Tản văn

Nhớ mãi chiến công Chùa 17

Đọc báo Quân đội Nhân dân, số ra thứ hai ngày 3/9/2002, tin trên trang nhất: “Quân khu 7: 992 hài cốt Liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam được cất bốc an táng”. Tôi xúc động nghẹn ngào, hy vọng các anh đã trở về Tổ quốc sau 32 năm xa cách và bồi hồi nhớ lại chiến công oanh liệt, tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh anh dũng vô song của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 bộ binh (Tiểu đoàn 8) và Đại đội 17 pháo ĐKZ 75 (Trung đoàn Z15 Anh hùng) trong chiến dịch “Chenla 2” (tìm diệt) của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến công càn quét, xâm lược vùng biên giới Đông Bắc Campuchia.

Chập tối, ngày 12/5/1970, trận địa chống càn của Tiểu đoàn 8 ở phum Soài Chếch và phum Ple Đôn, phía Nam thị trấn Công Pông Tà Béc, tỉnh Swây Riêng (Campuchia) đã im tiếng súng. Trên trời xuất hiện chiếc máy bay vận tải quân sự C130 của Mỹ, không bật đèn tín hiệu, đen sì như con quạ sắt khổng lồ, lầm lũi lượn vòng, liên tục thả pháo sáng và bắn như vãi đạn 20 ly xuống nhằm uy hiếp đối phương và trấn an tinh thần lũ địch dưới mặt đất. Suốt ngày, Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) Sài Gòn có Chi đoàn xe tăng M141 và xe bọc thép M113 đi cùng, được máy bay trực thăng vũ trang dẫn đường và không quân, pháo binh yểm trợ hỏa lực tối đa, vẫn không đánh chiếm nổi trận địa của ta, đành rút quân ra cánh đồng trống phía xa để co cụm qua đêm. Chúng tôi rời công sự chiến đấu lên mặt đất ăn cơm và chuẩn bị hành quân di chuyển. Bỗng Tiểu đoàn phó 1 Vũ Bẩy đến tìm và giao nhiệm vụ cho tôi là Trợ lý quân lực Tiểu đoàn 8 xuống Đại đội 7 nắm tình hình quân số và vũ khí trang bị sau ngày chiến đấu. Anh tỏ ra băn khoăn, lo lắng cho tình hình Đại đội 7, làm nhiệm vụ độc lập tác chiến, đánh chốt chặn địch ở phum Ple Đôn, cách đội hình của Tiểu đoàn 8 hơn 1km, suốt ngày phải hứng chịu đạn bom ác liệt, đến bây giờ vẫn chưa có tin tức gì? Vì đường dây thông tin hữu tuyến bị đứt. Tôi vội xốc chiếc bồng giải phóng và khoác khẩu súng AK lên vai, băng qua cánh đồng trống đang hầm hập hơi nóng của những ngày giữa mùa khô, mặt đất nứt nẻ, cong vênh, phồng rộp như bánh đa nướng, tan ra nát vụn thành tiếng kêu roàn roạt dưới mỗi bước đi. Tôi nhằm hướng lửa cháy sáng và khói đen cuồn cuộn bốc lên, phủ kín rặng dừa và hàng cây thốt nốt trước mặt, vừa đi tôi vừa suy nghĩ về tình hình chiến sự đang diễn ra rất gay go, quyết liệt hai tháng nay trên vùng biên giới của hai tỉnh Kiến Tường và Kiến Phong (Việt Nam), giáp với hai tỉnh Swây Riêng và Plây Veng (Campuchia)… Mới hôm nào, nơi đây được mệnh danh là “Thủ đô”, là chiến khu giải phóng của quân và dân miền Trung Nam bộ, nơi có những địa chỉ đầy ấm áp thân thương: Ba Thu, Hòa Bình, Bình Phong Thạnh, Ban Chăn, Xóm Phố, Tà Nu, Tân Lèo. Nơi có Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 (cũ), các kho hậu cần chiến lược, Bệnh viện K20, là đầu cầu nối liền với vùng giải phóng miền Đông Nam bộ và miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ nhiều năm nay, hàng ngàn hộ dân yêu nước của 6 tỉnh miền Trung Nam bộ đã anh dũng đấu tranh thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đi theo cách mạng. Về đây sinh cơ lập nghiệp, khai hoang lập ấp, xây dựng căn cứ giải phóng. Dẫu cuộc sống còn vô vàn khó khăn gian khổ, dựng tạm mái đưng che mưa nắng, trải chiếu móp trên nóc hầm nổi để ngủ qua đêm, bát cơm đổi bằng mồ hôi, máu và nước mắt, nhưng tấm lòng người dân vẫn chí cốt kiên trung với sự nghiệp cách mạng. Người người đều ra sức thi đua lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, không khí diễn ra tấp nập, khẩn trương, vui vẻ trên đôi bờ sông Cà Lồ bé nhỏ, thẳng như sợi chỉ căng dọc biên giới. Mùa khô nước sông cạn đến thắt lưng, luôn vẩn đục vì lũ trẻ lùa đàn trâu tới tắm mát nô đùa. Phía sau các ấp giải phóng của ta là các phum, sóc của nhân dân nước bạn Campuchia, từ bao đời nay vẫn sống thanh bình.

