Tản văn

Nhớ rau rừng!

 

Sống giữa phố phường đông đúc, chợ, siêu thị, hàng hóa bày bán thứ gì cũng có. Thực phẩm thì ê hề, rau xanh, củ quả loại nào cũng đẹp, cũng mướt. Nhiều thật, nhưng không dám ăn vì sợ ngộ độc. Sợ không phải do đa nghi, mà sợ đúng, sợ chính xác!

Cha ông ta xưa có câu “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. “Đau uống thuốc” thì hiển nhiên rồi, còn “đói ăn rau”, chỉ đúng ngày xưa, chứ thời buổi rau công nghiệp, rau hóa chất, rau tăng trưởng như bây giờ, ăn vào chỉ có thiệt thân.

Rau đối với sức khỏe đời sống con người là vô cùng cần thiết. Ăn rau để khỏe, ăn rau để kháng bệnh, trừ bệnh, chứ ăn rau để gánh bệnh thì chả ai dám ăn. Có một nghịch lý sờ sờ, người trồng rau không dám ăn rau, người trồng quả không dám ăn quả. Đơn giản, họ biết rõ trong mớ rau, quả ấy có rất nhiều độc tố, thứ độc mà họ tự tay xịt, ngâm, ủ. Thế rồi… tự nhiên trong lòng dâng lên nỗi nhớ, nhớ rau rừng.

So-599--Anh-minh-hoa---Nho-rau-rung---Anh-1

Rau rừng, cái thứ rau mọc hoang dại ở bờ sông, bờ ruộng, bên mương khe, hóc núi, nó leo bám trên cây rừng, lùm bụi, chẳng cần phân thuốc, tưới tắm chi. Nhưng ăn vào, không những ngon mà còn an toàn và có lợi cho sức khỏe. Nhiều loại rau rừng chính là thuốc quý trị bệnh nan y.

Thực ra, ở những vùng nông thôn ngày ấy, rau vườn, rau tự trồng cũng toàn rau sạch, không có chuyện phun xịt đủ loại hóa chất độc hại như bây giờ. Rau ăn, lúc nào cũng có sẵn, cần thì ra sau vườn hái vào, rửa sơ là có rau dùng.

Nhưng chính món rau rừng mới là món ăn được bà con nông dân ưa thích hơn cả. Loài rau hoang dã, mộc mạc này nó ngon tự nhiên, ăn vào là nhớ, là ghiền. Đơn giản như mớ lá khổ qua rừng nấu với vài con tôm khô, húp miếng canh nóng, mũi nghe nồng nồng, lưỡi nghe đắng đắng… ngon đến biết!

Hồi còn ở Huy Khiêm, Tánh Linh, Bình Thuận, rảnh rỗi tôi vẫn thường theo bà chị ra sau vườn hái rau dền. Trời mưa lâm râm, ăn cơm nóng gạo lúa mới với rau dền luộc chấm mắm cái, ngon lạ. Mẹ tôi thì thích món canh cải tàu bay, loại cải rừng thân hơi cao, cọng mềm, lá mướt, luộc hoặc nấu canh đều ngon. Cứ vài hôm bà lại giục chị em tôi đi hái cải tàu bay ngoài bờ bụi về nấu canh. Cải tàu bay hồi ấy mọc hoang rất nhiều, những vùng đất tốt, đất ẩm chúng mọc thành từng đám, tha hồ mà chọn những cây cải non tươi để hái đem về.

Cha tôi rất thích món lá giang nấu ếch đồng. Chỉ một tô canh lá giang là cha và mấy ông bạn có thể lai rai suốt buổi.

Hôm nào thèm rau má, chị em tôi rủ nhau ra bờ ruộng, bờ khe nhổ. Rau má nấu với tôm, tép đồng, húp miếng canh ngọt lịm. Ở thôn quê, thôi thì rau rừng đủ loại, nào rau ngót, rau sam, rau càng cua, rau dền, bình bát, rau dấp cá, lá chua, lá giang, đọt song mây… mỗi thứ đều là món ăn ngon, vị thuốc quý.

Bộ đội ta trong kháng chiến, sống chủ yếu trong rừng và rau rừng chính là người bạn đồng hành với họ năm này qua năm khác. Nghĩ “văn nghệ” một tí, rau rừng cũng đã góp phần trong chiến thắng của bộ đội ta. Không có rau rừng, đời sống của bộ đội chắc khó khăn gấp bội!

Rau rừng bây giờ vẫn có, vẫn được bày bán ở chợ, nhưng cái “tinh khiết” của nó không còn. Người ta đem về trồng, và muốn cho rau tốt, rau xanh, rau đẹp, thu hoạch nhanh, lợi tức nhiều, họ lại xịt hóa chất, phun thuốc tăng trưởng. Thành ra rau rừng chỉ là danh nghĩa, còn thực chất vẫn là rau độc.

Nên chi nhớ, nhớ lắm bữa ăn có rau rừng ngày ấy!

Ngô Văn Tuấn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 599

Ý Kiến bạn đọc