Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và những giá trị vượt thời gian

Hướng Tới Kỷ Niệm 130 Năm Sinh Danh Nhân Văn Hóa Hồ Chí Minh (1890-2020)

 

1. Trong năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định công nhận Bảo vật Quốc gia đợt 1 cho 30 hiện vật và nhóm hiện vật. Nhiều bảo vật tiêu biểu cho các thời kỳ phát triển của đất nước đã được ghi nhận: Trống đồng Ngọc Lũ và tượng đồng hai người cõng nhau thổi khèn thuộc văn hóa Đông Sơn, ấn đồng Môn Hạ Sảnh ấn thuộc thời Trần, bình gốm hoa lam vẽ thiên nga thuộc thời Lê Sơ, trống đồng Cảnh Thịnh thời Tây Sơn… Đặc biệt trong số này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có 5 văn bản, bản thảo gốc được công nhận là bảo vật quốc gia: Đường cách mệnh, Nhật ký trong tù, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Di chúc.

Nhật ký trong tù (Ngục trung nhật ký) là thi phẩm bằng chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng cộng gồm 133 bài thơ, được viết trong khoảng thời gian 2 năm (1942-1943), khi tác giả bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam qua 13 nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Với vị thế bảo vật quốc gia, Nhật ký trong tù không chỉ có ý nghĩa văn chương mà đã trở thành giá trị tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, đặc biệt từ khi tác phẩm được dịch và công bố, chính thức nhập cuộc đời sống xã hội từ năm 1960. Tác phẩm không chỉ phổ biến sâu rộng ở trong nước mà đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới: Anh, Ả Rập, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hàn Quốc, Hunggari, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Nhật Bản, Pháp, Rumani, Séc, Tây Ban Nha, Trung…

Đặt trong lịch sử dịch thuật, quảng bá và tiếp nhận tác phẩm Nhật ký trong tù trên thế giới, chúng tôi đặc biệt đánh giá cao bản dịch sang tiếng Hàn của Giáo sư Ahn Kyong Hwan. Ở đây cần ghi nhận tình cảm của ông với đất nước Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự kiên trì học tập nâng cao trình độ, thâm nhập vào đời sống xã hội để am hiểu tiếng Việt và chuyển ngữ được tác phẩm Nhật ký trong tù sang tiếng Hàn. Điều quan trọng nhất là bản thân tác phẩm đã được bạn đọc rộng rãi ở Hàn Quốc đón đọc, chỉ qua 16 năm xuất bản (2003-2019), tính đến nay đã tái bản đến 8 lần. Không cần nói thêm về giá trị, vị trí và ý nghĩa của bản dịch Nhật ký trong tù trong việc giúp bạn đọc Hàn Quốc hiểu hơn về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như phát huy tác dụng giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường và phát triển mối quan hệ văn hóa Hàn – Việt.

2. Đề cao nhân cách con người
“Chẳng dùng quyền thế chỉ dùng ân”

Trong thi phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh có cả một thế giới nhân vật với nhiều vai trò, vị trí và cảnh đời khác nhau, xuất hiện ở nhiều khoảng không gian và thời gian khác biệt nhau. Nơi đây có bạn hữu cùng cảnh ngộ trong tù, có cai ngục và nhà chức trách bề trên, có vợ người bạn tù đến thăm chồng, có phu làm đường và người nông dân hớn hở mừng được mùa, có hình ảnh các đồng chí đang hoạt động trong nước và nỗi nhớ bạn quốc tế Nêru đang đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Như vậy thế giới nhân vật trong Nhật ký trong tù đã mở rộng từ 4 bức tường tù ngục tới quê hương và năm châu rộng lớn, từ con người gặp hàng ngày đến những suy tư trong tâm tưởng mà không một nhà giam nào có thể trói buộc được, tạo nên “những cuộc vượt ngục trong tù” (Vũ Quần Phương) đầy tính lãng mạn cách mạng. Trong giới hạn cụ thể chỉ xin tìm hiểu cảm nhận của Hồ Chí Minh ở khía cạnh tình người, tính nhân văn, nhân đạo ngay với cả hàng ngũ quan chức đầy quyền thế của nhà tù Tưởng Giới Thạch một thời.

