Người tốt - Việc tốt

Nhớ Bác

(Từ sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ. Nhiều tác giả. NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)

Hồi đó là tháng 5-1950, sắp đến dịp mừng thọ Bác 60 tuổi tức là vào dạo Bác viết mấy câu thơ phơi phới lạc quan dưới đây:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên!

Tôi được vinh dự trên giao cho tổ chức một phòng triển lãm nhỏ, bày một số ảnh chụp chân dung Bác. Tôi chọn đi chọn lại, trong số ảnh tôi đã chụp, được 20 kiểu tương đối ưng nhất, loay hoay mãi mới phóng được đủ số ảnh tàm tạm vừa ý. Khỏi phải nói thêm là trong những ngày ở rừng ấy, cánh nhiếp ảnh chúng tôi phải làm trong những điều kiện như thế nào: máy phóng thì chắp vá, thuốc thì pha chế theo lối thủ công, buồng tối là một cái chăn tùm hum…

“Phòng triển lãm” là một khoang nhỏ, quây cót, trong một ngôi nhà. Sáng hôm 18-5-1950, mọi công việc chuẩn bị xong xuôi, tôi bắt tay vào bày biện trang trí nơi trưng bày.

Sau khi sắp đặt ảnh, bố trí ánh sáng đâu vào đấy, tôi kiểm tra một lần nữa công việc của mình cho hoàn chỉnh. Tôi nghiêng nghiêng nghé nghé, tiến tiến, lui lui, cố tìm xem còn chỗ nào cần phải bổ khuyết. Đang bước lùi lại mấy bước để nhìn cho bao quát, tôi bỗng cảm thấy như có người đứng sau tôi tự lúc nào không biết. Tôi giật mình quay lại. Và… Các bạn thử tưởng tượng cái cảm giác sửng sốt, bàng hoàng, bối rối pha lẫn chút sợ hãi của tôi lúc bấy giờ… Người đứng sau tôi chính là Bác Hồ.

Vâng! Chính Bác đã lặng lẽ đứng sau, xem xét tôi loay hoay với những bức ảnh của mình.

Bác hỏi, với một nụ cười vui, hoàn toàn không để ý đến lời xin lỗi ấp úng của tôi:

- Chú làm gì vậy?

Bac-Ho-voi-Doan-nghe-thuat-thieu-nhi-lien-khu-X-va-Doi-thieu-sinh-quan-den-chuc-munh-sinh-Bac-tron-60-tuoi-tia-Viet-Bac-nam-1950
Bác Hồ với Đoàn nghệ thuật thiếu nhi liên khu X và Đội thiếu sinh quân đến chúc mừng sinh nhật Bác
tròn 60 tuổi tại Việt Bắc năm 1950.

Kỳ lạ, chỉ có thế thôi mà tất cả nỗi lúng túng, sợ sệt của tôi bỗng tan biến đi. Một lần nữa tôi được thể nghiệm bản thân cái điều gần như là huyền thoại mà anh em thường kể về Bác. Ở Bác toát ra một cái gì làm cho không khí xung quanh, bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng trở nên đầm ấm, thân mật và thoải mái hết sức, khiến cho người lần đầu tiên gặp Bác hết bỡ ngỡ rụt rè.

- Dạ thưa Bác, cháu chuẩn bị một số ảnh trưng bày nhân dịp mừng thọ Bác 60 tuổi.

- Các chú chỉ vẽ chuyện. Thế, được bao nhiêu ảnh tất cả?

- Thưa Bác, 20 ạ!

Bác mỉm cười:

- Có đúng 20 không?

Câu trả lời của tôi có phần kém tự tin hơn, mặc dù tôi biết chắc mình không thể lầm lẫn:

- Dạ… thưa Bác đúng ạ!

Mắt Bác sáng lên một tia sáng vui, rất trẻ:

- Chú cứ thử đếm lại coi!

