Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhiêu khê họ của người Cham

 

1. Trong nỗi hào hứng bất ngờ, anh trí thức nông dân Qua Đình Lang trong buổi tối mưa khá nặng hạt ở giấc tàn của buổi tiệc nhà quê đất Tuy Phong cho rằng, dứt khoát cái “họ” của người Cham đi theo đường trôn ốc uốn lượn, gẫy gập khó lường, nhưng không thể không lí giải được. Anh nói:

- Chàm có họ đâu nào! Nữ là “Mư”, nam thì cứ “Ja” mà kêu. Kêu vậy, sao mà làm khai sanh cơ chứ. Thế là các quan Nhà Nguyễn bày ra cái họ cho Chàm. Cùng “họ” với người Việt thì không được. Vậy đào đâu ra đây? À, đây rồi. Cứ lấy họ Tàu mà định. Nhưng không thể sao y bản chánh, thế Chàm là đàn anh ta sao? Phải biến nó đi. Vặn vẹo sao cũng được, miễn là phải khác.

Ngưng lấy hơi, sau khi hớp ngụm bia 333, anh tiếp:

- “Đào” thành “Đạo”, “Trương” thành “Trượng”, “Lã” thành “La”. Mi cứ thế… cứ thế… cho ta. “Qua” của tui, “Phú” của chú Sara hay “Lư” của Lư Thái Thanh đều chịu trận như thế cả.

Nữ thi sĩ Kiều Maily lần đầu tiên ghé palei Krong, nghe mà cứ há hốc mồm, như thể đây là lần đầu trong đời mình biết nỗi lạ đời như thế.

- Thế họ “Kiều” của em thì sao? – Nữ thi sĩ hỏi.

- Nó từ “Cao”. “Cao” đọc theo âm Hán là “Kiêu”. “Kiêu” thêm dấu huyền thành “Kiều”. Cậu thư kí cứ ghi khai sanh nó họ “Kiều” cho ta.

Maily ngẩng ra mà cười. Vợ chồng nghệ sĩ [cũng nông dân] Qua Thị Hồng Loan – Chế Quốc Minh được một bữa cười no. Tôi thấy đây là một phát hiện cực độc, rất đáng cho các nhà nghiên cứu dân tộc học tham khảo. Ở chương “Nhà đại cố vấn họ Cao” trong Chân dung Cát do NXB Hội Nhà văn in năm 2006, tôi viết:

“Anh tên khai sinh Kiều Xuân Hoang, sau thương cô gái Việt ở Phan Thiết lấy dao lam cạo thẻ căn cước thành Kiêu. Nhưng Kiêu (ai lại họ Kiêu) thấy phát âm chậm và lạ tai nên bạn bè tiện thể gọi luôn Cao Xuân Hoang cho trót”.

Trước kia, tôi chắc mẩm các biến thái của “họ” Cham xuất phát từ mặc cảm Chàm, mãi hôm nay mới biết lẽ ngược đời – nó khởi đầu từ chính mặc cảm Việt.

- Siêu! – Tôi vỗ vai Qua Đình Lang cái rõ mạnh.

2. Nhưng hà cớ Cham lại mang họ Nguyễn, họ Bạch?

Họ Nguyễn, Cham làm quan dưới Triều Nguyễn được nhà này ban phước lành tặng cho cái họ, thì hẳn rồi. Chớ Cham mang họ Bạch thì sao? Thi sĩ nông dân Bạch Văn Thanh quê Phan Rang vừa chỉ cho thấy cái bước chân chữ bát bí ẩn của lịch sử.

Lê Văn Duyệt, mà bà con Cham tặng cái biệt hiệu Ông Kadơ (Ông Nân) vừa mất thì triều đình Huế phái ngay người trong đó có quan Bố chánh Bạch Văn Nguyên vào Gia Định kiếm cớ “dẹp loạn”. Kiếm thì thấy. Mười chín tay chân dưới trướng Ông Kadơ bị chém đầu, riêng con nuôi là Lê Văn Khôi bị tống vào ngục chờ ngày chuyển ra Huế báo công. Họ Lê sâu rễ bền gốc tại đất này đâu dễ chịu thua. Cần phải lật ngược tình thế, mà ngọn cờ phải là Lê Văn Khôi – chứ không ai khác.Vừa thoát khỏi lồng, Lê tập hợp binh sĩ, kéo tới trị tội họ Bạch tanh bành.

Lại bỏ sót ba anh em.

