Tản văn

Nhớ bạn bè một thời cư xá

 

Huế mùa mưa năm đó lê thê. Tôi bước xuống bến đò Đông Ba cùng chiếc xe đạp cà tàng và cái rương gỗ sau chuyến đò nửa ngày đường từ bến sông quê lên Huế. Cái rương ni là quà của thằng Nam tặng khi hay tin tôi đậu đại học. Thằng Nam lớn hơn tôi một hai tuổi chi đó. Hắn sinh ra ở Nghệ An, sau này mới theo ba về quê nội sinh sống và trở thành bạn cùng xóm, cùng lớp với tôi. Trước ngày tôi vô Huế học mấy ngày, hắn xuống nhà nói: “Mi kiếm mấy tấm gỗ, tau đóng cho cái rương mà đi học!”. Hắn hì hục đóng cái rương mất đúng 1 ngày…

Mấy chục năm rồi tôi vẫn nhớ cái rương bằng gỗ cũ, nhớ nụ cười mãn nguyện của thằng Nam sau khi hoàn thành cái rương tặng cho bạn. Tôi vô Huế học, thằng Nam cũng bỏ quê vô Tây Nguyên làm ăn. Bây chừ nghe hắn ở Lâm Đồng nhưng chưa gặp lại được…

Vô ký túc xá 27 Nguyễn Huệ, tôi ở phòng G10. Phòng có 8 người thì 7 người còn lại là người Quảng Nam, Đà Nẵng. Anh Hùng người Đà Nẵng làm ngân hàng bỏ ngang để thi Tổng hợp Văn. Anh Thành người Đại Lộc đi bộ đội rồi đãi vàng một thời gian trước khi thi Tổng hợp Văn. Thằng Đường người Tam Kỳ học Văn một năm ở Đại học Đà Lạt buồn quá nên bỏ, thi lại Tổng hợp Văn Huế. Thằng Đổng, thằng Hưng người Điện Bàn cũng học lớp Văn với tôi. Phòng có thêm hai thằng Việt, Tuấn học Địa chất cũng là người Điện Bàn. Bảy người nói giọng Quảng chỉ có mình tôi nói giọng Huế, nhưng cũng chỉ vài ba ngày là có thể nghe và hiểu nhau.

Tôi nhớ lắm những buổi đi học về, cởi trần nằm ra giường, giơ cả bộ xương sườn. Thằng Đổng nhìn tôi cười ngất nói: “Đây là bộ xương cách trí đúng nghĩa!”. Hồi đó sinh viên vẫn ăn cơm bằng phiếu. Dĩa cơm với thức ăn là hai con cá phèn hoặc mấy lát khuôn đậu với tô canh trắng lác đác mấy cọng rau muống. Ăn xong ra uống nước, anh Thành khi mô cũng giỡn: “Uống nước nhiều vô cho mấy thứ trong bụng nổi lên hết là no liền bây à!”.

Tapchi-01--Anh-minh-hoa---Nho-ban-be-mot-thoi-cu-xa---Anh-1

Mới vô học được mấy buổi, thằng mô cũng còn tiền gia đình cho nên rủ nhau xuống quán cháo bò mụ Chư đường Lê Quý Đôn cách ký túc xá của chúng tôi khoảng một cây số, uống rượu. Tối đó trời mưa như thác đổ, mấy thằng vẫn cuốc bộ xuống quán mụ Chư. Vô quán đã thấy mấy bậc đàn anh khoa Văn ngồi từ trước. Là mấy anh phòng G7 đang uống mừng anh Xuân Hoàng, sinh viên năm cuối vừa mới được nhuận bút cái truyện ngắn “Nỗi đam mê cay nghiệt” đăng trên tạp chí Cửa Việt. Bọn tôi là sinh viên mới toe nên uống mấy ly rồi qua bàn bên chào sân để làm quen với mấy anh. Nghe anh Hoàng rồi anh Lê Trung Việt, sinh viên năm 2 nói cái truyện ngắn nớ là nghệ thuật “hiện sinh” chi đó. Nói xong ngửa mặt lên trời cười khà khà rồi hớp một ly rượu thấy… phong độ lắm. Tôi và mấy đứa bạn nghe mấy anh nói lạ quá cũng gật gật nhưng thú thiệt là hơi ngợp. Bữa rượu đầu tiên của đời sinh viên ấy tôi say túy lúy. Cả mấy thằng cũng thế, cứ đi liêu xiêu trên đường giữa trời mưa gió. Thằng Đổng nói: “Đi nhậu như ri cũng là hiện sinh mấy đứa bây uơ!”.

