Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nhiều lỗi về chính trị, lịch sử, triết học, văn chương và tiếng Việt trong Nắng đầu mùa

Kỳ 1

Cuốn Nắng đầu mùa (1) của Nguyễn Minh Bích trong đó có 99 trang in 46 bài thơ và 5 bài văn xuôi của tác giả. Hơn 50 trang còn lại trong sách công bố các bài thơ, văn xuôi và nhạc của bạn bè người làm ấn phẩm này viết về anh. Sau đây tôi chỉ trao đổi cùng bạn đọc về 99 trang nói trên. Tôi không trao đổi thêm nữa với tác giả cuốn sách trong tiểu luận này, vì đã nói trực tiếp khá kỹ với anh từ trước và ngay sau khi phát hành Nắng đầu mùa, tôi cũng không đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu hơn một phần ba số trang trong tác phẩm in nhiều bài của bạn bè mang tính xã giao là chính.

Có thể nhận xét khái quát rằng, tác phẩm trên tuy nhỏ nhẹ, mảnh mai, nhưng lại chứa đựng nhiều lỗi nghiêm trọng về chính trị, lịch sử, văn học, triết học, tiếng Việt và không ít chi tiết kỹ thuật cùng góp phần tạo nên sự phản cảm trong tâm trí độc giả.

1. Về kiến thức, quan điểm chính trị, anh Nguyễn Minh Bích đã bộc lộ trong cuốn sách này sự non yếu, hơn nữa là sai lầm, và hơn thế nữa, đó là sự sai lầm nghiêm trọng không thể được công chúng thông cảm, châm chước, ngược lại, yêu cầu người mắc lỗi phải cải đổi, đính chính. Khi lướt qua một số ý kiến nhận xét đánh giá đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du và tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, anh viết: “Tạp chí Nam Phong (số 86, năm 1942) của Tổng Thư ký Phạm Quỳnh (1892 – 1945) – Ông là Nhà văn hóa, nhà Báo, Nhà văn và là quan đại thần Triều Nguyễn… Trong tạp chí Nam Phong có đoạn nhận xét: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ. Có điều chi nữa mà ngờ!… có nghĩ cho xa xôi, cho thấm thía, mới hiểu Truyện Kiều đối với vận mệnh nước ta có một cái gì quý giá vô ngần”. “Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta”. “Một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta”. “Một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta” ” (2). Đấy là những luận điểm hết sức phản động của Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh viết như thế là theo cái gậy chỉ huy của bọn đế quốc xâm lược, ăn cướp, bóc lột, nô dịch đồng bào ta, dân tộc ta. Người trích dẫn đoạn văn trên trong một bài viết để cấu thành Nắng đầu mùa cũng đã biết đó là lời Phạm Quỳnh phát ra từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, lúc Tổ quốc Việt Nam của chúng ta chưa giành được tự do, độc lập, còn đang rên xiết dưới gót sắt, họng súng, nhà tù, trại giam, gông cùm của hết bọn xâm lăng này đến kẻ cướp nước khác, tức là trong lúc Truyện Kiều còn mà nước ta mất, đồng bào ta, dân tộc ta phải sống kiếp nô lệ, bị bóc lột, đánh đập, chém giết rất dã man.

Một tác phẩm văn học – nghệ thuật nổi tiếng có giá trị to lớn, bao giờ cũng có sức sống trường cửu và có tính độc lập tương đối của nó, cho dù nó được nhà nghệ sĩ tài năng hoặc vĩ đại sáng tác ra trên điêu tàn của một hoặc nhiều cuộc chiến tranh, cũng có thể trước bối cảnh lịch sử của một dân tộc vừa giành được chiến thắng trong đấu tranh xã hội và vì thế ngập tràn niềm vui, hạnh phúc. Nó hiện diện, được đọc thưởng thức, nghiên cứu, quảng bá đến mức lý tưởng trong khung cảnh lịch sử, Tổ quốc của tác giả của nó được hòa bình, phát triển bền vững. Nó cũng có sức sống, tồn tại cả trong tình thế quê hương của tác giả của nó bị xâm lược. Truyện Kiều, tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du là một ví dụ. Nó ra đời từ hơn hai trăm năm trước. Nó luôn có sức sống với dân tộc không chỉ trong đất nước thái bình mà còn tại các thời kỳ lịch sử chúng ta bị mất nước.