Thực tế đã có nhiều trang viết phân tích sâu sắc Nhật ký trong tù về ý nghĩa tố cáo chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch với các nhân vật phản diện như lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy, lính ngục tịch thu thuốc, ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền phạm nhân và các tệ nạn nộp tiền khi vào nhà lao, tiền mua chỗ nằm, mua chậu nước sôi và chịu tiền đèn với giá đắt. Tuy nhiên giữa nơi tù ngục vẫn có người tử tế, cần mẫn với công việc:

Biện sự nhận chân Lưu sở trưởng,
Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình;
Văn tiền lạp mễ đô công bố,
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.
(Long An Lưu sở trưởng)

(Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng,
Ai ai cũng bảo bác công bình;
Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
Sạch sẽ lao tù rất vệ sinh)
(Sở trưởng Long An họ Lưu – Nam Trân dịch)

Lại còn người như trưởng ban họ Mạc biết “thương người như thể thương thân”, vừa sẵn sàng bỏ tiền mua cơm giúp người tù vừa nhân từ, cảm thông với nỗi đau khổ của họ:

Khảng khái Tân Dương, Mục ban trưởng,
Giải nang mãi phạn cấp tù nhân;
Vãn gian giải phược cấp tha thụy,
Bất dụng uy quyền, chỉ dụng ân.
(Mạc ban trưởng)

(Trưởng ban họ Mạc người hào hiệp,
Dốc túi mua cơm giúp phạm nhân;
Đêm đến cởi thừng cho họ ngủ,
Chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân)
(Trưởng ban họ Mạc – Nam Trân dịch)

Hồ Chí Minh cảm nhận rất rõ đám cai quyền hỗn quân hỗn quan kia vẫn có những con người trung hậu, những ánh thiên lương làm ấm lòng người đang thất cơ lỡ vận… Hiển nhiên việc cảm nhận tinh tế, trân trọng từng hành vi tốt đẹp, dù là nhỏ nhặt nhất của bản tính người giữa nơi tù ngục cũng chứng tỏ hồn thơ nhân hậu, đầy ân nghĩa của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Ngay với kẻ thù, suốt đời Người vẫn giữ trọn cách nhìn nhân văn cao cả ấy trong cách phân hóa những kẻ lầm đường lạc lối, trong cách đối xử với tù hàng binh địch, trong nỗi niềm trắc ẩn, vị tha: Bác không bằng lòng trận đánh chết nhiều người là “đánh đẹp” – Con xóa chữ “đẹp” đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con (Việt Phương)…

Xuan2020--Anh-minh-hoa---Nhat-ky-trong-tu-cua-Ho-Chi-Minh-va-nhung-gia-tri-vuot-thoi-gian---Anh-1

Vào giai đoạn cuối thời gian bị giam giữ, ngoài các vị coi ngục quen biết, Hồ Chí Minh còn được tiếp xúc với bộ phận quan chức cấp cao. Có thể nói đây là những người có học thức, có quyền thế và có khả năng tác động tới việc giam giữ Người. Cũng đã có ý kiến cho rằng Người làm thơ tán dương các quan chức cốt để họ đọc được và sẽ rộng lòng hơn. Tuy nhiên, căn cứ theo nội dung và trình tự các bài thơ thì thấy đây là sự cảm nhận chân thực của Người khi được đối xử tử tế hơn:

Ngật câu phạn thái, thụy câu chiên,
Hựu cấp linh tiền mãi báo, yên;
Chủ nhiệm Lương công ưu đãi ngã,
Ngã tâm cảm khích bất thăng nghiên (ngôn).
(Mông ưu đãi)

(Ăn đủ cơm rau, ngủ đủ chăn,
Lại còn tiền lẻ mua báo diêm.
Ông chủ nhiệm Lương ưu đãi đó,
Lòng ta xúc động nói không nên)
(Được ưu đãi – Phan Văn Các dịch)

Một khi khác, cũng có thể do xu thế chung mà các nhà đương cục đã hiểu ra vấn đề, chí ít hai bên cũng có phần đồng cảm:

Ngũ khoa trưởng dữ Hoàng khoa viên,
Lưỡng nhị kiến ngã thái khả liên;
Ân cần ủy vấn hòa bang trợ,
Giá tượng đông hàn ngộ noãn thiên.
(Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên)

(Họ Ngũ trưởng khoa với họ Hoàng,
Thấy ta cùng cực động lòng thương;
Ân cần thăm hỏi và cứu giúp,
Như nắng bừng lên giữa giá sương)
(Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng)

Đó cũng là cảm xúc vui mừng sau những ngày chịu đựng gian khổ, thậm chí bị tra xét, ngược đãi và đến lúc này mới được nhìn nhận đúng mức hơn. Sự thay đổi này mở ra cả một dự cảm tốt lành trong quan hệ giữa người với người và một niềm hy vọng an bình:

Nhất niên chỉ kiến binh hòa cảnh,
Kim nhật khan kiến nho nhã nhân;
Nhã nhân sử ngã tâm hưng phấn,
Ngã phát hắc phản lưỡng tam phân.
(Trần khoa viên lai thám)

(Lính tráng tuần canh nhìn nhẵn mặt,
Hôm nay mới được gặp văn nhân;
Người trông nho nhã, ai không thích,
Mái tóc ta xanh lại mấy phần)
(Khoa viên họ Trần tới thăm – Nam Trân dịch)