Chuyện ăn uống thời ký túc xá sinh viên, tôi nhớ mỗi tháng mấy cô nấu ăn ở căn-tin chọn một phòng gọi lên phụ giúp chuyện nấu nướng, dọn dẹp căn-tin vào ngày chủ nhật và sau đó là được một bữa no đúng nghĩa, ăn thoải mái. Tôi cứ nhớ cảnh thằng Đổng, bữa chiều ăn xong về nằm phơi bụng mà rằng: “No quá tụi bây ơi, có khi mô no quá mà chết như nhân vật của cụ Nam Cao không hè!”. Nhưng phòng tôi còn có một bữa no khác vào lúc nửa khuya. Đó là lần thằng Đường về quê đám cưới chị gái. Nửa đêm cả phòng đang ngon giấc thì nghe tiếng của thằng Đường kêu mở cửa. Ngoài cái ba lô quen thuộc, thằng Đường còn xách thêm một cái đùm to gồm mấy nọng thịt heo luộc với một đùm xôi. Rứa là cả phòng liên hoan ngay trong đêm. Anh Thành vừa ăn vừa nói: “Ông Đường này thiệt thà quá, răng không bới thêm chai đế nữa cho đủ vị?”.

Phòng G10 của tôi quân số tồn tại đủ 8 người trong học kỳ đầu. Sau Tết năm đó thì thằng Hưng và thằng Tuấn bỏ học. Thằng Hưng học hành chăm chỉ, siêng năng lắm; kết quả điểm số cũng cao không hiểu vì răng bỏ học? Tôi hỏi thằng Đổng thì thằng Đổng nói thằng Hưng thất tình chi đó… Nói đến chuyện bỏ học lại nhớ thằng Bùi Thanh Truyền. Phòng G9 cạnh phòng tôi có 4 đứa học cùng lớp Văn K15 với tôi là Nguyễn Văn Trí, người Quảng Trị và ba đứa Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thiên, Trương Nghĩa Hải, người Quảng Nam. Tôi nhớ mang máng là 4 đứa này không ăn cơm căn-tin ký túc xá mà chúng góp gạo nấu ăn chung. Thỉnh thoảng thấy thằng Hải cận, thằng Trí hay thằng Truyền đạp xe đi chợ về phòng móc trên ghi-đông xe đạp mấy bì rau, cá, nước mắm. Có lẽ 4 thằng phân công nhau đứa đi chợ, đứa nấu ăn. Mấy đứa nó nấu ăn bằng bếp điện. Để qua mắt mấy anh quản lý ký túc xá, cái bếp điện được ngụy trang bằng cái hộp giấy bên ngoài…

Rứa mà hết học kỳ 1 nghe tin thằng Truyền bỏ học. Tôi bất ngờ lắm vì chuyên cần nhất lớp tôi không ai bằng thằng Truyền. Lên lớp răm rắp, bài cũ răm rắp, thi cử tất nhiên là điểm cao răm rắp… Tôi hỏi thằng Trí và được biết thằng Truyền bỏ học để về nhà làm lơ xe cho anh rể. Tiếc cho bạn nhưng càng bất ngờ hơn là hai năm sau, Bùi Thanh Truyền lại ra Huế thi đại học và đỗ thủ khoa, khoa Văn Đại học Sư phạm Huế.