Về đâu? Vào Nam chết chắc, ra Huế thì chắc chết! Dẫu sao phải chạy cái đã. Ba anh em chạy chạy và chạy. Đến đất nắng Phan Rang thì thấm mệt, tìm đất trống náu thân. Ông cả xuống xóm nhỏ dưới Phan Rang, anh giữa chui vào palei Cham Chakleng ẩn tích, lấy vợ sanh con đẻ cháu. Thằng em út tính xa hơn, ẩn sâu vào làng Cham Bà-ni Văn Lâm mai danh, chối luôn “sắc tộc” Việt dù vẫn giữ họ ông cha.

Họ Bạch của Cham ra đời theo kiểu cắc cớ ấy, trong đó sinh linh đời thứ năm là Bạch Thanh Chạy cố Trường Ban Ban Biên soạn sách chữ Chăm Ninh Thuận khai sinh dân tộc Cham đích thị là dòng máu họ Bạch xa xôi ấy rơi lại.

Rồi họ Thuận? Cham với Việt có họ Thuận bao giờ đâu!

Giặc Cờ Đen dựng năm 1865, chính thức tan rã năm 1886, hai năm sau Hòa ước Patenôtre. Chuyện kể, một sĩ quan Cờ Đen có nợ máu [không hiểu với bên nào] bị truy đuổi rất gắt. Ông có ba trai, một gái. Con gái yểu mệnh coi như yên mệnh, phận ông chấp nhận chịu chết để cứu con. Trốn đâu? Hai đứa đầu tình nguyện lên rừng núi Thái Nguyên, đứa út xin cha vào Trung lánh nạn. Làm sao có thể nhận ra nhau, khi hòa bình lập lại, và lịch sử bỏ sót?

- Bỏ họ Nguyễn đi – Ông nói.

Trong khi ba đứa con đang ngơ ngác chưa hiểu thâm ý ông bố, ông tiếp:

- Lấy họ Thuận cho ta, nó không giống ai cả, con cháu các con sẽ nhận nhau qua cái họ lạ đời này.

So-584--Mot-chieu-o-vung-Cham-Ninh-Phuoc---Mong-Bich---Anh-1
Một chiều ở vùng Chăm Ninh Phước – lụa – Mộng Bích.

Hai anh lên Thái Nguyên lấy vợ sinh con đẻ cháu, thế hệ tiếp thế hệ, tìm thằng em họ Thuận. Non thế kỉ rưỡi bặt vô âm tín thì bỗng nhiên, mùa hè 2018, con bé lớp 5 ở Thái Nguyên nhác thấy tên Thuận Thị Trào xuất hiện trên VTV1 nói chuyện về làng nghề Thổ cẩm Cham, vội kêu lên:

- Mẹ ơi, có người họ Thuận kìa…

Thế là cả nhà xúm vào cái màn hình nhỏ. Có manh mối, hai sinh linh thuộc dòng họ Thuận từ Thái Nguyên lặn lội vào miền Trung tìm bà con, gặp – mừng vui khôn xiết.

Chàng út xin cha vào Trung, tưởng dừng lại ở Thanh Nghệ hay cùng lắm tới Đất Quảng ai dè hắn chơi một lèo tận Ninh Thuận, vào làng Cham Bal Riya lấy vợ Cham, nói tiếng Cham, chối gốc gác Việt mai danh ẩn tích, đến đời thứ năm rưỡi mới tòi ra. Chàng trai to con, cổ dài nên Cham gọi đại là Ông Atah Takôi.

Họ Thuận Cham khởi sinh từ cái tréo ngoe đó của lịch sử đất Việt.

3. “Họ” Cham là đối tượng ngành dân tộc học rất đáng để tâm nghiên cứu, thế mà đến hôm nay vẫn chưa có cái luận án sáng giá nào về đề tài này. Bài viết “Tìm hiểu về họ của người Cham” của Chế Vỹ Tân (Tagalau, 2004, tr. 109-110), chỉ như một gợi ý.

Hỏi các cụ có học về “họ” Cham, các vị cứ mơ mơ hồ hồ. Các vua chúa Champa, hết Indra đến Jaya, hết Çri đến Pudra… thêm mấy hậu tố varman nữa. Chúng cứ xa vời vợi với những Lâm, Phú, Đàng, Hứa, vân vân ở hiện tại. Chẳng biết đâu là đâu.