Lần này thì tôi hoang mang thật rồi. Tôi không dám tin ở mình nữa. Liệu tôi có bỏ sót ở đâu bức nào không? Tôi đảo mắt đếm lại một lượt, hai lượt. Đúng là 20 bức, có nhiều nhặn gì mà lầm được.

- Vâng thưa Bác, đúng 20 bức ạ! – Tôi cả quyết.

- Thật chứ? – Và chỉ tay vào ngực, Bác nheo mắt – Thế còn đây, chú không kể ư?

Và hai Bác cháu phá lên cười, thoải mái.

Bác Hồ của chúng ta, trong những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đã lăn lộn tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội ở cơ sở, thuộc nhiều nghề nghiệp khác. Cho nên Bác thấu hiểu rất mực, thông cảm rất mực công việc cùng những khó khăn, những yêu cầu riêng biệt của từng ngành, từng môn. Riêng anh chị em làm công tác nhiếp ảnh, điện ảnh chúng tôi đã nhiều dịp được thấy cụ thể điều đó. Về điểm này, tôi còn nhớ mãi trường hợp xảy ra trong dịp phục vụ Đại hội thành lập Mặt trận Liên Việt.

Hội nghị được tổ chức trong một khu rừng Việt Bắc vào những năm kháng chiến chống Pháp. Bộ phận điện ảnh và nhiếp ảnh phục vụ Hội nghị gồm có các anh: Đinh Đăng Định, Lê Minh Hiền và tôi. Hội trường là một ngôi nhà tre lợp lá cọ, rộng thoáng, do anh em công binh cấp tốc dựng trong một thời gian ngắn. Cho đến giờ phút chót mọi công việc chuẩn bị đều đã chu tất. Riêng có 3 chúng tôi là vẫn bồn chồn không yên. Chúng tôi đã được phổ biến kỹ về tầm quan trọng đặc biệt của Hội nghị. Một sự kiện lịch sử lớn lao nhường ấy, tất phải được ghi hình ảnh để lưu lại về sau, đó là điều cần phải thực hiện bằng mọi cách. Nhiệm vụ đó, 3 anh em chúng tôi phải đảm đương. Nhưng, trong hoàn cảnh kháng chiến, máy móc cũ kỹ kém phẩm chất, đèn chụp không có, nơi họp lại ở trong nhà, giữa rừng rậm, thiếu ánh sáng, làm sao có thể bảo đảm ghi được những hình ảnh tốt? Chúng tôi lo lắng, bàn đi bàn lại, tìm cách khắc phục khó khăn, cuối cùng đi đến kết luận: chỉ còn cách xin được phép dỡ một phần mái trên chỗ Đoàn Chủ tịch ngồi – một yêu cầu mà bản thân chúng tôi thấy là có phần quá mức. Nhưng vì bí quá nên chúng tôi vẫn phải đánh bạo đề đạt ý kiến đó với các đồng chí phụ trách Hội nghị. Tuy cũng thấy là cần thiết cho yêu cầu nghiệp vụ, các đồng chí vẫn do dự, không dám quyết định.

- Chuyện này gay đấy. Dỡ mái nhà trên chỗ Đoàn Chủ tịch ngồi đâu phải là điều có thể tự quyết định được. Có lẽ phải xin ý kiến của Bác mới xong – Một đồng chí phụ trách Hội nghị nói.

Chúng tôi nhìn nhau, ngần ngại: ai dè cái công việc nhỏ đó mà cũng lại phải phiền đến Bác! Nhưng biết làm sao được.

Chúng tôi theo các đồng chí phụ trách lên chỗ Bác. Sau khi báo cáo tình hình Hội nghị, các đồng chí nêu lên một vài vấn đề tồn tại, trong đó có rắc rối của chúng tôi. Bác ngồi xếp bằng tròn trong khoang nhà sàn, im lặng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu với vẻ bình tĩnh quen thuộc. Nhưng 3 chúng tôi thì phấp phỏng ruột cứ như lửa đốt. Bác sẽ chỉ thị ra sao đây? Liệu chúng tôi có làm phiền Bác không? Nhưng cái kết thúc lại rất nhanh chóng. Không cần hỏi thêm chi tiết, Bác thấy rõ ngay những khó khăn của chúng tôi và Bác bày cho cách giải quyết.

Cuối thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tôi chuyển sang tập sự cầm máy quay. Tôi tự cho mình cái may mắn đặc biệt được vào nghề điện ảnh, vừa được ghi những hình ảnh về lãnh tụ kính yêu của chúng ta. Một trong những thu hoạch đầu tiên mà tôi lấy làm vừa lòng là hình ảnh Bác ngồi đọc sách bên cửa sổ nhà sàn sau này đã được sử dụng trong các bộ phim 79 mùa xuân và Người là Hồ Chí Minh. Bác ngồi ung dung với dáng mạo một ông tiên bên khung cửa sổ, nơi “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”. Bộ râu trắng của Bác rung rung trong gió, Bác vừa đọc sách vừa đưa tay vuốt ve một chú mèo nằm bên. Tất cả toát ra một vẻ yên tĩnh lạ.

Bac-Ho-voi-cac-nghe-si-dien-anh
Bác Hồ với các nghệ sĩ điện ảnh.

Cái phong thái hiền triết rất Việt Nam ấy cũng như tâm hồn dào dạt tình yêu thiên nhiên, đất nước tôi đã bắt gặp trong nhiều đợt theo Bác đi công tác. Trong những năm đầu lập lại hòa bình (sau kháng chiến chống Pháp), tôi được ăn hai cái Tết dọc đường với Bác, một lần đi thăm mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), một lần đi thăm thác Huống (Thái Nguyên); cả hai chuyến đó, mùa xuân đều bắt gặp Bác cháu chúng tôi trên đường đi. Lần đi thăm mỏ Tĩnh Túc, vào khoảng gần trưa mùng 1 Tết, xe chúng tôi vừa đến một con suối thì Bác bảo dừng lại nghỉ ăn cơm. Tâm hồn giàu cảm xúc của Bác không thể dửng dưng trước cảnh đẹp của đất nước. “Thiên nhiên hữu tình như thế này, mà không nghỉ chân hưởng lấy chút ít thì cũng phí quá”, Bác bảo vậy. Anh em phục vụ dọn cơm riêng cho Bác, nhưng Bác không chịu, bảo tất cả ngồi ăn chung. Ăn xong Bác ngồi trên một phiến đá lớn bên bờ suối, nước róc rách chảy. Câu thơ của Bác: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” vụt trở lại trong tôi với tất cả âm hưởng kỳ diệu của nó. Lần đi thác Huống, Bác cháu cũng ăn bữa trưa mùng 1 Tết ở dọc đường như vậy. Dừng chân ở một khu rừng thông. Mỗi lần như vậy, đối với chúng tôi, là một bài học thấm thía về tình yêu quê hương xứ sở.

Khi chuyển sang Xưởng phim truyện Hà Nội, vào năm 1960, tôi tưởng sẽ ít có dịp được gặp Bác hơn. Nhưng rồi cứ mỗi kỳ hoàn thành một bộ phim mới, tôi lại được mang vào Phủ Chủ tịch chiếu để Bác xem. Thành thử tôi vẫn được gặp Bác. Như buổi chiếu phim Nổi gió, sau khi xem xong Bác còn đi dạo trong vườn trò chuyện mãi với anh chị em chúng tôi. Trời về khuya se se lạnh, anh Kỳ lấy áo ngoài choàng lên vai Bác.

Một hôm, sau khi chiếu một bộ phim mới xây dựng, đồng chí Phạm Tuấn Khánh, hồi đó là Giám đốc Xưởng phim truyện kiêm Cục trưởng Cục Điện ảnh, xin Bác cho ý kiến về những ưu, khuyết điểm của phim, Bác tươi cười khoát tay chỉ xuống chỗ anh chị em cán bộ, công nhân viên phục vụ trong phủ Chủ tịch:

- Đây này, hỏi ý kiến quần chúng ấy, chứ hỏi ý kiến Chủ tịch nước làm gì?

