Tản văn

Nhớ ba Họa sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ

Tôi hoạt động trong cánh Học sinh – Sinh viên Khu Sài Gòn – Gia Định nội thành Sài Gòn từ năm 1961, năm 1962 thoát ly ra vùng giải phóng công tác tại Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn – Gia Định (T4). Ban Tuyên huấn T4 có nhiều bộ phận, đóng ở nhiều nơi từ Nhuận Đức lên Hố Bò (thuộc Củ Chi), Lộc Thuận, Trảng Cỏ, Bời Lời (thuộc Trảng Bàng, Tây Ninh). Tại Lộc Thuận có căn cứ trong rừng, nơi đây nhiều bộ phận như Phát hành (chuyển nhận tài liệu, thư từ của Ban đi và nhận về), Điện đài minh ngữ, Nhà in chữ chì (B1), Nhà in thạch bản (lito), Tổ Nhiếp ảnh, Điêu khắc (Khắc dấu), Tốc ký, Hội họa. Ban Tuyên huấn có ba người làm công tác mỹ thuật trong đó có hai người là họa sĩ: anh Tư Họa (Đào Hữu Phước) và anh Bảy Tranh (Trần Tấn Thanh), anh Sáu Tích (Đoàn Vi Đức) in lito (thạch bản). Tôi về làm việc với anh Sáu Tích.

Anh Đoàn Vi Đức (Sáu Tích)

Anh Sáu Tích tham gia kháng chiến chống Pháp, công tác ở nhà in Nam bộ, chuyên về in thạch bản (lito). Sau Hiệp định Genève 1954, anh ở lại miền Nam, vô sống hoạt động bí mật nội thành Sài Gòn. Sau đồng khởi anh ra vùng giải phóng công tác tại Ban Tuyên huấn T4 phụ trách in lito (thạch bản).

Bộ phận này mới chỉ có hai người là anh Sáu Tích và anh Hai Thành, sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định. Khi tôi về là ba người.

Anh Sáu Tích viết chữ rất đẹp nên làm công việc in thạch bản rất tốt. Kỹ thuật in thạch bản: cắt những miếng đá cẩm thạch ra theo khuôn khổ cần, mài thật phẳng thật mịn, dùng một loại mực chuyên dụng gọi là sẹc-bô-nen viết ngược lên mặt đá, sau đó lấy rulô lăn mực in lên mặt đá, chỗ có mực sẹc-bô-nen sẽ dính mực in, những chỗ không có mực sẹc-bô-nen thì không dính mực in nên khi in sẽ cho ra chữ viết hoặc phông nền theo ý người vẽ. Bộ phận in thạch bản được lãnh đạo giao trách nhiệm in những ấn phẩm có tính mỹ thuật cao, như cờ giải phóng, bản nhạc, tranh cổ động, bìa sách nhiều màu… Xuất bản phẩm này in thủ công nhưng đạt mỹ thuật, đẹp gần giống như in bằng máy ốp-sét trong nội thành vậy. Anh Sáu Tích viết ngược lên mặt đá, khi in cho ra chữ thuận rất đẹp, sắc nét gần giống như in bằng chữ chì. Viết chữ đẹp nhất trong các anh, anh Sáu Tích năm nào cũng đảm nhận viết thiệp thơ chúc mừng năm mới của Bác Hồ. Khi nhận thơ Bác qua điện đài, anh Sáu Tích viết chữ trên giấy roki, anh Tư Họa vẽ trang trí ảnh Bác, anh Hai Hình chụp lại rồi in ra giấy ảnh, vì vậy thiệp thơ chúc Tết của Bác Hồ do Ban Tuyên huấn T4 làm vừa đẹp vừa sang, các nơi khác chỉ in trên giấy báo, không làm như vậy. Bởi ngoài phục vụ ở vùng giải phóng thiệp thơ chúc Tết của Bác Hồ còn đưa vào nội thành đến với giới văn nghệ sĩ, trí thức nên cần làm đẹp, đặc biệt.

Làm việc với anh Sáu Tích tôi học được nhiều điều về tính kỹ lưỡng, nghiêm túc nghề nghiệp. Một lần tôi vẽ theo mẫu một bức tranh sai kiểu chữ, anh Sáu Tích nói không được làm khác bản gốc, chỉ khi có sự đồng ý của tác giả mới được thay đổi.

Anh Sáu Tích có đứa con gái nhỏ tên Đoàn Thị Châu, được đưa ra Bắc học tập, cháu học sư phạm sau giải phóng về Nam làm giáo viên Trường Lương Thế Vinh quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau Tết Mậu Thân 1968, tình hình chiến tranh ở chiến trường Củ Chi quá ác liệt, anh Sáu Tích được chuyển lên R, nhưng bị bom B.52 hy sinh. Cháu Châu đã tìm được hài cốt của anh đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ.

