Sáng tác mới

Nhớ lắm Đoàn Văn Công Giải phóng Trung Ương cục – R

Sau Tết Tân Sửu (1961), Đoàn Văn công Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam bộ (R) thường gọi là Đoàn Văn công Giải phóng – R (ĐVCGP – R) được mang phiên hiệu “Đoàn Văn công Giải phóng quân” gắn trên tấm màn màu xanh hòa bình. Đây cũng là chuyến lưu diễn đầu tiên trong các vùng mới được giải phóng ở các địa phương Tây Ninh, Thủ Dầu Một và vùng nông thôn khu Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định (I 4) với đội ngũ cán bộ, diễn viên cơ hữu. Cũng cần nhắc đến nhà văn Lý Văn Sâm (bí thư chi bộ), nhạc sĩ PT trưởng đoàn đã có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng đơn vị với phương châm: Vừa biểu diễn phục vụ đổng bào, bộ đội vừa tìm nguồn (nghệ sĩ) bổ sung. Từ đó danh cầm Văn Bắc (đàn kìm) sau này là soạn giả Thanh Hiền; Bùi Ngươn Lượng (Bùi Ô) kép mùi; Phong Quang (Quang Ròm) danh cầm ghi-ta nhạc tài tử cải lương (Tây Ninh)… Ngọc Phượng (đào mụ), Sơn Điền (Năm Dòn) kép độc… cùng các anh Chón, Lợt, Phạm Minh Sáu (họa sĩ thiết kế sân khấu) và cô Phạm Thị Ngọc Bẩy (cán bộ văn phòng – Tiểu ban Văn nghệ miền Nam). Các anh chị là con em của quê hương Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thử cây “đàn xuồng” tự tạo ở chiến khu C - năm 1969

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thử cây “đàn xuồng” tự tạo ở chiến khu C – năm 1969