Chan-dung-Pham-Quynh
Chân dung Phạm Quỳnh – Ảnh Internet

Phạm Quỳnh là người thông minh, học rộng, biết nhiều, ông có hiệu là Thượng Chi, sinh tại Hà Nội, nguyên quán làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Dương. Nhưng ông dùng cái vốn hiểu biết của mình để làm việc “tận tụy với chính quyền thực dân (xâm lược, đàn áp, bóc lột, tra tấn, khủng bố rất dã man những người Việt Nam có tinh thần và hành động yêu nước đấu tranh đánh đuổi bọn xâm lăng – người trích) và Nam Triều, không ủng hộ cách mạng trong nước và thế giới” (3). Không ai phủ nhận Phạm Quỳnh có tài học. Ông tốt nghiệp trường thông ngôn 1908, được bổ làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Ông dùng cái tài học của mình để cộng tác chặt chẽ và làm việc cho thực dân, đế quốc Pháp về văn học và chính trị. Do đó, năm 1917 ông được Louis Marti (Giám đốc Chính trị kiêm Trưởng Mật thám Đông Dương) cho ra tờ tạp chí Nam Phong. Phạm Quỳnh được Pháp cho làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí trên. Đó là cơ quan tuyên truyền chính trị cho Pháp, kẻ xâm lược, thống trị, nô dịch, đàn áp dân tộc ta ngót một thế kỷ. Năm 1932, Phạm Quỳnh được Pháp cử giữ chức Ngự tiền Văn phòng vua Bảo Đại, rồi làm Thượng thư (như Bộ trưởng ngày nay) Bộ Học, Bộ Lại. Con đường quan chức của Phạm Quỳnh “lên nhanh như diều gặp gió” vì học giả này “gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân” (4). Tờ Nam Phong, như trên nói, là của thực dân, đế quốc Pháp, kẻ thù xâm lược Việt Nam bày đặt ra, dựng lên, chứ không phải là công lao gì của Phạm Quỳnh. “Ngài chánh mật thám (người Pháp, tên là Louis Marti – người trích) trực tiếp giao cho cụ Phạm Thượng Chi đứng ra làm việc này (làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Nam Phong – người trích). Tài chính của tờ báo là của người Pháp lo. Lương chủ báo của cụ Phạm Quỳnh là do quan chánh mật thám trả – 600 đồng bạc Đông Dương… theo thời giá là khoảng 20 lượng vàng. To gấp đôi lương Thượng thư Nam Triều (300 đồng). Quan chánh sở cẩm coi tờ Nam Phong mới là quan trọng, còn cái Nam Triều kia chỉ là đám bù nhìn phải bày ra cho nó có vẻ là một cái Đại Nam Trung Kỳ chánh phủ” (5). Quan thầy Pháp trao cho nhiệm vụ và trả lương cực kỳ cao như thế, và, Phạm Quỳnh nói, viết đều chứng tỏ là nhân vật tay sai, bồi bút đắc lực cho bọn thực dân, đế quốc Pháp lúc kẻ thù này đang còn đích thực là tên xâm lược, đặt ách thống trị tại Việt Nam. Trong Thư ngỏ gửi ngài Bộ trưởng thuộc địa – 1931, Phạm Quỳnh viết: “Tổ quốc (Việt Nam – người trích) mà nước Pháp sẽ khôi phục cho chúng tôi, bằng cả hai tay chúng tôi sẽ dâng tặng lên nước Pháp, để mong nước Pháp sáp nhập nó vĩnh viễn vào trong khối Liên hiệp Pháp” (6). Tội ác tày trời và thủ đoạn lừa bịp của đế quốc Pháp như thế nào, dân tộc Việt Nam cùng cả thế giới có khát vọng tự do, dân chủ, độc lập, hòa bình đều đã biết. Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã lên án: “Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”. “Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược”. “Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”. “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương… thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật… Ngày 9 tháng 3 năm nay (1945 – người trích), Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật” (7). Thủ đoạn của Pháp mị dân, lừa bịp dân Việt Nam cùng toàn thể nhân loại yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do trên toàn thế giới là chúng đến Việt Nam để khai hóa văn minh, bảo hộ cho con người nơi đây. Nhưng thực chất chúng đến Việt Nam là để xâm lược, đặt ách đô hộ. Khi Nhật, một cường quốc phát xít trong phe Trục đến xâm lược Việt Nam thì bọn đế quốc Pháp đã tỏ ra bạc nhược không đủ sức chống Nhật, nên đã vứt bỏ cái mặt nạ “bảo hộ” đi, thay vào đó là hành động quỳ gối đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Bộ mặt giả tạo, lời nói hoa mỹ và hành động xâm lược của bọn thực dân Pháp là như vậy. Chúng đã bị cả loài người tiến bộ trên toàn thế giới lên án. Thế mà Phạm Quỳnh lấy làm hài lòng mỹ mãn khi được Pháp phong quan tiến chức, rồi tỏ ra trung thành hết sức với quan thầy phương Tây ấy, bằng cả hai tay, học giả tài danh nhưng phản bội Tổ quốc này, dâng tặng nước ta cho chính kẻ thù dân tộc của mình.