Bây chừ thằng Truyền là Phó giáo sư tiến sĩ ở trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Tính ra, Truyền cũng là người có công danh sáng nhất lớp tôi… Mới thôi mà đã hơn 20 năm rồi. Những dịp hội trường, lớp Văn K15 của tôi khi mô cũng lèo tèo vài đứa; thiệt là khó gặp lại nhau. Nhớ những ngày ký túc xá bao nhiêu vui buồn. Nhớ tiếng ễnh ương những đêm vọng não nề từ hồ rau muống phía sau ký túc xá, nhớ mùi hương xá xị nghe lâu thành khó chịu từ xưởng làm tinh dầu xá xị phía sau phòng ở của chúng tôi. Nhớ cả tiếng đàn guitar của anh Ngô Phước Dương, lời thơ của anh Lê Hồng Phong: “Thứ bảy máu chảy về tim – Trời mưa không nón đi tìm người yêu!”. Và nhớ nhất là những gương mặt, những nụ cười của phái đẹp lớp tôi. Những hình ảnh thân thương đó đã rớt lại phía thời trai trẻ như lời một bài hát mà ngày ra trường cả lớp đã say sưa hát lui hát tới mấy chục lần: “Anh mải mê về một màu mây xa – Cánh buồm bay về một thời đã qua…”.

Mùa đông xứ Huế có khi thời tiết quá khắc nghiệt, mưa lạnh kéo dài đầm đìa cả tháng. Những buổi tối lạnh quá, không ngủ được, rứa là kiếm củi quanh ký túc xá đốt lên cái bếp ở giữa phòng. Củi hết, anh Thành bẻ luôn mấy cái thanh vạt giường đốt tiếp, mấy đứa trong phòng can, anh nói: “Tau làm tau chịu, mà đời nào họ dỡ chiếu lên kiểm tra cái vạt giường mà tụi bây lo!”.

Anh Thành là bộ đội xuất ngũ nên tác phong luôn gọn gàng, tươm tất và những hành động của anh cũng khác với mọi người. Sáng ngủ dậy, nhìn qua giường thấy anh xếp mùng mền ngay ngắn là mê. Có những buổi sáng, khoảng 5 giờ là anh khua cả phòng dậy để uống trà. Nước sôi được nấu tốc hành bằng dây may-so, sau đó bỏ trà vô cái chai để chế. Cách uống trà của anh cũng khá độc, đó là chưa đánh răng rửa mặt chi hết, uống rứa mới ngon…

Nhớ cái vụ anh gửi đơn ra tận Bộ Giáo dục hỏi về học bổng cho sinh viên vùng khó khăn; cuối cùng Bộ đã phúc đáp và lớp tôi có cả chục đứa được miễn học phí lại có thêm học bổng hàng tháng nhờ công của anh Thành. Mạnh mẽ rứa nhưng cái chất phiêu của dân Văn cũng nhiều trong huyết quản của anh. Lên năm học thứ 2, cả phòng tôi chuyển sang ở phòng D4. Mùa hoa bằng lăng nở, nửa đêm anh đi bộ ra đường Lý Thường Kiệt gần ký túc xá bẻ về một bó hoa to rồi ngồi kết hoa kín cả cửa sổ. Buổi sáng, cả mấy phòng nữ sau dãy G đều tròn mắt thích thú nhìn cái cửa sổ hoa màu tím… mới ra đời! Hồi đó, hầu như sinh viên khoa Văn thằng mô cũng thuộc đôi ba câu bài thơ “Một” của thầy giáo Hồ Thế Hà: “Em ơi rượu chỉ một bầu – Thơ thì một túi nỗi sầu một bao – Tình yêu một biển sóng trào – Nụ hôn đợi một nụ trao nồng nàn…”. Anh Thành cũng làm thơ theo kiểu bài “Một” sau một lần tỏ tình không thành: “Bao giờ cho hết bơ vơ – Bao giờ cho hết bơ vơ bao giờ – Bơ vơ sắc, bơ vơ không – Nửa đêm tỉnh mộng vẫn còn bơ vơ”. Anh bỏ lại bài thơ trên giường rồi lên ga nhảy tàu về quê lúc nửa đêm. Sáng dậy, thằng Đường đọc thơ rồi “đía” thêm: “Đến cái ra đi của thằng chả cũng bơ vơ luôn!”. Tôi thì lo lắng: “Có khi mô anh Thành bỏ học về quê đi đãi vàng lại không?”. Thằng Đổng cười: “Thằng cha đó buồn chút thôi, về quê mấy ngày là ra cười xề xề à!”. Đúng là mấy ngày sau anh Thành ra lại, cười khà khà coi như không có chuyện chi xảy ra cả. Còn bài thơ “Bơ vơ” của anh được thằng Thiên phổ nhạc hát cho vui nên chừ tôi vẫn còn nhớ nguyên lời…