Một người cuối cùng có vai trò quan trọng khi Hồ Chí Minh còn bị giam giữ chính là chủ nhiệm họ Hầu. Chắc chắn trong tình hình Mặt trận Đồng minh thế giới đang cần tập hợp lực lượng và các nhà đương cục cũng cần mở rộng ảnh hưởng nên khả năng thả Hồ Chí Minh ngày càng rõ nét hơn. Có thể nói chính Người cũng tán đồng đường lối chung của Đồng minh lúc bấy giờ nhờ thông tin của chủ nhiệm họ Hầu:

Khoảnh thừa chủ nhiệm tống thư lai,
Độc bãi tinh thần giác đốn khai;
Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ,
Thiên biên oanh động nhất thanh lôi.
(Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư)

(Sách ngài chủ nhiệm mới đưa sang,
Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang;
Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ,
Chân trời một tiếng sấm rền vang)
(Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách – Đỗ Văn Hỷ dịch)

Chủ nhiệm họ Hầu đây chính là chủ nhiệm Bộ Chính trị đệ tứ chiến khu Hầu Chí Minh, người đã trực tiếp thả Hồ Chí Minh. Sau này ông ta có kể lại: “Khi ấy ông Hồ và tôi cùng các nhân viên công tác trong Bộ Chính trị cùng ăn cùng ở với nhau, không phân giới hạn. Ấn tượng của tôi về ông Hồ là “lão thành thận trọng, trầm mặc ít lời” (Hoàng Tranh)…

Như vậy, ngay trong hoàn cảnh lao tù, Hồ Chí Minh vẫn tỏ ra biết mình biết người, biết tỏ lòng tri ân theo một cách riêng ngay cả với những người quyền thế không cùng chiến tuyến nhưng có tấm lòng nhân hậu, vị tha, bao dung, tử tế. Bất dụng uy quyền, chỉ dụng ân (Chẳng dùng quyền thế chỉ dùng ân) – đó là phẩm chất con người và cũng chính là bài học nhân văn chung cho mọi kiếp chúng sinh…

3. Sức mạnh bản lĩnh nghệ sĩ
“Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”

Nhật ký trong tù trước hết là tiếng nói của một người dù trong hoàn cảnh lao tù vẫn giữ vững ý chí chiến đấu và thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất: Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao… Với niềm tin tất thắng, Người đã thực hiện “những cuộc vượt ngục” bằng sự kiên định và tâm thế ung dung, tự tại, một lòng hướng về tương lai tươi sáng. Vượt qua mọi gian nguy, Người toàn tâm toàn ý hướng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và từ tầm nhìn dân tộc vươn đến cuộc đấu tranh vì quyền sống và hạnh phúc của nhân dân lao động toàn thế giới, một thứ “cảm thức nhân loại”. Với tầm cao trí tuệ và nhận thức, Người quan tâm tới nhiều vấn đề trọng đại đang đặt ra trước thời đại và lịch sử khu vực châu Á cũng như toàn thế giới, từ việc chống các đế chế phát-xít đến nhiệm vụ giải phóng khỏi ách thống trị thuộc địa, từ phân tích vai trò các nước lớn đến khẳng định vị trí các nước nhỏ. Nhận mình đứng về phe Đồng minh, Người nhấn mạnh lẽ phải của con đường giải phóng dân tộc và bày tỏ ước vọng về một ngày chiến thắng: Canh bốn canh năm vừa chợp mắt – Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh (Ngủ không được)…

Không chỉ có tầm nhìn xa trông rộng, Người thông cảm sâu sắc với nỗi bất hạnh của người dân Trung Quốc, với những cảnh ngộ thương tâm và viết nên những bài thơ sâu nặng tình người. Đây là cảnh chiều tối với bóng người đơn lẻ, cô quạnh và cuộc sống bình dị:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
(Mộ)

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng)
(Chiều tối – Nam Trân dịch)

Đây là nỗi ưu tư, niềm cảm thông của chủ thể tác giả với người bạn tù thổi sáo và xa hơn là những tưởng tượng về người vợ của ai kia đang đau đáu phương trời xa:

Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.
(Nạn hữu xuy địch)

(Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau)
(Người bạn tù thổi sáo – Nam Trân dịch)

Sống trong cảnh tù ngục nhưng ngay cả khi bị giải đi giữa lúc “đêm chửa tan”, “trận gió hàn” mà Người vẫn vui với cảnh đẹp đất trời, tưởng như có thể làm thay đổi được cả hoàn cảnh và không gian, vũ trụ:

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất không;
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!
(Tảo giải, II)

(Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng)
(Giải đi sớm, II – Nam Trân dịch)

Nhà nghệ sĩ thi nhân Hồ Chí Minh vẫn có cách hóa giải hoàn cảnh, biết phát hiện và hòa nhập với vẻ đẹp của thế giới tự nhiên ngay cả khi bị giam giữa 4 bức tường:

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Vọng nguyệt)

(Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ)
(Ngắm trăng – Nam Trân dịch)

Điều đặc biệt là người tù Hồ Chí Minh trong cảnh lao tù vẫn luôn mở rộng tầm nhìn, hiểu rõ bước đi của dân tộc và thế giới trong cuộc tranh đấu vì độc lập, tự do. Qua các nguồn sách báo, Người biết chuyện chiến sĩ của nền độc lập Ấn Độ Nê-ru cũng bị bắt giam nên tỏ sự đồng cảm, trân trọng:

Ngã phấn đấu thì quân hoạt động,
Quân nhập ngục thì ngã trú lung;
Vạn lý dao dao vị kiến diện,
Thần giao tự tại bất ngôn trung.
(Ký Ni-lỗ)

(Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau)
(Gửi Nê-ru, I – Hoàng Trung Thông dịch)

Thời gian lùi xa thì người đọc càng thấu hiểu hơn bản lĩnh, nhân cách và phẩm giá con người Hồ Chí Minh trong tập Nhật ký trong tù. Có thể thấy ở đây sự gắn kết sâu sắc giữa hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, con người thật giàu tình người và một nhà thơ đích thực. Trước bao tai ương của cuộc sống tù ngục, Người biết cất lên tiếng cười trào lộng, cười châm biếm cái xấu, cười để động viên chính mình. Một chuyện đánh bạc, một cảnh bị trói, một lần rụng răng, một lần suýt ngã đều có thể trở thành tiếng cười. Bao nhiêu nguy hiểm cũng không thể ngăn cản được niềm tin một con người khi biết tựa vào nội lực chính mình: Muốn nên sự nghiệp lớn – Tinh thần càng phải cao; Gian nan rèn luyện mới thành công; Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng…

Trên phương diện tư duy sáng tạo nghệ thuật, Nhật ký trong tù có thể đối sánh với bất cứ tập thơ cổ kim Đông Tây nào khác. Từ nhiều điểm nhìn khác nhau có thể phát hiện vẻ đẹp của “những chỉnh thể nghệ thuật nhỏ trong một chỉnh thể nghệ thuật lớn”, những tiếng nói chiến đấu kiên cường và tinh thần nhân văn cao cả; những chủ đề, đề tài và phong cách đa dạng; những tương quan của cảnh đời cụ thể và qui luật của muôn đời; những trang miêu tả hiện thực và tính lãng mạn bay bổng, những dòng ký sự và hình tượng đầy tính ước lệ, khái quát hàm súc… Qua tập thơ người đọc có thể tiếp nhận được tầm cao văn hóa của tác giả với sự kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống và hiện đại, đặc biệt là tâm thức phương Đông với âm vang thơ Đường qua hệ thống thi tứ, thi liệu, điển tích, hình ảnh, bút pháp nghệ thuật, kể cả hình thức tập cổ, đề vịnh, chơi chữ. Từ đây cũng có thể nhìn ra những khía cạnh thi pháp với nhiều cung bậc tình cảm và nhiều biến thái nghệ thuật cao nhã. Hình ảnh con người tác giả – chủ thể trữ tình có khi là sự tự biểu hiện, có khi nhập thân vào đối tượng, có khi gián cách sau một lối tả người tả cảnh. Thêm nữa, hình thức thời gian nghệ thuật cũng in đậm cảm quan tâm lý, tâm trạng với cách chỉ định tháng ngày đóng dấu sự việc cụ thể, thời gian dồn nén sự kiện, thời gian đếm nhịp quá khứ và tưởng vọng tương lai, thời gian được diễn tả theo tuyến tính và thể hiện khả năng tự tại tự chủ, vượt thoát, phi thời gian: Ví bằng giúp ích cho dân tộc – Thu trước thu này há kém nhau (Cảm thu, II)…

4. Thay lời kết

Nhật ký trong tù là tập thơ của một con người và được viết ra trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt song đó là CON NGƯỜI viết hoa và đã đến được với mọi tấm lòng, mọi con người ở mọi phương trời. Tập thơ sáng tác trong hoàn cảnh tù ngục nhưng lại vượt lên cảnh lao tù, ngời sáng những giá trị nhân văn, niềm lạc quan yêu đời và ý chí phấn đấu cho một ngày mai tươi sáng. Chính nhờ thế mà tập thơ có sức lan tỏa sâu rộng, sức sống mãnh liệt, vượt thời gian đến với thế hệ mai sau. Đó thực sự là tập thơ của một vĩ nhân, anh hùng giải phóng dân tộc, thi nhân và danh nhân văn hóa thế giới.

Hà Nội, 2015 – 11/2019

La Nguyễn Hữu Sơn
(Viện Văn học)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc