Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nhiều lỗi về chính trị, lịch sử, triết học, văn chương và tiếng Việt trong Nắng đầu mùa

Kỳ 2

3. Văn chương, lịch sử và triết học, đó là những bộ môn, ngành khoa học có quan hệ gắn bó máu thịt với nhau. Nghiên cứu lịch sử và văn học thì không thể không chú trọng, áp dụng lối tư duy và phương pháp triết học. Tìm hiểu văn học và triết học không thể bỏ qua hoàn cảnh lịch sử của tác phẩm được khảo xét. Tiếp cận các vấn đề về lịch sử và triết học rất cần đến sự hỗ trợ của kiến thức văn học, có hành văn trong sáng, diễn đạt ý tưởng được rõ ràng, mạch lạc. Cho nên, không phải là ngẫu nhiên, tập Nắng đầu mùa có chứa đựng cả những thông tin, kiến thức về lịch sử và triết học, chứ không chỉ bàn, viết về văn, thơ. Nhưng, rất tiếc vì trong tác phẩm này đã có nhiều lỗi nghiêm trọng về triết học và lịch sử khi tác giả của nó bàn về những kiến thức sơ đẳng thuộc hai môn học hữu quan với văn chương ấy.

Như chúng ta đã biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những vị tướng tài ba, xuất chúng, nổi tiếng không chỉ tại Việt Nam mà còn trên toàn thế giới nữa. Đại tướng kính yêu đã từ trần, hưởng thọ 103 tuổi. Trong những ngày tang lễ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức trọng thể theo nghi thức cấp Nhà nước, anh Nguyễn Minh Bích đã rất xúc động và sớm làm bài thơ Sáng mãi tên Người để kính viếng người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo lời anh nói với tôi, anh đã đến tận nhà riêng của Đại tướng, đặt bài thơ nói trên lên bàn thờ Đại tướng, kính viếng Đại tướng. Thi phẩm này được tác giả công bố tiếp tại cuốn Dặm ngàn Đất Việt, số 7-2013, tiếp nữa trong mấy ấn phẩm gồm nhiều tác giả, gần đây nhất, nó được in trong Nắng đầu mùa phát hành đầu quý I – 2017. Toàn bài thơ ấy sau khi được tác giả sửa chữa nhiều lần như sau: “Dòng người lặng lẽ, bàng hoàng / Khát khao, thổn thức, hai hàng lệ rơi / Bụi trần rũ sạch – Người ơi / Triệu lòng ghi tạc, ngàn lời in sâu / Võ – Văn duy nhất Hoàn cầu / Đức – Tài tỏa rạng khắp bầu Trời Nam / Quê Mẹ ru giấc ngàn năm / Tên người sáng mãi trăng rằm thiên thu”(1). Bài thơ này có những lỗi không nhỏ về kiến thức lịch sử. Anh Nguyễn Minh Bích ca ngợi và khẳng định Võ Nguyên Giáp là người “Võ – Văn duy nhất Hoàn cầu”. Tức là theo anh, trên toàn thế giới, chỉ có một người văn võ song toàn, đó là Võ Nguyên Giáp. Câu này sai, lỗi rất nghiêm trọng. Chưa cần tìm hiểu trên phạm vi toàn thế giới, mới chỉ khảo xét lịch sử Việt Nam thôi chúng ta đã biết Tổ quốc, dân tộc của chúng ta đã có nhiều vĩ nhân, lãnh tụ thiên tài, văn võ song toàn.