So-518--Nho-mai-chien-cong-Chua-17---Anh-3
Tác giả (bên trái) và trợ lý cán bộ Đào Thái Hà, ngày 15/5/1975 tại Nhà Bè (Sài Gòn).

Trước Tết năm 1970, Trung đoàn Z15 về đây đóng quân, chuẩn bị thọc sâu xuống đồng bằng sông Cửu Long, làm nhiệm vụ đánh phá kế hoạch “Bình định cấp tốc” và âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Để thực hiện nhiệm vụ này, các Chỉ huy cấp trưởng quân sự từ Đại đội trở lên đã đi trước nghiên cứu chuẩn bị chiến trường. Ngày 15/2/1970, Tiểu đoàn 7 xuất kích, xuống đứng chân hoạt động ở địa bàn huyện Kiến Văn (Kiến Phong). Trên tuyến biên giới còn lại Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9, Ban chỉ huy Trung đoàn (hậu phương) và 8 Đại đội trực thuộc: C16 cối 82 ly, C17 pháo ĐKZ 75, C18 pháo phòng không 12 ly 8, C19 công binh, C20 thông tin, C21 trinh sát, C22 vận tải và C23 quân y. Tất cả đang trông đợi ngày xuất phát về chiến trường, tinh thần quyết tâm chiến đấu của đơn vị đều rất cao. Ngày 1/3/1970, bỗng có lệnh của cấp trên: – Đơn vị dừng lại, sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị đều cảm thấy hụt hẫng, trong thâm tâm mỗi người chúng tôi không ai muốn đem xương máu của mình cống hiến cho dân tộc và quốc gia khác. Nhưng thông qua học tập chính trị, chúng tôi hiểu được tình hình nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới hết sức nặng nề, gay go và phức tạp. Để cứu nguy cho thất bại tất yếu của âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn liều lĩnh mở cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn cõi Đông Dương, tiến công các vùng giải phóng ở biên giới và càn quét xâm lược vùng Đông Bắc Campuchia, hòng (như lời chúng huênh hoang tuyên truyền): “Bẻ gãy xương sống Cộng sản”, “Vào hang ổ của Cộng sản để tìm và diệt”. Địch mở chiến dịch càn quét quy mô lớn, lấy tên chiến dịch là “Chenla 2” (tìm diệt). Chúng sử dụng toàn bộ các sư đoàn chủ lực của Vùng 3, Vùng 4 chiến thuật, được không quân Mỹ yểm trợ tối đa, kể cả máy bay B52 ném bom chiến lược. Phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, quân và dân miền Trung Nam bộ nhận thấy đây là thời cơ mới có lợi cho cách mạng, xác định tinh thần quyết tâm đánh thắng và bẻ gãy cuộc càn, chốt cứng, chặn đứng, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt, phát động chiến tranh nhân dân, tiêu hao tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, giam chân địch sa lầy ở chiến trường Đông Bắc Campuchia, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam Việt Nam phát triển, giúp đỡ nhân dân Khơme đứng lên tự giải phóng đất nước. Đúng như cấp trên nhận định: Ngày 10/3/1970, đế quốc Mỹ xúi giục và tiếp tay cho bọn phản động Lon Non làm cuộc đảo chính quân sự, lật đổ Chính phủ hợp pháp của Quốc trưởng Norodom Xihannouk, lập nên chính quyền bù nhìn, tay sai thân Mỹ ở Phnôm Pênh (Campuchia). Ngay lập tức chúng ra mặt chống phá cách mạng Việt Nam, trắng trợn tuyên bố: Cho phép không quân Mỹ ném bom không hạn chế và chính quyền Sài Gòn đem quân càn quét xâm lược Campuchia, tàn sát dã man Việt kiều và dìm nhân dân Khơme trong máu lửa. Trên biên giới miền Trung