Anh Bảy Tranh (Trần Tấn Thanh)

Anh Bảy Tranh là họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Anh tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam bộ. Sau Hiệp định Genève ở lại miền Nam, về Sài Gòn hoạt động bí mật. Sau Đồng khởi 1959, anh ra vùng giải phóng công tác tại Ban Tuyên huấn T4. Anh Trần Tấn Thanh nổi tiếng vì từng vẽ hình ảnh Thúy Kiều trong trang phục áo dài Lemur, khiến giới mỹ thuật Sài Gòn xôn xao một thời. Lúc ở chung căn cứ tại Lộc Thuận anh có tên là Bảy Tranh, chuyên vẽ tựa bìa sách, bản tin cho tổ in giấy sáp (Stencil). Anh lớn tuổi, hơi chậm chạp. Năm 1969, trên đường đi về R, hy sinh vì bom Mỹ.

Tôi không liên hệ được người thân của anh Bảy Tranh, nên không có tin tức về hài cốt của anh đã được tìm kiếm sưu tập ra sao!

Anh Tư Họa (Đào Hữu Phước)

Anh Tư Họa có thời gian tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam bộ. Hòa bình lập lại (năm 1954), được tổ chức phân công ở lại miền Nam, chuyển vào Sài Gòn hoạt động bí mật, sinh hoạt đơn tuyến, ở tại nhà một cơ sở trên đường Cô Bắc, quận 1. Lúc đó anh Tư Họa còn độc thân. Thời gian tôi ở làm việc cùng (1963) Tư Họa khoảng 40, đã vào độ tuổi trung niên, nhưng anh rất thanh niên, tính vui vẻ, hoạt bát, thích văn nghệ. Cuộc họp nào có anh dự, không khí luôn sôi động, vui nhộn; anh luôn có cách lôi cuốn, thu hút mọi người vào cuộc. Điều đó chứng tỏ Tư Họa là người rất chan hòa với quần chúng, dễ gây tình cảm với mọi người. Đối với nhiệm vụ công tác chuyên môn, anh Tư Họa là một người rất tích cực, được lãnh đạo tin tưởng, anh em mến nể, học hỏi.

Năm 1963, Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn – Gia Định có cuộc chỉnh huấn chính trị. Lớp học hầu hết là các anh lớn tuổi, cán bộ sơ trung cấp, đảng viên. Có mấy người còn là quần chúng thanh niên được học với các anh trong đó có tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được học “chỉnh huấn”. Đến phần kiểm thảo, tất cả mọi người đều viết bản kiểm điểm cá nhân, báo cáo ra tập thể phân tích phê bình nhằm giúp đồng chí phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Đây là đợt đấu tranh tư tưởng sâu sắc giữa ưu – khuyết, đúng – sai của từng cán bộ, đảng viên và người dự học. Có những khuyết điểm được đồng chí, tập thể thấy giới thiệu, chỉ cho, nhưng cũng có khuyết điểm chỉ người trong cuộc mới biết. Có nêu được khuyết điểm – kể cả việc mới từ ý nghĩ, chưa xảy ra hành động – thì người đó mới được tập thể giúp đỡ và đề ra được biện pháp sửa chữa, khắc phục. Đây cũng là thước đo lòng trung thành của người đảng viên với Đảng.

So-517--Nho-ba-Hoa-si-da-hy-sinh-trong-khang-chien-chong-My
Tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ năm 1969.

Yêu cầu của cuộc chỉnh huấn là: đảng viên, cán bộ và cả quần chúng phải nghiêm khắc với bản thân, trung thực, tự giác cao với Đảng; phải cầu thị, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của đồng chí mình. Để “tiếp sức” cho đồng chí, tập thể phải có tinh thần “trị bệnh cứu người”, coi cái đau của đồng chí cũng là cái đau chung trong đó có mình, không “đao to búa lớn”, không định kiến ghét bỏ, vùi dập mà thương yêu, giúp đỡ để đồng chí đấu tranh tư tưởng tốt, tiến bộ. Bài học của đồng chí cũng là bài học của mình. Có như vậy mới đoàn kết, tạo được sức mạnh mới sau khi chỉnh huấn. Tóm lại, cần “phải trái phân minh, lý tình đầy đủ” như lời Bác Hồ dạy.

Qua học tập, tư tưởng được phát động cao độ, ai cũng có thái độ nghiêm túc. Tư Họa chuyển biến rất tốt. Anh hồi tưởng lại thời gian hoạt động bí mật ở Sài Gòn, có sự đấu tranh tư tưởng về đúng, sai, quan điểm quần chúng, đồng chí báo cáo với Đảng: Trong gia đình đồng chí ở nhờ, có hai người con gái. Sống gần nhau lâu ngày, tình cảm giữa anh và người chị nảy nở, nhưng quan hệ giữa hai người rất trong sáng. Người em cũng có tình cảm, quý mến anh Tư Họa không kém người chị. Vậy là có chuyện xích mích giữa hai chị em gái ấy. Từ mâu thuẫn đó dẫn đến việc, người chị nhảy xuống cầu Bình Lợi tự vẫn! Chuyện đau lòng xảy ra ngoài suy nghĩ của Tư Họa. Chỉ có anh và người em gái biết, bên ngoài và tổ chức – cấp trên của đồng chí Tư Họa – không ai biết nguyên nhân cái chết của cô gái nhà anh ở nhờ. Sau đó, anh dọn sang ở nhà cơ sở khác cho tới khi ra vùng giải phóng.