Đó là Lý Thường Kiệt, người anh hùng dân tộc vẹn toàn cả văn chương và võ công. Vào cuối thế kỷ XI, quân Tống chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Tuân lệnh vua Lý, Lý Thường Kiệt đã dẫn quân sang tận lãnh thổ do nhà Tống cai quản, thống trị, “nhằm tiêu diệt các căn cứ hậu cần mà vua Tống đang cho củng cố và phát triển trong kế hoạch chuẩn bị xâm lược nước Đại Việt”(2). Lý Thường Kiệt không chỉ giỏi võ công. Ông còn có tài văn thơ. Ông viết bài văn lộ bố, tức bài hịch viết trên vải treo cắm bên đường kể tội vua tôi nhà Tống, nói việc tướng quân Đại Việt chỉ tiến công kẻ âm mưu xâm lược, chứ không nhằm vào nhân dân Trung Quốc, vì thế, đã trung lập hóa được nhân dân Trung Quốc, làm cho nhân dân Trung Quốc không lầm tưởng quân đội Đại Việt là bọn xâm lược. Lý Thường Kiệt chỉ huy quân đội Đại Việt và chiến đấu thắng lợi, làm cho kẻ thù khiếp đảm. Tác phẩm văn học nổi tiếng nói trên của Lý Thường Kiệt đã “làm rạng rỡ thêm những trang lịch sử văn học cổ”(3) Việt Nam. Chính bởi những chiến công quân sự và tác động thẩm mỹ của nhiều bản hùng văn của Lý Thường Kiệt mà nhân vật lịch sử này được dân tộc và sử sách ca ngợi, tôn vinh là người anh hùng dân tộc văn võ song toàn.

Dai-tuong-Vo-Nguyen-Giap---Anh-1
Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trần Quốc Tuấn cũng là một nhân vật lịch sử, người anh hùng dân tộc văn võ song toàn. Ông là linh hồn và là nhà chiến lược kiệt xuất, vị tướng thiên tài trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – một đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Năm 1984, tại Luân Đôn, Hội nghị các nhà nghiên cứu quân sự thế giới đã công bố một danh sách 10 Đại Nguyên soái, trong đó có Trần Hưng Đạo (tên gọi Trần Quốc Tuấn bằng tước được phong của ông). Trần Quốc Tuấn còn có tài văn chương. Ông là tác giả của Hịch tướng sĩ, một bản hùng văn, có tác động kêu gọi tướng sĩ chăm lo tập luyện võ thuật chiến đấu lập công khi giặc ngoại bang xâm lược(4). Sử sách, dân tộc Việt Nam, hơn nữa, cả thế giới ghi nhận, tôn vinh Trần Quốc Tuấn là người anh hùng dân tộc văn võ song toàn.

Cũng như Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc tài kiêm văn võ. Ông là quân sư xuất sắc của Lê Lợi. Ông giúp vua về việc quân sự, thảo thư từ giao thiệp với quân Minh. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi viết, từ khi ra đời đến nay, được xem là “thiên cổ hùng văn”(5). Chính vì thế mà Phạm Văn Đồng đã khẳng định và luận chứng một cách rất thuyết phục về “Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, văn võ song toàn”(6). Trong diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng khẳng định, ca ngợi “Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc vĩ đại, chí khí đấu tranh bất khuất, hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước… Ông là con người học rộng, tài cao, văn võ song toàn”(7).

Hồ Chí Minh không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Người còn sáng lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh là tác giả tập thơ Nhật ký trong tù và nhiều tác phẩm văn học khác rất nổi tiếng. Vì thế, Hồ Chí Minh cũng được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tôn vinh, khẳng định là người anh hùng dân tộc văn võ song toàn.

Chỉ nói sơ lược như trên cũng đã thấy ngay tại Việt Nam đã có nhiều anh hùng dân tộc văn võ song toàn, chứ không phải là chỉ có một người là Võ Nguyên Giáp tài kiêm văn võ như anh Nguyễn Minh Bích đã viết. Tác giả Nắng đầu mùa ca ngợi Võ Nguyên Giáp như thế là do anh thiếu hụt kiến thức lịch sử ở trình độ học sinh phổ thông. Lỗi này của anh còn dẫn đến hệ quả, vô hình trung, anh phủ nhận Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh không phải là những anh hùng dân tộc văn võ kiêm toàn. Phủ nhận không đúng về các vĩ nhân, tức là hỗn xược với các vĩ nhân.

Vẫn xét về câu thơ trên (“Võ – Văn duy nhất Hoàn cầu”), nhưng ở khía cạnh khác. Anh Nguyễn Minh Bích ca ngợi Võ Nguyên Giáp là giỏi, tài võ và văn nhất thế giới, thế có nghĩa là anh khẳng định tài võ văn của vị Đại tướng này nổi tiếng trên toàn thế giới.

