũng có một bức tranh rừng xưa thoáng đạt và phong phú…

So-634--Nang---Ngo-Thai-Hiep---Anh-1
Nắng – khắc gỗ – Ngô Thái Hiệp.

Rừng ngày xưa rộng, dài xanh tốt, thâm sâu, âm u và nhiều bí hiểm. Ngay sát con đường sắt đã có những cánh rừng nguyên sinh. Một trong những nguyên do các khu rừng nguyên sinh này còn tồn tại, cho đến thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX là do có những ngôi miếu thờ. Từ hướng ga Minh Lệ ra Bắc có rừng thông cổ, gần đập Rào Nan bây giờ (nay vẫn còn vài cây). Tiếp đến là miếu Ông Voi, Động Miếu l. Tiếp nữa là Động Nghè. Đằng sau các miếu thờ luôn là một khu rừng cấm. Những ngôi miếu này có từ lâu lắm, chẳng biết thờ vị nào và từ bao giờ, lớp như bố tôi cũng không rõ. Nói rừng cấm, nghĩa là khu rừng đó không ai dám đặt chân đến, không người nào dám đụng đến dù chỉ ngọn cỏ, chiếc lá. Có chăng thì con người chỉ có thể uống dòng nước khe trong ngọt từ núi chảy xuống. Chính vì vậy mà rừng càng trở nên thâm sâu bí hiểm. Nói về sự rậm rạp của rừng thì nhiều ví dụ lắm, nhưng cũng có thể tóm gọn vài điển cố. Làng tôi là làng Biểu Lệ, có một cái lũy ngay sau làng. Lũy bắt đầu từ bìa rừng chạy sát phía sau kéo dài đến một cái bàu rộng, đầy nước quanh năm. Bức lũy tự nhiên này có thể nói là sự tiếp nối của rừng, một khu rừng thu nhỏ. Cây thì trên rừng có gì dưới lũy có đấy (không có gỗ to). Động vật thì chim muông rùa rắn, chồn cáo, sóc thỏ đủ cả. Có lần ông Ba Mươi còn về ngồi chồm hổm trong bụi chờ bắt trâu bò. Nhà nuôi trâu bò lợn phải làm chuồng kiên cố, thế mà có lần Ông ấy về làng vác lợn ngang nhiên về rừng, trước những con mắt kinh hãi của dân làng. Theo lời bố tôi làng đã có hai người bị hổ ăn thịt khi đi rừng, một bị vồ ngay ở đám rộng bìa rừng. Lợn rừng hồi đó cũng nhiều, đi từng đoàn, từng tốp như đàn bò, lớn nhỏ tấm bé đủ cả. Có những mùa khoai, lợn rừng kéo về ủi sạch.

Đường sắt Bắc – Nam do người Pháp làm từ trước. Trong kháng chiến 9 năm, Việt Minh đã “lột sắt đường tàu rèn thêm đao kiếm”, chỉ còn lại đống đá rải đường như luống khoai dài tít tắp. Quê tôi, ngay từ ngày đầu Toàn quốc kháng chiến Việt Minh đã thành lập Ủy ban kháng chiến cấp xã. Ủy ban kháng chiến xã Lệ Trạch (gồm 3 xã: Quảng Trung, Quảng Tân, Quảng Tiên, thị xã Ba Đồn ngày nay). Quân Pháp đóng hai đồn binh ở Minh Lệ và Tiên Lệ; Biểu Lệ quê tôi lọt vào vùng tạm chiếm. Du kích xã nhiều khi bị địch đuổi rát, chỉ cần nhảy qua đường tàu, vào đến bìa rừng là quay lại thách chửi mà lính Pháp không làm gì được. Bởi ngay sau lưng họ là rừng già. Ủy ban kháng chiến xã Lệ Trạch đóng trại chỉ cách đường tàu chừng 700m mà quân Pháp chưa dám mò tới.

Rừng Trong Ký Ức

Ngày chưa đi học, chừng 5, 6 tuổi, tôi theo anh trai lên rừng, chỉ leo lên đường tàu ngó qua. Đầu óc của cậu bé tuổi nhi đồng không cảm nhận được là bao. Chỉ thấy rừng to lớn, âm u và đáng sợ. Khi đến 12 tuổi thì tôi thực sự đến với rừng, vào rừng. Các bạn nhỏ cùng lứa theo các anh chị lên rừng chặt củi. Chặt củi tươi ngày một đến hai gánh. Gần nhất là để đòn xóc ngay cạnh đường tàu, xa hơn là vào sâu chừng 500 – 1.000m. Cảm giác đầu tiên vào rừng rất thích. Cây cối bạt ngàn xanh um tùm, đủ các loài hoa khoe sắc, tỏa hương thơm. Mà chẳng cứ gì hoa; cây, lá, dây leo, cỏ dại cũng thơm: thơm mùi rừng. Lớn lên chút tôi bắt đầu đi chặt gỗ. Chặt gỗ phải đi xa hơn vài cây số, sáng đi tối mới về. Rừng vùng này mới thật là rừng, rừng nguyên sinh chính hiệu. Tầng thấp thì cỏ tranh, lau lách, cao thì lùm bụi, hơn nữa thì cây vừa, nữa thì cây to cao vút hết tầm mắt. Xen vào là những loài dây leo. Song mây, dây rừng và nhiều loài không tên gọi khác. Có những sợi mây dài lắm, leo từ sườn này qua sườn khác. Buổi sáng mà ở trong rừng thì mới thật là tuyệt, bầu không khí thơm thơm dịu mát, không đâu có được. Tiếng chim hót vang rừng, không thể biết được những loài gì và có bao nhiêu. Đúng là bản nhạc rừng, không có ai làm nhạc trưởng. Trưa ở rừng cũng thật đáng nhớ. Ngồi trên bãi cỏ cạnh dòng suối lớn, cây bên suối vút cao, vít ngọn như một chiếc ô khổng lồ, đúng giữa ngọ vẫn không giọt nắng đến đầu.