Thử xem họ xưa của các vua Champa có gì. INDRA như Indravarman, còn INRA là biến thái của INDRA như Inra Patra, nhân vật chính trong Akayet Inra Patra. JAYA như Jaya Sinhavarma, ÇRI thì Çri Satiavarman, MAHA có Maha Vijaya, rồi RUDRA là Rudravarman, PUDRA: Pudravarman. Tất cả đều vay mượn từ tiếng Sanscrit, có mặt trên bi kí, hoàn toàn xa lạ với dân Cham Pangdurangga.

Ngày nay, các họ này vẫn còn được một số người xài lại, như một cách hoài niệm thời huy hoàng. Jaya Mrang, Jaya Panrang; Inrasara; Pudradang. Người Tàu chép sử có liên quan đến Champa thì tất cả thành CHẾ / (có lẽ do Cri): Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga. Hôm nay ta có: Chế Quốc Minh, Chế Lan Viên, Chế Linh, Chế Lưu Phương, Chế Mỹ Lan…

Còn Ông, tiếng Chăm là Ong, Ung hay Aung có từ thời Nhà Lý khi tù binh Cham bị Nhà Lý bắt ra Bắc. Phần ở lại lấy vợ Việt lai giống làm thành họ “Ông”. Gia phả dòng họ Ông thuộc Cẩm Lệ, thuộc Đà Nẵng mà thủy tổ là Ông Lý Trai thời Nhà Lý đến nay là 41 đời. Ông Ích Khiêm, Ông Ích Đường là các nhân vật trong lịch sử cận đại Việt Nam.

MA có lẽ phiên âm từ MAHA, Chăm ngày nay không còn dùng nữa, trong khi TRÀ (có lẽ do từ Jaya mà ra) như Trà Toàn, Trà Hòa Bố Đế, lại rất phổ biến. Ở Quảng Nam có tộc Trà vẫn còn giữ sinh hoạt dòng tộc. Họ luôn nhận mình là Cham: Trà Công Tân, Trà Toại. Còn ở Ninh Thuận, người viết Cham vẫn thích dùng Trà làm “họ” bút danh: Trà Vigia, Trà Ma Hani.

Theo Nguyễn Văn Luận trong cuốn Người Chàm Hồi giáo Miền Tây Nam phần Việt Nam (NXB Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn 1974, tr. 116), bốn họ Ông, Ma, Trà, Chế chỉ dành cho vua, dân chúng thì không được. Vậy mà trong thực tế vẫn có người dùng “họ” này làm khai sinh hay bút hiệu.

Vua chúa là vậy, còn quần chúng Cham thì cứ đặt JA (nam) hay MƯ (nữ) trước cái tên, hệt VĂN hay THỊ bên Việt, là xong. Tất cả, không phân biệt, cho đến khi thành người lớn, xây dựng gia đình hay có vai vế trong xã hội, họ mới được gọi theo vai vế hay chức danh. Có lẽ ngày xưa, các thứ dân Cham đều mang chung hai “họ” ấy. Nói “có lẽ” thôi, bởi đến nay vẫn chưa có cứ liệu nào làm bằng chứng. Dạo này, Cham có xu hướng không dùng hai “họ” kia nữa, nghĩ rằng thế thì tầm thường quá, dẫu đã có không ít vị lấy nó đặt bút danh. Jamưta Harei (nhà nghiên cứu Thiên Sanh Cảnh), Jalau (thi sĩ Trượng Văn Lầu). Vẫn đẹp và sang trọng đáo để!

Chuyện như đùa. Thời Ngô Đình Diệm trong ý đồ quản lí công dân chặt chẽ hơn, trên xã phái tay thư kí xuống các palei Cham điều tra dân số. Bước vào nhà tôi, anh gặp ngay chị Hám là chị cả trong gia đình. Anh hỏi:

- Chị họ gì?

- Tui họ Gaup Gađak – Chị đáp không cần suy nghĩ.

- Gaup Gađak là họ gì?

- Thì họ Kut Gaup Gađak dòng họ mẹ tui đó.

Anh này mở tròn mắt, gõ gõ đuôi bút bi mấy cái lên trán mà chả bật ra thứ gì.

- Chị còn có họ nào khác không?

- Tui họ Bà Boy, chị Njau, cô Liên…

- À, biết rồi… biết rồi. Thế họ của chị trong giấy khai sanh là thế nào?