Thế nhưng, câu tiếp theo câu trên, tác giả Nắng đầu mùa lại viết: “Đức – Tài tỏa rạng khắp bầu Trời Nam”. Đến đây anh Nguyễn Minh Bích bỗng đột ngột thu hẹp lại phạm vi tỏa rạng tài năng của Võ Nguyên Giáp. Câu trước thì khẳng định tài năng của Võ Nguyên Giáp tỏa khắp năm châu bốn biển, nổi tiếng nhất thế giới, vì cả thế giới có một người là Võ Nguyên Giáp giỏi cả võ và văn, nhưng câu kế sau tác giả Nắng đầu mùa lại bảo rằng tài năng và đạo đức của vị tướng này chỉ tỏa rạng trong đất trời Việt Nam thôi. Như thế, Nguyễn Minh Bích lại một lần nữa bộc lộ thêm sự thiếu hụt về kiến thức lịch sử. Thêm nữa, anh còn phạm một lỗi lôgích (một ngành thuộc triết học) là tự mâu thuẫn trong tư duy, tự mâu thuẫn với chính mình.

Sự thật lịch sử như thế nào? Sự thật lịch sử là: Võ Nguyên Giáp có tài văn, võ và đạo đức nổi tiếng, tỏa rạng trên toàn thế giới, chứ không chỉ trong bầu trời (bao gồm cả đất, trời, sông, biển) Việt Nam.

Triết học là môn khoa học trừu tượng. Có nhà khoa học nhận xét nghiên cứu triết học, toán học phải chăm chú, tập trung cao độ gần như làm thơ, làm được thơ hay không phải là dễ, vì nó đòi hỏi phải tư duy, suy luận, liên tưởng, chuyển tải nhiều thông tin trong ít câu chữ. Và, như tôi đã nói, văn thơ, triết học, sử học có quan hệ không tách rời nhau. Chắc chắn là vì vậy, chứ không phải là có lẽ như thế, nên anh Nguyễn Minh Bích cũng bàn về thời gian – một phạm trù triết học – trong thơ ca. Nhưng cũng rất tiếc, tác giả Nắng đầu mùa mắc lỗi, anh tỏ ra hiểu sai, viết không đúng về phạm trù triết học này. Bài văn xuôi viết dưới tiêu đề Đôi điều suy ngẫm về thời gian trong thơ ca có câu: “con người chúng ta cũng như các nhà thơ đều có ám ảnh dai dẳng đó là cuộc sống của mình là hữu hạn trong cái vô cùng thăm thẳm sâu của thời gian vô hạn”(8). Tác giả Nắng đầu mùa viết khá dài, kỹ về thời gian. Trong 5 bài mà anh gọi là văn xuôi in trong sách này thì bài về thời gian trong thơ ca anh viết công phu nhất, dài hơn cả (gồm 9 trang). Nhưng anh lại tiếp tục mắc lỗi về kiến thức triết học. Anh tỏ ra không hiểu phạm trù thời gian của triết học. Thời gian chỉ có một chiều “từ quá khứ đến tương lai”(9). Nó không có chiều sâu thăm thẳm như anh Nguyễn Minh Bích đã viết.

Phạm trù thời gian gắn liền với phạm trù không gian. Vì thế khi nói, viết về thời gian, người ta thường bàn luôn về không gian. Anh Nguyễn Minh Bích trong bài viết về thời gian, cũng đề cập sơ qua về phạm trù không gian. Anh viết: “không gian thì mênh mông không bến bờ”(10). Bàn luận như thế cũng tỏ ra có một cách hiểu không chính xác về không gian. Người ta nói “cánh đồng rộng mênh mông”, “đại dương mênh mông”. Hai chữ “mênh mông” mô tả một mặt, bề mặt của sự vật, hiện tượng. Phạm trù không gian không phải là sự khái quát bề mặt. Nó khác thời gian có một chiều. Nó có ba chiều là “chiều dài, chiều rộng và chiều cao”(11). Vì thế, tác giả Nắng đầu mùa viết không gian “mênh mông” là không chính xác. Tức là anh Nguyễn Minh Bích tỏ ra hiểu sai về thời gian và hiểu rất lơ mơ về không gian.