Một lần khác, cũng đồng chí Phạm Tuấn Khánh hỏi:

- Thưa Bác, phim này có chiếu được không ạ?

Bác trả lời vui vẻ:

- Có phim, có điện, có máy ắt là chiếu được thôi!

Tôi nhớ nhất cái lần đem phim Làng nổi vào chiếu để Bác xem. Bữa đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng tới dự.

Khi bật đèn sáng, Bác chỉ vào tôi hỏi Thủ tướng:

- Chú Tô (1) có nhớ đây là chú nào không?

- Dạ, thưa Bác có – Thủ tướng trả lời – Chú ấy chụp ảnh hồi ở ATK (2).

Bác mỉm cười lắc đầu:

- Không phải!

Tôi hơi ngạc nhiên: Thủ tướng trả lời đúng, sao Bác lại bảo không phải? Không, chắc là Bác đang dành cho chúng tôi một điều gì lý thú đây.

Bác nói tiếp:

- Đây là chú “Mần tuồng”.

Ra thế! Cái chi tiết nhỏ từ hơn 10 năm rồi mà Bác vẫn còn nhớ! Nguyên do là thế này:

Chuyện xảy ra trong dịp Đại hội thành lập Mặt trận LiênViệt ở chiến khu Việt Bắc. Đó là một buổi tối liên hoan. Phần lớn các “tiết mục” đều là “tự biên tự diễn”. Đồng chí Tố Hữu ngâm thơ, đồng chí Phan Anh lẩy Kiều. Xem chừng ra các “nghệ nhân” cũng không được đông đảo cho lắm. Cho nên đang giữa cuộc, Bác ra hành lang gặp anh Vũ Năng An và tôi. Bác kéo chúng tôi vào giúp vui. Không để cho tôi kịp chuẩn bị gì, Bác đẩy tôi ra “sân khấu”:

- Xin giới thiệu chú “ảnh sĩ” ra góp vui đại hội.

Bị bất ngờ, tôi đứng ngây ra một lúc. Nhưng rồi trấn tĩnh lại, tôi nhớ đến một lớp tuồng mà hồi 13, 14 tuổi tôi rất thích và thường múa may bắt chước trong những lúc cao hứng. Mới đầu còn rụt rè, vấp váp, sau mới trấn tĩnh được. Một mình tôi sắm luôn cả mấy vai.

Không ngờ “tiết mục” lại được hoan nghênh, hội trường vỗ tay rôm rả. Bác thưởng cho một điếu thuốc. Vậy đó, lai lịch chú “mần tuồng” là như vậy.

Hơn 10 năm sau Bác còn nhớ.

Cho tới nay tôi vẫn làm phim truyện, nhưng không bao giờ tôi còn được mang phim của mình vào chiếu để Bác xem nữa. Bác đã đi xa rồi… Nhưng ngày nay đang cùng một số anh chị em bắt tay vào xây dựng bộ phim truyện mới, có lúc tôi bỗng tưởng tượng ra cái lúc hoàn thành phim mang vào trình Bác, Bác sẽ lại cho chúng tôi kẹo – cho ăn tại chỗ và được mang phần về nhà; Bác sẽ lại dạo trong vườn với chúng tôi nói chuyện, cho ý kiến chỉ bảo, và khi sương xuống, anh Vũ Kỳ sẽ lại khoác áo ngoài lên vai Bác… Tôi rưng rưng xúc động và nghĩ phải cố gắng hơn để xứng với công ơn của Bác, với những lần được gặp Bác, được nghe Bác căn dặn và dạy dỗ.

Nguyễn Đăng Bảy (Điện ảnh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 459

————————–
(1) Tên gọi riêng của đồng chí Phạm Văn Đồng.
(2) ATK: An toàn khu ở Việt Bắc trong kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ý Kiến bạn đọc