- Thế nào ai mà biết, chú hỏi gì hỏi nhiều thế…

Vậy là uổng công! Chị Hám có biết chữ Quốc ngữ đâu mà hỏi. Giá có biết thì chị là Thị Hám, vậy thôi. Tất tần tật nữ Cham đều “thị” cả. Ra thế, nên Ngô Tổng thống mới mở hàng loạt lớp Bình dân học vụ cho các bà mẹ Cham ở quê mỗi tối xách đèn cọc đi học. Anh thư kí xã người đàng quê không hiểu chị Hám, tôi thì tôi quá hiểu. Ý chị kêu “họ” theo dòng tộc. Người Cham có dòng họ được đặt theo tên vua: Họ Pô Rômê, họ Pô Gihlau, hoặc đặt theo tên loài cây trụ trong Kut chính: họ Gađak, chính là “họ” của chị Hám ở làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hay họ Amil Apui – Cây me lửa ở Hữu Đức, cũng thế. Hỏi quá, thì chị kể tên người bà con trong “dòng họ” mình, là phải rồi.

Đó là nói về cộng đồng Cham ở Pangdurangga đất Tam Phan, Cham ở miền Tây theo tôn giáo Islam có khác. Người Islam không hề biết đến họ mà chỉ có việc đặt tên mà thôi. Bà con căn cứ vào ngày, giờ sinh mà có thể chọn một trong hai mươi lăm vị thánh Islam, bắt đầu từ Adam cho đến cuối cùng là Muhammad.

Trên nền đó, người ta có thể đặt tên cho con trai và con gái. Ví dụ, sinh ngày Chủ nhật, con trai được đặt tên là: Ibrahim, Isa, con gái là: Rabyyah, Halimah, vân vân. Việc đặt tên này được thực hiện bảy ngày sau khi sinh. Nếu vậy rất dễ xảy ra sự trùng lặp. Người Islam giải quyết sự vụ này bằng cách thêm tên cha ngay tiếp đó; nam là Bin, nữ là Binti. Nhưng tất tần tật chỉ để gọi ở ngoài đời chứ không hề có mặt trong giấy khai sinh hay căn cước. Ví dụ: Ibrahim Bin Musa, Saliha Binti Issamael.

Chỉ sau này, bằng Đạo dụ số 52, ngày 29-8-1956, Ngô Đình Diệm buộc mọi công dân Việt Nam có tên họ mang âm “dân tộc thiểu số” phải thay đổi cho hợp với âm tiếng Việt. Ví dụ: Yaba thành ra Trương Sơn Ba, Dohamide thành Đỗ Hải Minh. Và việc vận dụng Đạo dụ này của các viên chức càng thêm rối rắm, mỗi nơi mỗi khác. Tại Châu Đốc, họ thêm Châu vào, còn ở Tây Ninh thì thêm Cham! Ví dụ Châu Sanh, Châu Du, hay Chăm Sô, Chăm Lê.

Phong ba bão táp chẳng khác chi tên đường phố Việt Nam hiện thời.

Không thể cứ mãi thế được. Công dân một nước độc lập, tên họ phải lấy làm đầu. Việc trước mắt là đưa tên họ sắc tộc vào nề nếp. Cũng trong tác phẩm trên, Nguyễn Văn Luận cho rằng “Vào năm Minh Mạng thứ 14 (1834), triều đình Huế bắt người Chàm phải theo phong tục Việt Nam. Họ phải chọn lấy một trong những tên họ đọc theo ngôn ngữ Việt Nam, gồm có: Bá, Đàng, Hứa, Lưu, Lựu, Hán, Lộ, Mã, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên, Ức, Vạn, Ưng, Lâm, Hải, Báo, Cây, Dương, Quảng, Qua, Trượng, Tưởng, Lư.”

Đây là các họ phổ biến nhất trong Cham hơn thế kỉ qua. Ừa, tạm được. Dẫu sao, cũng nên nhớ rằng đó chỉ là “họ” mà Minh Mạng đặt cho Cham, chứ không phải “truyền thống” chi chi cả. Quả là nhiêu khê với mênh mông chuyện. Đấy là hãy còn chưa bàn đến vụ Cham theo chế độ gia đình mẫu hệ, nhưng con cái làm khai sinh khai họ cha, càng gia nhiều món cho thêm nỗi rối rắm.

Rối rắm với nhiêu khê, còn hơn là không. Vậy, bạn chọn “họ” nào đặt tên cho đứa con bạn, tùy nghi nhé.

Inrasara
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 584

Ý Kiến bạn đọc