4. Đọc Nắng đầu mùa, độc giả không khó nhận ra đây là cuốn sách nhỏ, ít trang nhưng có đầy lỗi tiếng Việt. Có chỗ tác giả viết sai ngữ pháp làm cho nội dung, ý nghĩa anh muốn chuyển tải đến bạn đọc sai lạc hẳn đi. Xin đơn cử thí dụ: “Nguyễn Du… là con cụ Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775). Làm quan đến chức Tể tướng”(12). Tác giả đánh dấu chấm hết câu trước chữ “Làm” đã biến một câu phức hợp thành hai câu đơn là sai ngữ pháp. Trình độ tiếng Việt hạn chế như thế này đã dẫn đến hệ quả chuyển cho bạn đọc một thông tin sai, không đúng sự thật. Nếu theo chữ đen trên giấy trắng mà anh Nguyễn Minh Bích đã viết như thế thì người nước ngoài nếu chưa được đọc nhiều về Nguyễn Du và về gia thế của đại thi hào này sẽ hiểu và dịch hai câu tiếng Việt trên sang Anh ngữ với hai thông tin sau: 1) Nguyễn Du là con cụ Nguyễn Nghiễm; 2) Nguyễn Du làm quan đến chức Tể tướng. Sai! Bởi vì, cha Nguyễn Du làm quan đến chức Tể tướng, chứ không phải là Nguyễn Du làm quan đến chức này. Dấu chấm trước chữ “Làm” nói trên phải sửa thành dấu phảy, chữ “Làm” viết hoa vì thế phải sửa thành chữ “làm” viết thường thì mới đúng ngữ pháp, nhờ vậy, mới chuyển tải được đến người đọc thông tin chính xác: Nguyễn Du là con cụ Nguyễn Nghiễm, và cụ Nguyễn Nghiễm làm quan đến chức Tể tướng.

Một lỗi tiếng Việt khác nữa trong Nắng đầu mùa là tác giả nhiều lần viết lẫn lộn hai phụ âm l và n. Trong bài thơ Kỷ niệm xưa, anh Nguyễn Minh Bích viết: “Liêu xiêu mái nắng chiều rơi / Gặp em… ngày ấy – núm cười duyên quê”(13). Chữ “núm” ở đây là chữ viết sai. Đó là cục thịt như hạt ngô, quả táo nhô lên ở má em gái nào đó, em ấy mà cười lên thì có thể làm cho người khác phải tức cười theo, hoặc khiếp sợ, chứ không thể là “duyên quê” được. Chữ ấy phải sửa thành “lúm”. Giai nhân nào đó có cái lúm đồng tiền gần khóe miệng thì lúc cười càng thêm xinh, có duyên lắm. Em ấy mà sinh trưởng nơi làng quê thì làm cho quê hương thêm đẹp, đáng yêu hơn.

Khi bàn về đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều bất hủ, Nguyễn Minh Bích lại một lần nữa viết sai, đáng lẽ viết phụ âm l cho đúng thì anh lại viết phụ âm n: “Từ trẻ đến già, từ người bình dân đến người trí thức… Vui cũng tìm đến Kiều, buồn cũng tìm đến Kiều, Người ta nảy Kiều, bói Kiều, hát Kiều…”(14). Câu này tác giả Nắng đầu mùa vừa viết sai ngữ pháp, vừa sai chính tả, vừa sai phụ âm n. Lỗi ngữ pháp tôi đã nói qua rồi, không nói thêm tại đây nữa. Lỗi chính tả nói sau. Lỗi viết sai phụ âm đó là “nảy Kiều”. Phải sửa lại là “lảy Kiều” (tiếng địa phương) hoặc “lẩy Kiều” (tiếng phổ thông) thì mới đúng. Hai chữ “lẩy Kiều” nghĩa là lấy ra, tách ra, rút ra từ Truyện Kiều một hoặc nhiều câu phù hợp với cảnh ngộ, tâm trạng của ai đó. Chẳng hạn, những học sinh phổ thông giỏi, nhưng thi đại học chẳng may không đủ điểm vào trường đại học, thường lẩy câu “Chữ tài liền với chữ tai một vần” là câu thứ 3248 trong Truyện Kiều để tự an ủi mình. Thí dụ khác, một phụ nữ quá ghen tuông đã nói và hành động rất không phải với chồng, bị mọi người góp ý phê bình, chị ấy nhận ra mình có lỗi, thường lẩy hai câu thứ 2365 và 2366 trong Truyện Kiều để bào chữa cho mình, mong được sự thông cảm, thể tất của mọi người: “Rằng: Tôi chút dạ đàn bà / Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Còn “nảy Kiều” nghĩa là gì? Câu hỏi này ai muốn được giải đáp, phải hỏi anh Nguyễn Minh Bích.