Con người ta chiến đấu với kẻ thù dù ác liệt, hy sinh cả mạng sống của mình, nhưng để tồn tại và chiến thắng họ kiên cường, dũng cảm, một mất một còn không do dự. Để chiến thắng “kẻ thù” bên trong con người mình, có khi vì cái tôi, cái “cá nhân” chi phối, sai khiến, không phải lúc nào người ta cũng nghiêm khắc và “chiến thắng” mình một cách dễ dàng.

Đồng chí Tư Họa quả là một đảng viên có tính Đảng rất cao về sự gương mẫu, tính chiến đấu, tính tiên phong, tính trung thực với Đảng. Tấm gương sáng của đồng chí Tư Họa đã có tác động giáo dục tất cả mọi người trong cơ quan lúc đó. Riêng tôi, rất nể phục, kính trọng anh là người Anh, tình cảm yêu thương gắn bó với nhau sâu đậm hơn.

Câu chuyện kể trên xảy ra khi còn chiến tranh. Ngày nay đất nước ta đã chuyển sang thời đại mới: hòa bình, xây dựng kinh tế – xã hội, nhiều mặt trong đời sống, công tác, nhiệm vụ người đảng viên cũng đã có điều khác trước. Nhưng tính tự giác, sự trung thực với Đảng, tự phê bình của người đảng viên vẫn như trước, không hề thay đổi.

Như Bác Hồ đã dặn dò trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”.

Với tôi, câu chuyện của đồng chí Tư Họa là một bài học lớn.

Năm 1964, tôi được lãnh đạo cho đi học lớp sư phạm tại Trường Giáo dục Tháng Tám do Tiểu ban Giáo dục R trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục mở (đồng chí Dương Văn Diêu tập kết về làm Trưởng Tiểu ban). Anh Tư Họa đi học lớp hội họa cũng ở R do các họa sĩ Huỳnh Phương Đông (từ miền Bắc về), Cổ Tấn Long Châu, Trang Phượng giảng dạy. Anh Tư Họa làm lớp trưởng lớp hội họa, dẫn đoàn sang giao lưu với lớp học ở trường sư phạm nơi tôi học, trong đoàn của lớp hội họa có chị Đặng Ái Việt (về sau là vợ của anh Phạm Khắc) người trẻ nhất (khoảng 16 tuổi). Lần ấy, giữa rừng già nhưng chúng tôi sinh hoạt thật sôi động, rộn ràng, nhất là anh Tư Họa có dịp thể hiện tính cách trẻ trung, hoạt náo, anh chị em cả hai lớp đều vui vẻ, nhắc nhớ anh mãi về sau.

Ban Tuyên huấn T4 có nhà in B2 đóng ở Bàu Trâm thuộc xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát, Bình Dương. Lần ấy, anh Tư Họa đến truyền đạt nghị quyết của cấp trên vừa lúc Mỹ lùng sục vào căn cứ nhà in, anh Tư Họa tham gia đánh Mỹ với anh em nhà in B2.

Trong bài B2 đánh trận Bàu Trâm, đồng chí Bảy Lợi (Nguyễn Văn Đột) phụ trách nhà in lúc đó, sau giải phóng trước khi nghỉ hưu là Bí thư Đảng ủy Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (nay là Ban Tuyên giáo Thành ủy) kể:

“Đồng chí Tư Họa được bảo vệ dưới địa đạo cũng xin được lên bắn Mỹ, vừa hạ được một tên thì đồng chí bị thương vì đạn rốc-két trên máy bay bắn xuống, đồng chí phải trở về địa đạo để băng bó vết thương quá nặng. Đồng chí Tư Họa tức Đào Hữu Phước là một họa sĩ nổi tiếng, một đảng viên, cấp ủy của Ban phụ trách về hội họa khắc gỗ, người anh yêu dấu đã vĩnh viễn nằm lại trên đất Bàu Trâm mà sau đó giặc nhiều lần càn đi, ủi lại rất ác liệt, nên đến nay chưa tìm thấy dấu tích” (*).

Các anh Sáu Tích, Bảy Tranh, Tư Họa, những người anh làm công tác nghệ thuật tôi có dịp ở, làm việc chung một thời gian. Các anh thuộc thế hệ đi trước, tôi là đàn em, được học hỏi, các anh đã để lại trong lòng tôi sự kính trọng, thương tiếc vô cùng khi biết các anh hy sinh! Cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước của nhân dân ta đã phải hy sinh biết bao xương máu của những người con yêu dân tộc, trong đó có các anh là những anh hùng làm rạng danh cho nước nhà. Xin thắp nén hương tưởng nhớ anh linh các Anh Sáu Tích, Bảy Tranh, Tư Họa.

Nguyễn Hải Phú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 517

———————-
(*) Bài đăng trong sách Nhà in Giải phóng Khu Sài Gòn – Gia Định 1947 – 1975 (CLB truyền thống kháng chiến khối Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn – Gia Định).

Ý Kiến bạn đọc