Rừng hào phóng và rất tốt bụng, cho con người rất nhiều thứ mà chưa cần nhận lại gì cả. Cứ nhìn thì biết. Rừng cho gỗ làm nhà, lều trại ăn ở truyền đời, những con thuyền nhỏ to ra sông, ra biển. Gồi cọ, tranh lá lợp nhà, dây, song mây chằng buộc, áo tơi, nón lá… cày bừa cuốc thuổng, dao, rựa nhỏ to đều là của rừng. Rừng cho quà ăn vặt, mùa nào thức đó: sim tháng 6, móc, dâu tháng chạp, hạt dẻ về thu… Rừng cho cây làm thuốc: củ mài (hoài sơn) khúc khắc cù liền, hoàng đằng, canh ki na. Rừng cho củ nâu, vỏ nâu nhuộm vải, cho nguyên liệu làm hương, làm phẩm màu không độc…

Rừng còn cho con người một món quà quý hơn những gì đã nêu: đó là nước. “Nắng mưa là việc của trời”. Đúng vậy! Nhưng rừng lại như ông già tài tình và tốt bụng, hóa giải tất cả những gì mà trời đổ xuống. Mưa như sương sa, mưa như giăng lưới, mưa ào ào, mưa như trút… tất cả đều được rừng hứng nhận bằng 5 tầng lá: tán cây cổ thụ, cây tầm trung, cây tầm thấp, cây bụi cùng dây leo và thảm thực vật. Nước từ núi cao, đồi, cồn bãi chảy thành suối lớn dần, lớn dần. Cứ giữa hai vách núi là cái khe, rất nhiều khe đổ xuyên qua đường tàu ra ruộng, về với xóm làng, với bàu, với hói, rồi từ hói ra sông. Với nhịp điệu đều đặn như thế thì con người sống chung với thần Nước khá ôn hòa. Dăm năm, mươi năm một bận trời làm mưa lớn, Ngài Thủy tinh nổi cơn điên hận tình cũng làm lũ dữ, âu cũng là hệ lụy tự nhiên. Nhưng tần suất không dày và mức độ không dữ dội như ngày nay.

Nước rừng đổ ra tạo nên hai vùng ruộng lầy ngay cạnh con đường sắt xuyên Việt. Một đầu làng Biểu Lệ, một ở Tiên Lệ. Ruộng lầy ở Biểu Lệ có thể ví như đầm lầy Nam bộ. Ruộng ở đây không dùng trâu bò cày được mà chỉ người cuốc, bùn lầy lún trên đầu gối. Chỗ sâu nhất gọi là mẫy. Mẫy là rốn của lầy, con trâu nào vô phúc ra ăn ở mẫy thì bị chìm xuống như ta ném hòn cuội sa xuống suối. Nghe kể, làng tôi đã có con trâu mỏng phận chìm nghỉm xuống mẫy làng. Ở đây chỉ cấy được cây lúa nếp giống hiếm quý gọi là nếp cò (nay đã mất nguồn gen). Còn nhớ câu ca xưa “Trèo lên cây đa ba chánh bảy chồi/ Lấy chồng Biểu Lệ ăn xôi nếp cò”. Ruộng lầy ở làng Tiên Lệ cũng trồng được nếp cò, nhưng hình như lầy ở đây sâu hơn. Ngay sát cạnh đường tàu có cái trằm: Trằm Tiên Lệ. Trằm Tiên Lệ có thể coi như vùng “Đất rừng phương Nam” thu nhỏ. Đây là tư gia của nhiều “cụ” già vài chục đến hàng trăm tuổi. Cụ Rùa to như vành nón, cụ Tỵ gấp đôi đòn gánh, cụ Lóc gần sãi tay.

Rừng Tan Dần Trong 4.0

Khoảng năm 1990, một lần tôi về thăm quê thấy người làng rủ nhau đi hái củi. Hành trang của họ khiến tôi quá bất ngờ: đôi quang gánh và cái cuốc chim nhỏ. Hỏi ra mới biết họ vào rừng tìm lại những nơi trước đây chặt gỗ làm nhà để đào rễ về làm củi. Ở làng tôi, nơi con trâu xấu số năm xưa sa xuống mẫy nay đã thành cái sân bóng mini cho lũ trẻ trong xóm. Ngôi nhà của các “cụ” ở trằm Tiên Lệ nay là nhà văn hóa thôn khang trang sáng đẹp. Thật là sự thay đổi vượt mọi trí tưởng tượng!

Rừng mươi năm gần đây bắt đầu… xanh lại, cũng là nhờ chính sách 327 của Nhà nước. Bây giờ nếu cho bạn một đống củi ở bìa rừng chắc bạn cũng từ chối mang về vì bếp bạn đã có gas, có từ. Tuy vậy, trộm nghĩ màu xanh đó mới chỉ là da của rừng, chưa thể thành xương, thành cơ, thành tim, thành não, để có rừng như xưa. Tôi thầm gọi: Rừng ơi!

Trịnh Xuân Bái
(GV Trường Cao đẳng Y tế Quảng Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 634

Ý Kiến bạn đọc