Nam bộ, sáng ngày 15/3/1970, Sư đoàn 9 Sài Gòn đồng thời tiến công vào Xóm Phố và Tà Nu. Ngay từ phút đầu, chúng đã bị Tiểu đoàn 8 ở Xóm Phố và Tiểu đoàn 9 ở Tà Nu chặn đánh quyết liệt, bắn cháy 16 xe tăng và xe bọc thép, tiêu diệt hơn 100 tên địch, khiến chúng hoảng hốt không dám vượt sông Cà Lồ, tiếp tục dùng hỏa lực bom, pháo bắn phá dã man hủy diệt, gây cho ta rất nhiều thiệt hại về người và của. Sau trận này, cấp trên nhận thấy tình hình tương quan lực lượng và địa hình mùa khô đồng bằng trống trải gây bất lợi cho ta tác chiến tập trung. Mặt khác, để bảo tồn lực lượng chiến đấu lâu dài, khắc phục khó khăn về quân số, thiếu hụt, chưa có bổ sung. Qua mấy trận đánh lớn, ác liệt, đơn vị đã bị thương vong quá một nửa, mỗi Đại đội bộ binh chỉ còn khoảng 40 tay súng, trang bị vũ khí đạn dược cũng bị tiêu hao rất nhiều. Đặc biệt khó khăn về lương thực, thực phẩm, đơn vị phải tự túc tìm nguồn tại nơi đóng quân. Vì các kho hậu cần dự trữ chiến lược của Quân khu 2 (cũ) đã bị tên Mười Hòa (Nguyên Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu) đầu hàng, khai báo, chỉ điểm cho địch đánh phá. Cấp trên ra lệnh cho Trung đoàn Z15 từng bước rút lui sâu vào đất bạn, phân tán nhỏ lẻ, tổ chức những trận đánh then chốt ở nơi xung yếu, đánh quần lộn tạo thế cài răng lược, liên tục tiến công tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, không cho chúng ăn ngon, ngủ yên. Đồng thời đơn vị chú trọng công tác tuyên truyền vận động đồng bào Khơme ủng hộ quân Giải phóng Việt Nam, đứng lên làm cách mạng giải phóng quê hương đất nước Chùa Tháp yêu quý. Nhằm giành thế chủ động trên chiến trường, căng kéo lực lượng địch, dụ chúng vào sâu đất Campuchia để ta tiêu diệt, rạng sáng ngày 17/3/1970, ta bí mật bất ngờ dùng Tiểu đoàn 9 tiến công bọn ngụy Lon Non ở Chi khu Niếc Lương, Tiểu đoàn 8 tiến công địch ở Chi khu Công Pông Tà Béc, ta giành thắng lợi lớn, hoàn toàn làm chủ tuyến Quốc lộ 1, đoạn dài hơn 50km, mở ra vùng giải phóng rộng mênh mông nối liền với Quốc lộ 10, Quốc lộ 13 và Quốc lộ 22 của miền Đông Nam bộ, phá thế bao vây o ép từ phía sau của địch. Quân Sài Gòn vô cùng bị động, lúng túng, chúng vội vàng dùng máy bay trực thăng đổ quân ứng cứu đánh chiếm lại hai Chi khu trên vào ngày 18/3/1970. Sau đó chúng tập trung càn quét phía Nam Quốc lộ 1. Liên tục trong 2 tháng qua (10/3/1970 – 10/5/1970), ngày nào Tiểu đoàn 8 cũng tiến công tiêu diệt địch. Ngày 11/5/1970, địch dùng 60 xe tăng và xe bọc thép tiến công, vây bắt nhân dân và sư sãi đang sơ tán ở chùa Trà Tia, đưa lên xe để làm lá chắn cho chúng tiến qua trước trận địa phòng ngự của Tiểu đoàn 8. Đợi đến tối địch co cụm, ta dùng hỏa lực đạn cối 82 ly, ĐKZ 75, 12 ly 8 và B40, B41 tập kích bắn cháy tại chỗ 20 xe tăng và tiêu diệt hơn 100 tên, cứu đồng bào Khơme thoát khỏi vòng vây của địch. Vô cùng cay cú với thất bại này, sáng ngày 12/5/1970, địch lồng lộn tiến công phum Soài Chếch, rồi bị quân ta chặn đánh ở phum Ple Đôn, trận đánh diễn ra ác liệt suốt ngày hôm nay…

Đang mải mê suy nghĩ, tôi bất ngờ nghe tiếng quát:

- Thằng nào đấy, tránh ra cho cáng thương binh đi!