Trung tuần tháng 7-1961, đoàn nhận lệnh hỏa tốc của trên, thu quân về xây dựng căn cứ mới ở chiến khu D, có “Mã Đà sơn cước anh hùng tận”, có sông Rọt, Lộ 14, có Thường Lang, Tân Tịch, Đất Cuốc… Căn cứ của đơn vị trụ trên các đồi 101, 103, 105, 107 và 109. Ngoài lo toan cho cuộc sống chiến đấu hàng ngày như xây dựng lán trại, đào hầm, hào giao thông, song song tập luyện chuyên môn… đặc biệt tải gạo vì “có thực mới vực được đạo”.
Tôi nhớ mãi, mỗi đợt tải gạo, muối, đường thùng, khô, mắm, xăng dầu máy móc… phải mất một tuần lễ, trên lưng mỗi người không dưới bốn, năm mươi ký lô, chưa kể phải tải thêm cơ số gạo để ăn trên đường tải gạo. Lúc này đã xuất hiện ca khúc “Bài ca tải gạo” Ca từ có đoạn: “Bồng lên vai đi nào, vượt suối sâu núi cao đồi cao…”, ấy vậy mà có lúc phải đi ngược khi xuống vực và phải níu vào cây hoặc đu dây lúc lên đèo. Trên đường tải gạo ấy, ngoài kẻ thù và máy bay địch trinh sát còn có một loại giặc luôn đeo bám bên ta, đó là: muỗi rừng, rắn độc, vắt núi, riêng bọ mắt nhỏ li ti nhưng không lúc nào không bên ta. Vì vậy trong đoàn vận tải ai cũng là “nghệ sĩ” đánh đàn (gãi) và gãi riết rồi thành ghẻ. Mỗi đợt tải gạo xong, tối đó đều được đơn vị Ban Tuyên huấn R tổ chức liên hoan văn nghệ và chiêu đãi món chè gạo tẻ nấu với đường thùng do bố già (anh nuôi) làm bếp trưởng. Mùa mưa ở chiến khu D mưa hầu như không khi nào ngưng nghỉ, áo quần không khi nào khô, có lúc phải đốt lửa để hong khô, rất thương các chị… Mưa già sốt rét, mặc sức tung hoành lại thiếu thuốc đặc trị ngoài “Xuyên tâm liên”. Đau đầu, đau bụng, nhức mỏi… trăm bệnh đều trông chờ vào “Xuyên tâm liên” và thuốc đỏ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có thuốc “Ký ninh” uống hoặc tiêm.
Cố gắng vậy nhưng vẫn bị thiếu đói do giặc luôn càn quét vùng Đất Cuốc và các vùng cửa khẩu tiếp tế của ta, nên cả “đại quân” phải vào rừng đào củ chụp, xắn măng, hái rau tàu bay, rau cải trời, nấm… Có đơn vị ăn nhầm nấm độc phải đi cấp cứu. Có lệnh của trên, VCGP – R chuẩn bị văn nghệ phục vụ lễ công bố Ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam do chú Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) được Trung ương chỉ định giữ chức Bí thư. Song song VCGP – R gấp rút thu thanh các tiết mục văn nghệ đáp ứng cho Đài phát thanh “phát sóng thủ”.
Thế rồi, cuối mùa mưa năm ấy cả “đại quân” được lệnh chuyển dời từ chiến khu D về lại rừng Tây Bắc – Tây Ninh. Một cuộc hành quân đáng nhớ, nhiều người còn nhớ câu “Mưa mùng ba tháng mười” (âm lịch), mưa nối mưa, đường rừng tràn ngập trái đười ươi đạp phải chân tóe máu, lở khóc lở cười. Thương các anh Năm Cảnh, Tám Lang, Ngọc Anh, Ba Duyên, Vi Thiệu, Huỳnh Hà, Sáu Huyện, Năm Đũa, Năm Đen… Càng thương các đồng chí bên Đài phát thanh và Thông tấn xã giải phóng vừa hành quân vừa làm việc, không để làn sóng thông tin liên lạc cách mạng đình trệ. Nào vác, nào khiêng máy móc, xăng dầu, máy phát điện…với phương châm: “Đi không dấu, nấu không khói, miệng ngậm lá làm thinh”. Phía trước là A 300, đồi 800 – Quốc lộ 13 quân địch còn đó! Rồi Đồng Dầu, Xa Cam, Bàu Cà Nhum, Chơn Thành, Tây Bắc Phú Giáo, Đồng Sở, Bắc Tống Lê Chân, Đồng Đế, Cỏ Tranh… và kia rồi: Tây Ninh! Những khi dừng quân, bọn thanh niên chúng tôi lại hát: “Qua miền Tây Bắc núi dốc ngàn trùng xa, suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua, bộ đội ta vâng lệnh Cha Già, về đây giải phóng quê nhà…”.
Nhiệm vụ mới đến với VCGP – R biểu diễn phục vụ Đại hội lần thứ I Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội diễn ra ở mật khu thuộc “huyện 105″ nơi giáp giữa các huyện Tân Biên, Dương Minh Châu và vùng biên giới Việt Nam – Campuchia.
Tháng 6-1962, từ đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định (I 4), Thành ủy lúc bấy giờ đã tổ chức rước và đưa nhiều văn nghệ sĩ tiêu biểu từ nội thành vào chiến khu R. Như: Nghệ sĩ Thanh Loan, Triệu Vân (Bảy Lương), Chín Châu, Thừa Vĩnh, Thanh Hùng- Ngọc Hoa, Cẩm Vân (Ngọc Mỹ) cùng các em nhỏ như: Thiện (violon), bé Mai (con gái nghệ sĩ Thừa Vĩnh), Quốc Hòa (hề Quốc Hòa), Hữu Phần (nhạc sĩ), Quốc Thụy (sau giải phóng là sĩ quan tàu viễn dương), đến tháng 4-1963 nghệ sĩ – đạo diễn Quốc Trung (Nguyễn Mỹ) tiếp tục thoát ly theo cách mạng, các em đều là con của nghệ sĩ lão thành Triệu Vân. Riêng soạn giả lão thành tiêu biểu cả nước Trần Hữu Trang về chiến khu rất sớm bằng con đường riêng từ Mỹ Tho quê ông.
Giai đoạn này đơn vị phân công anh Nguyễn Minh (Tư Minh), Nguyễn Kim Diệp đi tuyển quân ở khu 8 (tức miền Trung Nam bộ). Các anh đã tuyển được danh cầm đàn kìm Đinh Trung Dõng (Mười Đờn). Sau đó ông Mười Đờn đảm nhiệm Trưởng đoàn VCGP – R và sau nữa là Đoàn cải lương Giải phóng. Quê ông Mười Đờn ở Kiến Phong (Đồng Tháp), chú Ba Phi (đờn cò) ở Long An, Đoàn Tâm (Sơn Điền), Hồ Thị Nhạn (Hồ Hồng Cúc), Đồng Thị Kim Sương (Kim Sương) và Phạm Thị Lan (Thùy Lan) là hiền nội của soạn giả danh cầm Thanh Hiền. (Chị Lan là y tá của đơn vị. Chị đã qua đời để lại hai con Nam và Đào sống rất nghèo khó; nhiểu người trong gia tộc chị là liệt sĩ).
Bước sang giai đoạn chiến tranh cục bộ, đầy khó khăn nguy hiểm cũng là lúc đơn vị được chi viện từ miền Bắc vào nhiều văn nghệ sĩ đầu đàn; cũng là điều kiện phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Các chương trình ca múa nhạc được dàn dựng công phu, hiệu quả. Các vở diễn lớn được tiếp tục sáng tác và phục dựng ngoài vở đã diễn “Tràng lên khỏi núi”. Các vở mới như “Huê Dung Đạo” và vở “Trần Hưng Đạo bình Nguyên” do soạn giả Trần Hữu Trang và Trần Bạch Đằng hợp soạn. Vở “Hai mùa mai nở’đồng tác giả Lý Văn Sâm (Thanh Lý) và Thanh Hiền chấp bút. Các vở trên đã được công diễn và thu thanh phát trên sóng Đài phát thanh Giải phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam.
Sau đó là vở “Người con gái đất đỏ” của soạn giả Phạm Ngọc Truyền, đạo diễn Nguyễn Vũ (Ngô Y Linh) dàn dựng đã được các lực lượng vũ trang giải phóng và nhân dân đón nhận trong niềm vui trân trọng. Đến 1967, Đoàn VCGP – R được chia tách thành các đoàn: Múa hát Giải phóng, Cải lương Giải phóng, Kịch nói Giải phóng, và Đội múa rối, ảo thuật Giải phóng.
“Đã nàm mươi làm nàm mắt mờ tay yếu Cán bộ già ngồi viết kỷ yếu gởi cháu con
Trọn đời phụng sự nước non Lời ca tiếng hát vẫn còn lưu danh” □
Ngày 1-1-2015

Soạn giả – danh cầm THANH HIỀN

Ý Kiến bạn đọc