Đọc những trang cẩn tự của Phạm Toàn, rồi đọc hết tiểu luận viết bằng tiếng Pháp 1922 – 1923 do Phạm Toàn tổ chức dịch và biên tập, Chu Giang “mới được hai năm rõ mười: Hóa ra Phạm Quỳnh là vị thừa sai đắc lực của người Pháp – cụ thể là các quan cai trị của Nhà nước Bảo hộ, và rõ ràng có tội bán nước” (8). Chu Giang viết tiếp: “Chỉ xét riêng bài nói ở Ban luân lý – chính trị Viện Hàn lâm Pháp ngày 22-7-1922, tại Paris, đã đáng tội trảm” (9). Vẫn theo Chu Giang, Phạm Quỳnh bằng “hai tay dâng tặng Tổ quốc An Nam cho người Pháp”, đó là một tội và “tội này còn nặng hơn tội trước” (10). Tôi đồng ý với Chu Giang khi anh viết những quan điểm, chính kiến trên trong cuốn Luận chiến văn chương, q.3, tác phẩm được Hội đồng Lý luận – phê bình văn học – nghệ thuật Trung ương trao tặng giải thưởng loại A vào năm 2016 (11).

Từ những sự thật lịch sử không thể nào cho qua được về Phạm Quỳnh, Phạm Quỳnh đích thực là nhân vật chống lại Tổ quốc và nhân dân đã giải thích vì sao ngày 23-8-1945, tức là chỉ 4 ngày sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng cách mạng yêu nước tóm gọn và xử bắn (12) Phạm Quỳnh ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên, kết liễu cuộc đời của học giả lừng danh này nhưng làm việc tận tụy với kẻ thù của dân tộc, chống lại nhân dân và Tổ quốc.

Anh Nguyễn Minh Bích đã ngoài 70 tuổi, nhưng tỏ ra rất ngây thơ về quan điểm, vấn đề chính trị. Đoạn văn Phạm Quỳnh nói về Truyện Kiều là rất phi lý, sai lầm, hơn nữa, là phản động. Nó được viết và nói theo giọng điệu của bọn thực dân xâm lược. Khi đất nước yêu dấu của chúng ta do cha ông chúng ta tạo dựng nên bằng bao mồ hôi, công sức và cả không ít xương máu nữa, bị kẻ thù đến xâm lược, dùng sức mạnh để vi phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền dân tộc, thì mọi thành viên được sinh ra và trưởng thành từ Tổ quốc Việt Nam nếu có tinh thần, ý chí và khí phách quật cường của dân tộc thì đều phải tích cực góp phần đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược, lấy lại đất nước rồi tiếp tục kiến thiết nó thành một quốc gia cường thịnh, đẹp giàu hơn.

Truyện Kiều, như tôi đã nói ở trên, đó là tác phẩm vĩ đại, áng văn bất hủ của Nguyễn Du. Nó đã trở thành di sản văn hóa của cả dân tộc, hơn nữa, của toàn nhân loại. Từ khi ra đời và được khẳng định chân giá trị, nó có sức sống, tồn tại trong mọi hoàn cảnh lịch sử, kể cả lúc đất nước ta trở thành thuộc địa của bọn xâm lược. Trước Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dân tộc ta còn bị các đế quốc thống trị, nô dịch, chúng ta chưa lấy lại được vai trò, tư cách chủ nhân ông của Tổ quốc, thế nhưng Truyện Kiều vẫn tồn tại, được nhân dân đọc thưởng thức, ngâm vịnh, được giảng dạy trong nhà trường, được giới nghiên cứu tiếp cận nhằm đến những mục tiêu khác nhau. Điều này chứng tỏ, Truyện Kiều còn không phải là sự bảo đảm cho nước Việt Nam của chúng ta có độc lập tự do. Trong hoàn cảnh lịch sử bị hết đế quốc này đến bọn phát xít khác xâm lược, Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã tổ chức, đoàn kết, tập hợp tất cả đồng bào yêu nước trường kỳ kháng chiến đánh đuổi quân xâm lược và bè lũ tay sai, phản quốc thì kẻ bồi bút cho đế quốc Pháp làm cái loa tuyên truyền phát ngôn giọng điệu của thực dân xâm lược như tác giả Nắng đầu mùa đã trích và tôi dẫn lại ở trên (“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn; có gì mà lo, có gì mà sợ…”). Qua đây, người có tên hiệu là Thượng Chi đã bộc lộ rõ, chứ không thể che giấu được tư tưởng, chủ trương phản động chống đồng bào, phản Tổ quốc, lừa bịp, ru ngủ mọi con dân nước Việt, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên không phải lo, sợ gì cả, không có chuyện mất nước, không phải tham gia đấu tranh cách mạng cứu nước, vì Truyện Kiều còn tức là nước ta còn, tiếng ta còn, có bị ai xâm lược cướp mất đâu.

Cụ Ngô Đức Kế, một tiến sĩ, một chí sĩ, nhà yêu nước đã luận chiến, đập lại chủ trương, tư tưởng, giọng điệu phản động nói trên một cách rất kịch liệt. Theo cụ và các đồng chí của cụ thì Phạm Quỳnh đã cố gây một ý nghĩ mơ hồ và nguy hiểm rằng chỉ cần có Truyện Kiều là đủ, là nước mất cũng như còn, là thân làm nô lệ, bị đế quốc nô dịch cũng đường đường như làm chủ nhân ông. Vẫn theo cụ Ngô Đức Kế và các đồng chí của cụ thì Truyện Kiều có giá trị của nó, nhưng nó không thể thay thế được vận mệnh của Tổ quốc, độc lập của dân tộc, quyền sống, cơm áo hàng ngày của nhân dân; nước mất, dân tộc bị diệt vong thì tiếng nói của dân tộc không còn chỗ dựa để tồn tại (13). Những luận điểm đập lại Phạm Quỳnh như vậy là xác đáng, đã khiến cho nhân vật làm tay sai cho bọn đế quốc xâm lược này không phản bác lại được trên báo chí, phải đến khi cụ Ngô Đức Kế qua đời rồi, họ Phạm mới có vài câu đáp lại một cách yếu ớt và tất nhiên là không thuyết phục được công chúng độc giả (14).

Pham-Quynh-nam-1922-tai-Phap-1
Phạm Quỳnh năm 1922 tại Pháp

Qua những điều bàn ở trên, tôi thấy cần nói rằng, anh Nguyễn Minh Bích đã không thấy được thực chất và hàm ý phản động, quay lưng lại với dân tộc và Tổ quốc qua những lời bàn của Phạm Quỳnh về Truyện Kiều, thậm chí, anh còn ngộ nhận đấy là những nhận xét, đánh giá đúng, chính xác về quyển tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát đó của Nguyễn Du. Bởi thế, là tất yếu, chứ không phải ngẫu nhiên, tác giả Nắng đầu mùa đã trân trọng, tôn vinh Phạm Quỳnh, gọi nhân vật chống nhân dân, Tổ quốc, đồng bào của mình là “quan đại thần”, là “Ông” (15) viết hoa. Theo tôi, anh Nguyễn Minh Bích đã vô tình, hoặc cố ý sử dụng từ, ngữ không chính xác. Cụm từ “quan đại thần” chỉ nên dùng để nói, viết về các vị quan có công lớn với dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi. Một kẻ phản quốc dùng cả hai tay dâng tặng nước Việt Nam cho đế quốc Pháp thì không thể được gọi, được tôn vinh là “quan đại thần” như anh Nguyễn Minh Bích đã tôn vinh. Giáo trình môn khoa học Xây dựng Đảng mà anh Nguyễn Minh Bích có nhiệm vụ phải đọc nghiêm túc, vì anh công tác mấy chục năm ở Viện Xây dựng Đảng, cũng như nhiều tài liệu, văn kiện quan trọng khác viết về hai lãnh tụ thiên tài của nhân dân lao động toàn thế giới, hai nhà khoa học vĩ đại của cả loài người tiến bộ cũng chỉ dùng đại từ “ông” (16) viết thường để thay thế cho danh từ riêng Mác và Ăngghen. Vậy mà anh Nguyễn Minh Bích dùng đại từ “Ông” viết hoa để chỉ họ Phạm làm tay sai cho đế quốc Pháp xâm lược nước ta?! Có phải tác giả Nắng đầu mùa muốn tôn vinh đến cao độ kẻ làm tay sai cho bọn cướp nước ta, gây nên bao tội ác cho đồng bào, dân tộc ta không?!

Chính vì trong đời sống văn học – nghệ thuật nói riêng và nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam nói chung gần đây có một số dấu hiệu ngộ nhận về phẩm chất của Phạm Quỳnh, cho nên ngoài những điều đã viết ở trên, tôi thấy cần thống kê không ít tài liệu có độ tin cậy cao ra sau đây để bạn đọc tham khảo.

- Phạm Quỳnh “dùng văn chương chữ nghĩa khảo Tây cứu Đông bới cổ diễn kim… để làm lạc hướng, làm u mê tê liệt ý chí đấu tranh chống xâm lược của cả dân tộc” (17).

- Theo hồi ký của giáo sư Đặng Thai Mai, một nhà khoa học, nhà hoạt động cách mạng rất nổi tiếng ở Việt Nam thì “thanh niên sinh viên Hà Nội khinh ghét” Phạm Quỳnh, đã tát vào mặt Phạm Quỳnh (18).