Tôi vội dạt ra, nhường đường và nhìn rõ các chiến sĩ Đại đội 22 vận tải cùng một số thanh niên Khơme đóng khố cởi trần, đang khiêng hơn 10 võng thương binh nặng vượt qua. Tôi ghé tai một chiến sĩ hỏi nhỏ:

- “Cê 7” bị thương vong nhiều không đồng chí?

Người chiến sĩ ấy vẫn tiếp tục bước đi và làu bàu chửi:

- Hỏi cái con củ c… “Lũ lính cậu” trên Tiểu đoàn bộ giờ mới dám chui dưới hầm lên, vác mặt tới lại còn hỏi!

Tôi im lặng, hối hận vì sự chậm trễ của mình nên vội vàng phóng như bay vào phum Ple Đôn. Trước mặt tôi là cảnh tan hoang đổ nát, mặt đất bị xới tung, chi chít những hố bom pháo chồng lên nhau như mắt sàng, không gian khét mùi khói thuốc súng và tanh nồng mùi chết chóc. Qua ánh lửa bập bùng từ những ngôi nhà sàn và cây rơm rạ cháy, tôi nhìn thấy bóng các bà mẹ Khơme kêu khóc tìm chồng con và người thân. Tôi vội bước ra tiền duyên của Đại đội 7, nơi có bờ đất cao chạy dài trên những đìa cá cạn nước, nhận ra các chiến sĩ C17, C22 và C23 đang hối hả đào bới hầm sập tìm thương binh cứu chữa và tìm anh em đã hy sinh để mai táng. Gặp tôi, Chính trị viên Bàng Chấn Hùng, 28 tuổi, quê ở thị xã Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1964, vừa nói vừa khóc:

- “Cê 7” bị thương vong hết rồi, chỉ còn lại tao và thằng Đình y tá, mày ơi!!!

Tôi cũng ứa nước mắt giàn giụa, lựa lời chia sẻ đau buồn và động viên. Anh nói tiếp:

- Sáng nay, một tốp máy bay trực thăng lên quần đảo ở phum Soài Chếch, sau đó 50 chiếc xe tăng, xe bọc thép chở đầy lính Sài Gòn đi hàng dọc tiến vào. Chúng bị Đại đội 6 và Đại đội 8 của ta nổ súng chặn đánh quyết liệt ở đó, nên vội chạy dạt sang phum Ple Đôn để tiếp tục triển khai tiến công. Đại đội phó 1 Đại đội 7 Mai Văn Trùy thấy vậy liền ra lệnh cho 3 khẩu súng B40 và B41 của ta bắn liên tiếp 10 quả đạn, làm cháy 10 xe tăng và xe bọc thép địch. Đồng thời các tay súng trung liên, tiểu liên của ta bắn quét vào đội hình bộ binh của địch, làm chết hơn 50 tên. Bị hở sườn, địch hốt hoảng vội kéo nhau ra giữa đồng, gọi máy bay đến ném bom, pháo bắn nhiều đợt, máy bay trực thăng lên quần đảo bắn phá. Mãi đến chiều, yên trí không còn một sinh vật nào sống nổi nữa chúng mới hò hét cho bộ binh tràn vào. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 bình tĩnh đợi địch đến sát mép bờ công sự mới bất ngờ dũng cảm xông lên nổ súng và giương lê đánh giáp lá cà với địch, kiên quyết chiến đấu đến viên đạn cuối cùng mới chấp nhận hy sinh. Quá khiếp sợ trước tinh thần chiến đấu của quân ta, địch tháo chạy. Nhưng rồi chúng cũng nhận ra: Ta đã bắn hết đạn và tất cả đã hy sinh, nên cho xe tăng và xe bọc thép quay lại cứu những tên địch bị chết, bị thương và kéo những chiếc xe bị cháy ra xa. Chúng vô cùng độc ác, dã man và hèn hạ trả thù ta bằng cách kéo lê tất cả thi thể 35 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị hy sinh đặt thành hàng ngang, rồi cho xe tăng chạy qua và dùng bánh xích nghiền nát, máu thịt vương vãi khắp nơi thấm đỏ mặt đất. Đến giờ, xác anh em hy sinh đã được ta gom nhặt lại để mai táng, nhưng không thể nhận ra tên tuổi của ai nữa, đành để các anh mang theo xuống mồ một cái tên chung là các Liệt sĩ của Đại đội 7.

Nói đến đây, anh Hùng lại bật khóc nức lên, rồi anh ngồi xuống đặt tay lên một bọc nilon đựng thi thể anh em còn vương mảnh áo Polinphăng màu xanh rêu, anh nghẹn ngào nói tiếp:

- Đây là thằng Trùy, Đại đội phó 1, 24 tuổi, là giáo viên toán cấp 2, nhập ngũ năm 1968, cùng quê Thanh Hóa với tao. Tao nhận ra nó nhờ mảnh vải áo này tao vừa cho nó cái áo này tối qua, khi nó khoe gặp đồng hương mới vào cho biết: Sau khi nó đi B, vợ ở nhà sinh được con gái, giờ cháu đã 2 tuổi rồi… Ôi! Tao thương anh em, thương thằng Trùy quá mày ơi!!!

Nghe nói thế, Chính trị viên Đại đội 17 pháo ĐKZ 75 Nguyễn Xuân Hiền, sinh 1941, quê ở Hà Bắc (cũ) liền đứng bật dậy như chiếc lò xo bị nén căng cứng, anh giơ nắm tay lên ngang đầu, đôi mắt long sòng sọc, hàm răng nghiến chặt làm quai hàm bạnh ra và rít lên:

- Trùy ơi, các đồng chí ơi! Chúng tôi xin thề: “Khắc cốt ghi xương mối thù này, noi gương tinh thần chiến đấu hy sinh anh dũng của các đồng chí, quyết tâm tiêu diệt giặc trong trận đánh ngày mai!”.

Tất cả chúng tôi cùng đứng nghiêm, giơ cao cánh tay, ghi nhớ lời thề danh dự thiêng liêng với những đồng đội, đồng chí thân yêu đã hy sinh. Hình ảnh đau thương và uất hận, như một mũi dao sắc nhọn của kẻ thù, cứa vào trái tim tuổi trẻ chúng tôi, đã góp phần hun đúc thêm tinh thần ý chí chiến đấu, quyết tâm giành thắng lợi, không bao giờ khuất phục trước kẻ thù.

So-518--Nho-mai-chien-cong-Chua-17---Anh-4
Ba chiến sĩ của Đại đội pháo ĐKZ 75/Z15 tại Nhà Bè (Sài Gòn) sau ngày 30/4/1975.
Từ trái sang: Đặng Kim Chi (Phú Thọ), Nguyễn Ngọc Tăng và Bùi Đức Liễn (Hà Nội).

Quá nửa đêm hôm đó, chúng tôi mới hoàn thành xong nhiệm vụ, cùng đồng bào Khơme ở địa phương tổ chức mai táng cho các Liệt sĩ của Đại đội 7 tại phum Ple Đôn rồi cùng hành quân về phía Bắc cách Quốc lộ 1 hơn 1km.

Rạng sáng ngày 13/5/1970, Tiểu đoàn 8 đã triển khai chiếm lĩnh xong trận địa ở khu vực xung quanh phum Coóc Chó. Các Đại đội bộ binh 6, 7, 8 và Đại đội 9 cối 82 ly, pháo ĐKZ 57 của Tiểu đoàn 8 được bố trí hướng chính diện, có nhiệm vụ đón đánh địch dự kiến từ phía Nam Quốc lộ 1 đi lên.