Một lỗi nữa về tiếng Việt trong Nắng đầu mùa là tác giả của nó viết hoa, hay viết thường một cách rất tùy tiện. Bạn đọc mở trang 93 sách này thì thấy chữ “Vui” ở giữa trang, giữa câu đáng ra viết thường mới đúng, nhưng nó lại được viết hoa; ở cuối trang tác giả viết “đại thi hào” (viết thường chữ “đại”), rồi cách đấy ba dòng, anh Nguyễn Minh Bích lại viết “Đại thi hào” (viết hoa chữ “Đại”). Trang 8, lẽ ra viết “bầu trời” vì hai chữ này là danh từ chung, thế nhưng lại viết hoa chữ “Trời”, kỳ lạ quá! Các chữ “nhà văn, nhà báo” đều là danh từ chung và trong văn cảnh không cần phải tu từ thì viết thường cả 4 chữ ấy mới đúng. Nhưng tại trang 97, anh Nguyễn Minh Bích viết “nhà Báo, Nhà văn”. Một nhà giáo, một người đã viết văn, làm thơ viết hoa chữ “Báo” và chữ “Nhà” như trên là quái dị. Người làm sách trên còn viết sai lẫn lộn quá nhiều các phụ âm tr và ch, gi và d. Tại trang 84, “chưng cất” viết sai thành “trưng cất”; ở trang 89, “chau đôi mày” bị viết bừa là “trau đôi mày”; giữa trang 74, đáng lẽ phải viết đúng là “dành nhiều thời gian” thì lại viết ẩu là “giành nhiều thời gian”; ở đầu trang 75 lẽ ra phải viết cho chính xác là “giấu giếm” nhưng lại viết sai thành “dấu diếm”, v.v, v.v., có quá nhiều lỗi về tiếng Việt ngoài không ít lỗi về nội dung cần phải xem xét trong một cuốn sách ít trang.

Trong lúc các cơ quan báo chí cũng như các nhà trường làm công tác giáo dục – đào tạo hết sức chú trọng thực hiện chủ trương của Nhà nước góp phần làm cho tiếng Việt ngày một trong sáng hơn, thì anh Nguyễn Minh Bích lại viết sai nhiều, tùy tiện như đã nói ở trên, tức là anh góp phần làm cho tiếng Việt giảm đi sự trong sáng và giá trị thẩm mỹ của nó.

5. Cuốn Nắng đầu mùa có thể được coi là điển hình cho những ấn phẩm còn đến mức quá nhiều lỗi kỹ thuật chưa được sửa đã đem in chính thức và cho phát hành. Ở đây tạm gọi là lỗi kỹ thuật. Xét đến cùng, lỗi này cũng là lỗi văn chương vì nó bộc lộ nguyên hình ra khi tác giả của nó làm thơ, viết văn. Sau đây tôi chỉ dẫn ra một số, chứ không phải là tất cả, những dấu hiệu đó.

Tại giữa trang ruột cuối cùng của sách này có ghi người vẽ bìa và sửa bản in là Nguyễn Minh Bích. Chính tác giả làm việc ấy thì lẽ ra lỗi kỹ thuật phải sạch, hoặc chỉ còn rất ít khi cuốn sách đến tay bạn đọc. Nhưng không hiểu tại sao lại còn đầy lỗi kỹ thuật?

Anh Nguyễn Minh Bích ghi phụ chú cho tên cuốn sách ở bìa 1 là “Thơ – Văn xuôi”. Qua đấy, anh muốn thông báo cho bạn đọc là nội dung sách này gồm có thơ và văn xuôi. Nhưng tất cả các trang trong cuốn sách không có ghi phụ chú là “Văn xuôi” nữa, chỉ ghi có một chữ “Thơ” thôi.