- Phạm Văn Dật, giáo sư Đại học Văn khoa Huế cho biết: “Học sinh trường Quốc học và một số người thời đó gọi Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là Nguyễn Phản Quốc và Phạm hót Tây”. Giáo sư họ Phan viết tiếp: “Khi người ta đọc cuốn Vers une constitution, người ta thấy rõ Phạm Quỳnh là một công cụ của Tây” (19).

- Đông Tùng, 72 tuổi, khoảng trước 1975 nói: “Tháng 10-1926, tôi trốn Pháp qua Quảng Châu (Tàu) thụ huấn chính trị với ông Nguyễn Ái Quốc… Ông Quốc có đề cập tới tạp chí Nam Phong. Ông (tức Nguyễn Ái Quốc – người trích) cho rằng, Nam Phong là một cơ quan văn hóa của phòng chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương mà Phạm Quỳnh là người thực hiện với một số phần tử phản bội như Nguyễn Bá Trác, Sở Cuồng Lê Dư… vì thế Nam Phong đương nhiên là một cái loa để quảng cáo cho cái chiêu bài “Văn minh khai hóa” của thực dân Pháp ở Đông Dương” (theo Nguyễn Văn Trung trong Trường hợp Phạm Quỳnh, Tủ sách Tìm về dân tộc, Nam Sơn, Sài Gòn, 1975) (20).

- Trong hồi ký Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1987 có nói ta thu được mật lệnh trong cặp của tên quan tư Pháp Castella như sau: “Mật lệnh. Quan tư Castella có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh…, với các lực lượng Pháp hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI) để tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam” (21).

Tôi đã lĩnh hội từ những tài liệu có giá trị trên đây và góp phần làm tường minh Phạm Quỳnh là kẻ phản quốc, là tên tay sai đắc lực, tin cậy của đế quốc Pháp. Phạm Quỳnh làm quan phản dân hại nước, chứ không phải là quan đại thần đáng được tôn vinh bằng đại từ “Ông” viết hoa như Nguyễn Minh Bích đã tỏ ra rất sùng kính học giả có tài năng nhất định nhưng đốn mạt về phẩm chất chính trị này.

Phạm Quỳnh dùng văn học, báo chí để hoạt động chính trị phản quốc như thế, nên văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1931 đã viết: “bọn Phạm Quỳnh (Bắc kỳ) cũng bưng “Lập hiến” (là đảng phái đã bị Pháp mua chuộc – người trích) với “Cải lương” (một phong trào hoạt động phá hoại cách mạng – người trích) nói hằng ngày rất náo nhiệt” (22).

Cũng bởi phẩm chất chính trị của Phạm Quỳnh khốn nạn như vậy (cộng tác, làm việc cho kẻ thù xâm lược, và phản quốc, phản đồng bào, phản dân tộc) mà Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu, Nhà hoạt động cách mạng xuất sắc, hai lần được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, nhà khoa học rất nổi tiếng trong nước và cả trên phạm vi thế giới nữa, đã xuất bản 64 quyển sách, trong đó có những ấn phẩm tầm cỡ, đồ sộ dày trên 1.000 trang, 94 bài đăng tạp chí, và còn nhiều công trình chưa thống kê hết, đã rất khinh ghét Phạm Quỳnh, gọi kẻ phản quốc hại dân này là “y”, là hạng tay sai chó ngựa cho kẻ thù của dân tộc. Nguyên văn lời Giáo sư Trần Văn Giàu về Phạm Quỳnh: Phạm Quỳnh “Thề thốt khuyển mã trung thành như vậy mà Đại Pháp vẫn không ưng nghe hết… Y (Phạm Quỳnh – người trích) đang tìm cách kéo thanh niên xa cách mạng, y lợi dụng Truyện Kiều mà làm việc ấy” (23).

Như vậy, không chỉ người sáng lập Đảng, văn kiện Đảng, mà cả giới nghiên cứu khoa học, văn học – nghệ thuật cùng đông đảo quần chúng yêu nước đều khinh ghét, luận chứng, kết tội Phạm Quỳnh là tên tay sai của Pháp, là kẻ phản quốc, phản dân tộc, dùng Truyện Kiều để thực thi đường lối chính trị của thực dân Pháp và cũng là của chính y.

2. Tác giả Nắng đầu mùa đã chứng tỏ anh mắc nhiều lỗi về văn học và nhân cách người làm thơ của chính anh.

Khái niệm, thuật ngữ thi pháp được anh Nguyễn Minh Bích bàn nhiều lần và bộc lộ không ít lỗi.

Thi pháp là gì? Theo cách hiểu truyền thống, thi pháp là “phương pháp làm thơ” (24). Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ cũng như nhận thức của con người, của loài người luôn có sự vận động, phát triển không ngừng về cả nội dung, ý nghĩa và hình thức biểu hiện.

Vì thế theo “cách hiểu thông thường hiện nay trên thế giới, thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật để tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học…” (25).

Giới nghiên cứu lý luận – phê bình văn học hiện nay hiểu và sử dụng khái niệm, thuật ngữ thi pháp theo cách hiểu, khái quát trên của giáo sư Đỗ Đức Hiểu.

Mấy lần anh Nguyễn Minh Bích bàn về thi pháp. Chẳng hạn, anh viết: “Từ người nông dân đi chợ, đi chùa đến người trí thức – bác học cũng nói và viết được những câu lục bát, nhưng cái khó của nó là không thể viết như ca dao hoặc bắt chước ca dao mà thơ lục bát phải trở thành thi pháp ca dao” (26). Thí dụ khác: “Tưởng như bắt chước ca dao nhưng đó chính lại là thi pháp ca dao, ví dụ như câu: “Thơ ơi ta bảo thơ này / Để ta đi cấy đi cày nuôi em”. Bằng thi pháp ca dao, Nguyễn Duy đã bình dị hóa cái cao cả” (27). Thí dụ khác nữa về câu của Nguyễn Minh Bích có khái niệm, thuật ngữ thi pháp: “Nhờ có thi pháp ca dao đã giúp cho Nguyễn Duy viết được những câu thơ rất tài hoa: “Ta cài cúc áo cho em / Vung tay gói lại một miền cỏ lau” (28). Ba đoạn trích dẫn lời bàn của tác giả Nắng đầu mùa về thi pháp trên đây chứng tỏ anh rất quan tâm tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ thi pháp. Nhưng rất tiếc là anh bàn sai hết, nói linh tinh, chẳng sáng rõ ý tưởng. Theo anh, thơ lục bát phải trở thành thi pháp, tức phương pháp nghiên cứu, ca dao. Thơ lục bát là một trong những đối tượng của nghiên cứu, chứ không thể trở thành phương pháp nghiên cứu như anh Nguyễn Minh Bích lầm tưởng. Nguyễn Duy để đời những câu thơ, tức là kết quả sáng tác thơ của anh. Mấy câu thơ của Nguyễn Duy được anh Nguyễn Minh Bích trích dẫn, đó là tác phẩm thơ, chứ không phải như anh Nguyễn Minh Bích nói là bài nghiên cứu, là phương pháp nghiên cứu (thi pháp) về thơ.

Tóm lại, trong cuốn sách trên có nhiều chỗ nói về thi pháp, nhưng đều viết chẳng đâu vào đâu cả. Người đọc có cảm giác anh Nguyễn Minh Bích thích thú, hăng hái bàn về thi pháp trong khi anh không hiểu đúng về thi pháp, thậm chí hiểu sai hoàn toàn bản chất của khái niệm, thuật ngữ này.

Trong Nắng đầu mùa còn có lỗi khác nữa về văn học khi tác giả bàn về luật thơ lục bát và thơ lục bát biến thể.

Thơ lục bát, tức là thể thơ có từng cặp câu, câu trên gồm sáu (lục) chữ, câu dưới gồm tám (bát) chữ. Về luật bằng trắc của thơ lục bát thì thông thường: chữ thứ tư của cả hai câu lục và bát có vần trắc, các chữ thứ hai, sáu, tám của hai câu có vần bằng, các chữ còn lại có vần tự do không nhất thiết phải là vần bằng hoặc vần trắc.

Thơ lục bát có trường hợp biến thể, tức là không theo đúng luật bằng trắc nói trên. Thí dụ: “Mai cốt cách tuyết tinh thần / Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” (Truyện Kiều). Thí dụ khác: “Con cò mà đi ăn đêm / Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” (ca dao). Như trên đã nói, thông thường, chữ thứ hai của câu lục và câu bát có vần bằng. Nhưng trong hai cặp câu thơ lục bát trên, chữ thứ hai của câu lục là chữ “cốt” và chữ thứ hai của câu bát là chữ “phải” lại là vần trắc. Đây là những câu lục bát biến thể. Nhưng anh Nguyễn Minh Bích viết: “Những chữ thứ hai, tư, sáu trong cả hai câu lục và bát “nhất thiết phải theo luật bằng trắc” (29) như đã nói ở trên. Khẳng định này của tác giả Nắng đầu mùa chứng tỏ anh viết, nói lấy được, không khảo xét trong đời sống sáng tác thơ lục bát. Trong câu thơ dẫn từ Truyện Kiều trên đây, chữ thứ hai của câu lục (tức là chữ “cốt”) không phải là vần bằng, mà là vần trắc. Trong câu thơ lục bát dẫn từ ca dao, chữ thứ hai của câu bát (tức là chữ “phải”) cũng không là vần bằng, mà là vần trắc. Câu lục bát ấy của Nguyễn Du và câu lục bát trong ca dao đã dẫn không thuộc dạng, thể loại lục bát truyền thống. Chúng đã biến thể, nên được gọi là lục bát biến thể.

Luật gieo vần của thơ lục bát được tác giả Nguyễn Minh Bích bàn khá nhiều, kỹ, dài dòng, rắc rối, mà vẫn thiếu. Luật này nên chỉ nói ngắn gọn, rõ và đủ là được: thông thường, chữ cuối của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, chữ cuối của câu bát lại vần với chữ cuối của câu lục tiếp theo.

Luật gieo vần cũng có trường hợp biến thể dẫn đến thơ lục bát biến thể. Như đã nói, thông thường, chữ cuối của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát. Nhưng có nhiều trường hợp luật này bị phá, cụ thể là chữ cuối của câu lục vần với chữ thứ tư của câu bát để làm nên câu thơ hay cả về ý nghĩa cùng âm hưởng của nó. Thí dụ: “Núi cao chi lắm núi ơi! / Che khuất mặt trời chẳng thấy người yêu” (ca dao). Thí dụ khác: “Con cò mà đi ăn đêm / Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” (ca dao). Luật và dạng lục bát biến thể này chưa được tác giả tập sách trên đề cập, trong khi anh nói thao thao bất tuyệt về lục bát biến thể.

Thơ lục bát có thể tăng giảm về số chữ trong mỗi câu để trở thành cặp câu thơ không phải là câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ. Biến thể như vậy thì không còn là thơ lục bát nữa.

Tóm lại, thơ lục bát có những trường hợp biến thể về luật bằng trắc và về luật gieo vần.

Anh Nguyễn Minh Bích bàn nhiều về luật gieo vần trong thơ lục bát. Nhưng, khi làm thơ lục bát thì anh lại tỏ ra không cần phải quan tâm đến luật gieo vần trong thể thơ này. Trong bài thơ lục bát của anh mang tên Ngan ngát “hương cau” khá ngắn in tại trang 59 và 60 cuốn Nắng đầu mùa, tác giả rất vô tư, thoải mái ép vần như sau: “Bước chân thăm thẳm mọi miền / “Sông quê”, “Bến nước”… còn nguyên “Hẹn hò” / “Đâu rồi đôi mắt”… “Ngày xưa” / … “Giọt tình”… gió thoảng đưa vèo / “Rơm vàng một thuở” lần theo tìm về / “Ầu ơ… tiếng mẹ”… “Canh khuya” / Chao nghiêng cánh võng đêm hè “Ru con” / Vẹt chân trăm nẻo “Đường mòn” / Phơ phơ đầu bạc… mãi còn “Lời ru”! / Nhớ quê trĩu nặng “vần thơ” / “Hương cau” “Hoài niệm”… “Ngày xưa” đong đầy”. Những câu thơ lục bát trên đây của anh Nguyễn Minh Bích có vần “ò” không vần nên phải ép vần với vần “ưa”, có vần “ề” không vần nên phải ép vần với vần “a”, có vần “a” không vần nên đành phải ép vần với vần “è”, có vần “u” không vần nên lại đành phải ép vần với vần “ơ”, có vần “ơ” không vần nên cực chẳng đã phải ép vần với vần “ưa”.

Thơ lục bát được tôn vinh là quốc thơ. Nhiều nhà thơ có tên tuổi (như Nguyễn Thế Kiên – nhà văn Việt Nam, Trịnh Chu Sách – nhà văn Hà Nội…) tự hào về thể thơ lục bát của dân tộc, yêu thích sáng tác thơ lục bát, lấy hai chữ lục bát làm bút hiệu cho mình.

Thế nhưng, Nguyễn Minh Bích làm thơ lục bát ép vần quá nhiều như trên, trong một bài thơ lục bát ngắn mà có đến 8 chữ không vần, phải ép vần, ép vần như vậy có khác nào anh nhạo báng loại hình sáng tác thi ca của dân tộc đang được bàn luận tại đây.

Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm hai câu bảy (thất) chữ, tiếp đến hai câu lục bát. Thể thơ này có dạng biến thể: hai câu lục bát ở trên, rồi tiếp đến hai câu bảy (thất) chữ.

Thơ lục bát và thơ song thất lục bát là hai thể thơ khác nhau hoàn toàn. Không có tình trạng “thơ lục bát biến thành thơ song thất lục bát cũng gọi là lục bát biến thể”(30) như anh Nguyễn Minh Bích đã viết võ đoán.

Một dấu hiệu bất ổn khác nữa về văn học trong Nắng đầu mùa là tác giả của nó đã dùng văn thơ để dối lừa bạn đọc.

Trong một bài thơ mang tựa đề Bằng lòng đi em có ghi phụ chú là “Vui thơ gửi tới bạn hiền”, tức là anh Nguyễn Minh Bích viết thi phẩm gồm 14 câu này khi có hứng thú, tâm thần bình thường. Tại đấy có 5 câu: “Anh chỉ đáng gọi “Lều thơ” / Gọi “Nhà” ngượng lắm xin chờ kiếp sau”… / “Gọi “Nhà”… cứ thấy cao sang / Gọi “Lều” khoái trá, nhẹ nhàng lắm thay”… / “Vui lòng em nhé, “Nhà” thay bằng “Lều” ”(31). Qua đấy người đọc được biết tác giả nói chuyện, giãi bày suy nghĩ khiêm tốn, tình cảm chân thật, quý mến của mình với một bạn thơ kém tuổi anh, và, bạn bè gọi anh là “Nhà thơ”, chứ anh không tự gọi mình là “Nhà thơ”, theo anh nói trong bài thơ trên, anh chỉ đáng gọi là “Lều thơ” thôi. Nói khiêm tốn như thế trong lúc vui với bạn có thể được, hoàn toàn không có gì đáng phải chê trách. Nhưng, trong mấy trang văn xuôi làm Lời đầu sách, tác giả Nắng đầu mùa viết: “Thật lòng, đã có bao giờ tôi nhận mình là “Nhà thơ” đâu”(32). Đây rõ ràng là một lời quả quyết của tác giả chưa từng tự nhận mình là nhà thơ. Viết câu trên, anh Nguyễn Minh Bích lại một lần nữa muốn chứng tỏ anh là người chân thật, khiêm tốn. Song, anh đã được kết quả ngược lại, người đọc cảm nhận anh là tác giả thiếu phẩm chất chân thật, cùng một con người, một hiện tượng, lúc anh nói thế này, khi khác anh nói ngược hẳn lại 180 độ. Bởi vì từ năm 2013, khi in thơ và ảnh chân dung của mình, anh đã ghi chú thích rõ, tự nhận là “Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Minh Bích” (33). Hẳn là anh cũng như nhiều bạn đọc nhớ chứ không quên cụm từ do chính anh khẳng định và tự tay anh viết đó (“Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Minh Bích”). Bốn năm sau, tác giả Nắng đầu mùa thay lời đổi ý, may chăng chỉ có những ai lười đọc, hoặc không có điều kiện tìm đọc được Dặm ngàn Đất Việt, số 7 do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành từ Hà Nội năm 2013 mới ngộ nhận anh là tác giả chân thật, khiêm tốn. Xưa nay, nói năng tiền hậu bất nhất luôn là điều cấm kỵ với mọi người và tất cả những ai có nhân cách cũng chú ý tránh, loại trừ phẩm chất ấy.

(Còn tiếp một kỳ)

TS. Lê Huy Thực
(Câu lạc bộ Văn hóa – Nghệ thuật Đất Việt Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 466

__________

CHÚ THÍCH
(1) Nguyễn Minh Bích: Nắng đầu mùa, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016.
(2) Như 1, tr.97-98. Anh Nguyễn Minh Bích trích dẫn sai sót nhiều chữ in nghiêng, dấu phảy, dấu chấm. Vì dẫn lại từ bài và sách của anh Bích, nên tôi chép nguyên văn trong bài và sách ấy. Xin thông báo để bạn đọc biết điều đó.
(3) Từ điển văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1993, tr.438.
(4) Nguyễn Vỹ: Văn sĩ tiền chiến, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 2007, tr.41-42.
(5) Chu Giang: Luận chiến văn chương, q.3, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2015, tr.213.
(6) Như 5, tr.190-191.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.1-2.
(8) Như 5, tr. 203-204.
(9) Như 5, tr.204.
(10) Như 5, tr.204.
(11) Chu Giang: Luận chiến văn chương, q.4, Nxb. Văn học, Hà Nội, bìa 4.
(12) Như 4, tr.42.
(13) Tài liệu đánh giá ông Phạm Quỳnh, phát trên mạng thứ sáu, 20-1-2017, viết dưới tiêu đề Thực chất cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh vấn đề Truyện Kiều, tr.20.
(14) Như 13, tr.24.
(15) Như 1, tr.97.
(16) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng: Giáo trình Xây dựng Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.19,…
(17) Như 5, tr.205
(18) Như 5, tr.362.
(19) Như 5, tr.365-366.
(20) Như 5, tr.368.
(21) Như 5, tr.374.
(22) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.88.
(23) Trần Văn Giàu: Tổng tập, t.3, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.701 và 706.
(24) Nguyễn Lân: Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.1721.
(25) Đỗ Đức Hiểu: Thi pháp hiện đại, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000, tr.9.
(26) Như 1, tr.78.
(27) Như 1, tr.78.
(28) Như 1, tr.79.
(29) Như 1, tr.88.
(30) Như 1, tr.89.
(31) Như 1, tr.63.
(32) Như 1, tr.4.
(33) Dặm ngàn Đất Việt, số 7, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2013, tr.39.

Ý Kiến bạn đọc