Đại đội 16 cối 82 ly và Đại đội 17 pháo ĐKZ 75 của Trung đoàn đi phối thuộc, bố trí ở phía sau, quanh khu chùa Coóc Chó. Trong đó, Đại đội 17 ở rừng cây dầu dái sát đường cái xe bò toàn cát trắng, nhìn ra cánh đồng trống trải. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 8 ở dưới rặng tre, cách chùa Coóc Chó hơn 200m. Lúc 4 giờ sáng, tôi nghe thấy các đơn vị báo cáo qua máy điện thoại hữu tuyến tình hình với Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 8, đều đã triển khai xong công sự, sẵn sàng chiến đấu. Lúc 5 giờ sáng, trời chưa sáng rõ, tôi lại nghe Đại đội 17 báo cáo tin khẩn cấp: Chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Văn Lưu, đi vào chùa Coóc Chó lấy nước nấu cơm, đã phát hiện ra đoàn xe tăng địch 30 chiếc, lợi dụng đêm trăng sáng, không bật đèn pha, nổ máy nhỏ, từ thị xã Swây Riêng ở hướng Bắc, đi theo đường cái xe bò, chuẩn bị tiến vào phía sau chùa Coóc Chó. Chỉ huy đơn vị nhận định: Đây là lực lượng địch chi viện cho đồng bọn đã bị ta đánh thiệt hại nặng ngày 12/5/1970 ở phum Ple Đôn. Chúng tưởng ta vẫn còn bám trụ ở đó, chưa biết đơn vị đã rút về phòng ngự ở đây. Chính trị viên Đại đội 17 Nguyễn Xuân Hiền và Đại đội phó 1 Lê Đình Hạng, sinh 1940, quê ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đều nhận thấy đây là thời cơ tiêu diệt địch, để trả thù cho các đồng chí, đồng đội và đồng bào ta đã hy sinh, nên các anh đề nghị với cấp trên chấp nhận quyết tâm chiến đấu đánh địch. Chính trị viên Tiểu đoàn 8 Phạm Ngọc Khải, sinh 1945, quê ở Thái Bình và Tiểu đoàn phó 1 Vũ Bẩy, sinh 1944, quê ở Hà Nội, đều tỏ ra băn khoăn, lo lắng vì cán bộ và chiến sĩ Đại đội 17 là đơn vị pháo mà phải độc đảm chiến đấu, không có lực lượng bộ binh hỗ trợ sẽ gặp khó khăn rất lớn, nên các anh liền ra lệnh Đại đội 8 xuất kích chi viện cho Đại đội 17. 

Chúng tôi được lệnh xuống công sự sẵn sàng chiến đấu. Tôi đưa mắt nhìn qua mấy thửa ruộng trống, thấy rõ đội hình xe tăng địch đang tiến chậm chạp trên đường cái xe bò chạy ngang trước mặt. Khi chiếc xe tăng cuối cùng tiến qua phía sau trận địa Đại đội 17, tôi bất ngờ nghe thấy hai tiếng đạn pháo ĐKZ 75 của ta cùng nổ, làm 2 chiếc xe tăng địch bốc cháy. Rồi sau đó liên tiếp những quả đạn pháo ĐKZ 75 được bắn ra, thiêu cháy thêm nhiều xe tăng và xe bọc thép của địch, khói đen cuồn cuộn bốc lên trùm kín cả khu chùa Coóc Chó. Cùng lúc các loại đạn trên những chiếc xe bắt lửa, cháy nổ như ngô rang, thiêu chết lũ bộ binh địch đi cùng. Bọn địch sống sót, cuống cuồng hò hét nhau quay đầu xe lại, bắn như vãi đạn vào trận địa Đại đội 17. Rồi chúng gọi không quân Mỹ đến ứng cứu, yểm trợ. Hàng chục chiếc máy bay phản lực, trực thăng vũ trang thay nhau đến trút bom, bắn phá, quần đảo ngay trên đầu chúng tôi, nhằm hủy diệt trận địa ta và ngăn chặn lực lượng Đại đội 8 xuất kích chi viện cho Đại đội 17. Mãi đến chiều tối, địch mở đợt tiến công cuối cùng, dữ dội nhất, rồi bộ binh chúng liều chết xông vào trận địa ta. Lúc này, Đại đội phó 1 Lê Đình Hạng đã bị thương nặng. Dưới sự chỉ huy của Chính trị viên Đại đội Nguyễn Xuân Hiền, cán bộ và chiến sĩ Đại đội 17 dù đã bắn hết đạn vẫn dũng cảm xông lên giương lê đánh giáp lá cà, tiêu diệt địch, rồi các anh mới chấp nhận hy sinh. Trước giây phút quyết tử, các khẩu đội đã dùng thủ pháo phá hủy 2 khẩu pháo ĐKZ 75, kiên quyết không để vũ khí rơi vào tay địch. Đây là 2 khẩu pháo vô cùng giá trị, quý hiếm, mang dấu ấn lịch sử của đơn vị từ ngày tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Rồi theo đơn vị hành quân mang vác nặng vượt Trường Sơn. Đã từng bắn cháy hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và lô cốt địch, góp phần làm nên chiến công của đơn vị trên khắp các chiến trường đánh Mỹ. Phải đến tháng 10/1974, khi Trung đoàn Z15 trở lại chiến trường Vùng 4 – Kiến Tường, cấp trên mới bổ sung cho 2 khẩu pháo ĐKZ 75 cũ của Sư đoàn 5 bàn giao lại.

Đến tối, địch mở đường máu rút ra Quốc lộ 1, tôi được cử đi cùng anh Vũ Bẩy và các Trợ lý tác chiến, Trợ lý chính trị của Tiểu đoàn 8 xuống Đại đội 17 nắm tình hình. Cả đơn vị chỉ còn lại 3 cán bộ, chiến sĩ cũng đều bị thương, đang được các Sư, sãi trong chùa Coóc Chó băng bó, cứu chữa.

Chúng tôi chứng kiến cảnh tan hoang, đổ nát của trận địa Đại đội 17, hố bom chồng lên nhau, đất đá cày xới tung lên, toàn bộ khu rừng cây dầu dái lâu năm xanh tốt, giờ gãy đổ ngổn ngang, không thể tìm thấy một chiếc công sự nào của ta còn nguyên vẹn. Một cảnh tượng vô cùng xúc động đang diễn ra trước mắt, các vị Sư, sãi và đồng bào Khơme sơ tán trong chùa Coóc Chó đã cùng nhau chạy ra tìm kiếm, gom nhặt 32 thi thể cán bộ, chiến sĩ Đại đội 17 anh dũng chiến đấu hy sinh, chuẩn bị đưa đi an táng. Chúng tôi lặng lẽ cúi đầu, xúc động rơi nước mắt, nhận ra gương mặt các Liệt sĩ vốn quen thân: Anh Vạn, anh Mỹ, anh Xuân, anh Tôn, anh Nghệ, anh Kiệm… Tôi cúi xuống đưa tay vuốt mắt cho Chính trị viên Đại đội 17, Liệt sĩ Nguyễn Xuân Hiền, miệng anh vẫn hé mở, đôi môi như nở nụ cười mãn nguyện và nói với tôi: “Anh đã thực hiện đúng lời thề danh dự thiêng liêng với cán bộ và chiến sĩ Đại đội 7 tối hôm qua. Giờ xin vĩnh biệt tất cả các đồng chí, đồng đội để anh thanh thản ra đi”. Nhiều đồng bào Khơme khóc ròng. Ông Sãi cả, Trụ trì chùa Coóc Chó và các nhà Sư cùng chắp tay trước ngực cầu nguyện rồi đề nghị anh Vũ Bẩy, bằng tiếng Khơme mà tôi nghe, hiểu:

- Bộ đội Việt Nam đã chiến đấu hy sinh vì đất nước và nhân dân Campuchia. Chúng tôi rất biết ơn và tiếc thương các Liệt sĩ vô hạn. Nay chúng tôi xin được tổ chức lễ tang các anh em hy sinh tại chùa này, để đời đời thờ phụng, nhang khói và ghi nhớ công ơn.

Anh Vũ Bẩy gọi tôi đi ra cách trận địa khoảng 10m, đếm thấy 17 chiếc xe tăng, xe bọc thép của địch, nòng pháo gãy gục, xích xe tung ra, xăng dầu tràn mặt đất, tất cả đều cháy đen thui, còn nhiều xác lính địch chết cháy ở trong xe, bốc lên mùi khét và tanh tưởi đến ngạt thở. Anh Vũ Bẩy rất vui mừng phấn khởi với chiến công của đơn vị, nhưng vẫn tỏ ra băn khoăn, hỏi tôi:

- Đại đội 17 chỉ còn 16 quả đạn pháo ĐKZ 75, không có súng B40, B41 làm sao bắn cháy được 17 chiếc xe này? Chẳng lẽ lại có chuyện thần kỳ đạn pháo cũng xuyên táo địch như đạn nhọn.

Tôi chạy lại chỗ 2 chiếc xe cháy gần nhau, xem xét một lát rồi reo lên:

- Chiếc xe này bị đạn pháo ta bắn sượt qua làm đứt xích, rồi quả đạn lại tiếp tục xuyên vào thành chiếc xe bên cạnh, lỗ đạn khoan tròn như quả táo, theo nguyên lý của đạn lõm, phải khoan mới nổ. Đúng là có chuyện thần kỳ, đạn pháo bắn xuyên táo thật anh ạ!

Sau những trận đánh quyết tử, oanh liệt này của đơn vị gây cho địch những tổn thất nặng nề và tinh thần chúng hoang mang đến cực độ, bớt hung hăng càn quét, phải kéo quân về co cụm, đóng chốt phòng ngự ở thị trấn Công Pông Tà Béc và cầu Soài Chụm trên Quốc lộ 1. Với chiến công ở phum Ple Đôn, Đại đội 7 vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Chiến công giải phóng hạng Ba. Với chiến công ở chùa Coóc Chó, Đại đội 17 vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì. Cũng từ đó cán bộ, chiến sĩ chúng tôi lấy tên Đại đội 7 đặt cho phum Ple Đôn gọi là phum Cê 7 và tên Đại đội 17 đặt cho chùa Coóc Chó, gọi là chùa 17. Những chiến công này còn sống mãi trong lòng mỗi cán bộ và chiến sĩ đơn vị chúng tôi. Mỗi khi có dịp gặp nhau, anh em chúng tôi đều ôn lại với lòng tự hào và biết ơn vô hạn.

Đầu mùa khô năm 1979, trong chiến dịch Trung đoàn Z15 tham gia quân tình nguyện Việt Nam truy quét tàn quân Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Tôi có dịp may mắn đi ngang qua Chùa 17 (Coóc Chó), tưởng nhớ lại chiến công và sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 và Đại đội 17. Xác 17 chiếc xe tăng và xe bọc thép của địch bị các anh bắn cháy ngày nào vẫn đứng nguyên tại chỗ. Thời gian đã biến chúng thành những đống sắt gỉ, cho lớp lớp cây hoa dại mọc lên phủ đầy, cao mãi. Những bông hoa bìm bìm nở tím, hoa trinh nữ nở phớt hồng, hoa lạc tiên màu trắng, hoa đùm đũm màu vàng, hoa mâm xôi màu tía và hoa chiêng chiếng (hồng dại) màu đỏ… tất cả đan nhau kết lại như những vòng nguyệt quế rực rỡ đặt trên nhóm tượng đài Chiến thắng huy hoàng. Tôi vô tình hái một bông hoa chiêng chiếng, ủ vào lòng bàn tay để hít thở hương thơm thoang thoảng, hơi nóng bàn tay làm những cánh hoa từ từ khép lại, ứa ra một giọt sương long lanh, làm tôi bất giác nhớ đến lời thầm hứa hôm nào: “Sẽ có ngày tôi cố gắng cầm bút, mạnh dạn viết về gương các anh đã chiến đấu hy sinh, làm nên chiến công oanh liệt, bằng tinh thần chiến đấu ngoan cường và sự hy sinh anh dũng vô song, góp phần tô thắm truyền thống Anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Mãi đến ngày 15/2/2001, tôi mới nhận được thư của Đại tá Đào Thái Hà, 64 tuổi, nguyên Phó phòng Cán bộ của Cục Chính trị Quân khu 7, đã nghỉ hưu ở Đồng Nai, hiện trong Ban liên lạc Cựu chiến binh của đơn vị, tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong thư anh yêu cầu tôi cung cấp thông tin về các đồng đội của đơn vị đã hy sinh, trong khi làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia những năm 1970 – 1971, góp phần nhỏ bé của mình vào nhiệm vụ tổ chức tìm kiếm, cất bốc, an táng hài cốt các Liệt sĩ. Tôi vô cùng xúc động, suy nghĩ và nhớ lại những năm tháng oanh liệt ấy, rồi biên thư trả lời, cung cấp đầy đủ thông tin mà tôi biết. Tôi cũng xin tình nguyện gia nhập vào đội quân quy tập hài cốt các Liệt sĩ để tìm đón các anh về Tổ quốc, mong trả được một phần nhỏ bé công ơn to lớn của các anh và hoàn thành nghĩa vụ của những người đang sống.

Từ đó đến nay, tôi vẫn phấp phỏng ngày đêm chờ đợi và hy vọng. Mỗi lần đọc báo hoặc nghe đài thấy mục “Nhắn tìm đồng đội”, tôi lại chăm chú theo dõi và lòng rộn lên, nhớ tới hình ảnh những bông hoa đủ sắc màu rực rỡ, tỏa ngát hương thơm, như đốm lửa sáng lung linh bất tử, quanh ngôi chùa 17 (Coóc Chó) trên đất nước Chùa Tháp anh hùng.

Bùi Ngọc Quế
(Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 518

Ý Kiến bạn đọc