Thằng Trí người Đông Hà – Quảng Trị được mấy đứa con gái phong là “Chánh Tín”. Thằng ni lứa 7X bằng tuổi tôi, nhưng hắn cứ mi, tau ngang phè với những người lớn tuổi trong lớp như anh Thành hay mấy anh 6X Ngô Phước Dương, Lê Hồng Phong, Ngô Toàn… Cũng vì rứa nên hắn cũng được mấy đứa con gái trong lớp gọi bằng anh. Năm thứ hai, thằng Trí chuyển ra ngoại trú ở nhà của bà O hắn sau bến xe An Cựu cũ. Nhà O thằng Trí không rộng nhưng mát nhờ mấy cái cửa sổ nhìn ra cánh đồng lúa An Cựu nên gió đồng lồng lộng. Tôi với anh Thành cũng hay về đó chơi, có khi ở lại mấy ngày để cùng học bài. Thỉnh thoảng chiều chiều, mấy thằng mua chai rượu trắng cùng dĩa lòng bóp ngoài quán Chùa gần chợ An Cựu lai rai. Thường những buổi nhậu có thêm một vị khách khá đặc biệt là ca sĩ Trọng Tín, nhà hàng xóm. Hồi đó, ca sĩ Trọng Tín đang cảnh “gà trống nuôi con” sau khi cô vợ đóng xong phim “Em còn nhớ hay em đã quên” thì bỏ gia đình luôn để theo ánh hào quang màn bạc. Anh Tín hiền lắm, chỉ ngồi nhấp từng ly thủng thẳng nghe mấy thằng sinh viên tám đủ chuyện trên trời dưới đất. Có lẽ anh buồn tình nên không muốn nói chi cả. Có lần anh Thành hỏi anh Tín vì răng không kêu vợ về; anh chưa kịp trả lời thì thằng Trí đã nạt anh Thành: “Mi đừng có hỏi tầm vách, tầm vơ nữa, lo mà uống đi!”.

Mỗi lần nhìn lại bức ảnh cũ tôi chụp với anh Thành và thằng Trí tại quán cà phê Sông Xanh nhìn ra Đập Đá – một quán cà phê nổi tiếng của Huế trước khi ra trường mấy tháng là bao nhiêu chuyện buồn vui đời sinh viên lại quay về như vừa mới xảy ra đây thôi. Hồi đó, chúng tôi ngồi uống cà phê Sông Xanh và hay kêu anh Toàn chủ quán mở nhạc Thái Thanh để nghe. Có lần, một cô bé người Huế rất xinh tỏ ra bực mình khi nghe yêu cầu của bọn tôi: “Mấy người ni mệt rứa thê, về mà ở với ba mạ tui là vừa luôn, ngày mô cũng Thái Thanh…”.

Tôi chừ công việc còn dính chút đến kiến thức mấy năm đại học Tổng hợp Văn; còn anh Thành làm Bảo hiểm ở Quảng Nam, thằng Trí làm Hải quan ở Quảng Trị, thằng Thiên là Chủ tịch mặt trận huyện ở Tây Nguyên, chẳng dính dáng chi đến Ngữ văn cả. Nghĩ câu nói tếu của ai đó hồi sinh viên có khi cũng đúng: “Học tổng hợp là làm chi cũng được cả!”.

Phi Tân
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 01

Ý Kiến bạn đọc