Dòng cuối cùng tại trang cuối cùng cuốn sách đang được xem xét ghi “In xong nộp lưu chiểu quý I – 2017”. Thế nhưng cuối bìa 1 lại ghi “Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8-2016”. Sao có chuyện kỳ quặc, lạ đời này: sách được xuất bản trước khi nó được in xong?

Tập thơ đầu của anh Nguyễn Minh Bích mang tên Thao thức đồng chiều gồm 69 bài. Nhà thơ Trần Minh viết Lời giới thiệu cho tập thơ này. Anh Trần Minh đếm nhầm hoặc là anh làm tròn số, anh nói thi phẩm này gồm 70 bài. Tác giả Nguyễn Minh Bích là người sửa bản in tập thơ của mình, anh bỏ qua, không sửa con số 70 thành 69 cho chính xác. Tạm coi là được vì sai sót ít không đáng kể gì. Nhưng đến khi anh Nguyễn Minh Bích in lại Lời giới thiệu trên vào Nắng đầu mùa thì con số 69 bài thơ tức là ngót 70 bài thơ nói trên được anh sửa tăng lên thành “trên bảy mươi bài thơ”(15). Anh viết tăng lên khoảng chục bài thơ để làm gì? Đây là một dụng ý, chứ không thể nói là sơ suất hoặc vô tình.

Về hai chữ i ngắn và y dài, đã từ lâu cho đến nay, nhiều báo ngày, báo tuần, tạp chí, nhà xuất bản còn có cách viết khác nhau, chưa có sự thống nhất. Nhưng mỗi cơ quan báo chí đã có những quy ước viết riêng của mình về hai chữ nói trên.

Trong Nắng đầu mùa, tác giả của nó viết i ngắn và y dài rất tùy tiện không theo một nguyên tắc nào cả. Thí dụ, tại trang 38, dòng trên cùng anh viết “kỷ niệm” (y dài), đến dòng thứ 5, anh viết “kỉ niệm” (i ngắn), sang trang 39, tác giả lại viết “kỷ niệm” (y dài).

Tên tác phẩm cũng được Nguyễn Minh Bích viết quá ư tùy tiện chẳng theo một quy ước nào hết. Tại trang 3 và 5, anh viết tên tác phẩm của anh bằng chữ in đậm nghiêng, viết hoa tất cả các con chữ đầu của các chữ và đặt tất cả các chữ trong ngoặc kép. Nhưng tên tác phẩm vĩ đại của Nguyễn Du được anh viết bằng chữ đứng thường không để trong ngoặc kép (trang 96,…). Cùng một tên tác phẩm của Ngô Nguyên Ngần, anh Nguyễn Minh Bích viết bằng chữ đứng thường trong ngoặc kép tại trang 67, đến trang 71, anh viết theo cách khác: chữ đứng thường không có mở, đóng ngoặc kép.

V.v… Lỗi kỹ thuật trong Nắng đầu mùa quá nhiều khiến cho độc giả cảm thấy cuốn sách này còn ở dạng bản nháp, hoặc in thử, chưa được đọc sửa lỗi đánh máy và in thiếu chuẩn xác.

Từ những chi tiết nói trên, xin độc giả kiểm tra thêm và rút ra kết luận về giá trị của tác phẩm Nắng đầu mùa cùng các phẩm chất của người làm ra nó, tránh lầm tưởng nhiều lỗi, sai đến mức nghiêm trọng trong tác phẩm này là những áng thơ văn có giá trị đáng kể.

TS. Lê Huy Thực
(Câu lạc bộ Văn hóa – Nghệ thuật Đất Việt Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 467

__________

CHÚ THÍCH
(1) Nguyễn Minh Bích: Nắng đầu mùa, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016.
(2) Đinh Gia Khánh chủ biên: Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.67.
(3) Từ điển văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1993, tr.438., tr.67.
(4) Như 3, tr.530-531.
(5) Như 3, tr.403.
(6) Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1969, tr.251.
(7) Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, tr.50.
(8) Như 1, tr.72.
(9) Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia: Giáo trình triết học Mác – Lê-nin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.193.
(10) Như 1, tr.72.
(11) Như 9, tr.193.
(12) Như 1, tr.95.
(13) Như 1, tr.38.
(14) Như 1, tr.93.
(15) Như 1, tr.126.

 

Ý Kiến bạn đọc