Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhận thức chưa tới?

Kỳ 2 (Tiếp theo số báo 477, ngày 23-11-2017)

Trên tạp chí Xưa và Nay, số 487 tháng 9-2017, bài “Không thể tùy tiện…”, ông Vũ Minh Giang đưa ra hai giả định về “một vệt bài trên Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh” (VN TP.HCM)… là nhận thức chưa tới (tức chưa thật hiểu rõ công việc) thì chỉ là cái hại nhỏ… còn “cố tình xuyên tạc” thì là “phá hoại một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”.

Chúng tôi thấy cần trao đổi với ông Vũ Minh Giang cho sáng tỏ vấn đề.

1. Nhận thức (tới hay chưa tới) và hiểu rõ công việc là hai phạm trù khác nhau. Thạo tay nghề, thạo việc là nhận thức có giới hạn cụ thể của nghề nghiệp. Thợ hay cán sự bậc cao khác với nhà nghiên cứu khoa học. Nhận thức không có giới hạn nên chỉ nói chung là rộng hay hẹp nông hay sâu. Và vậy nói nhận thức tới hay chưa tới phải căn cứ trên nội dung các bài viết, chẳng hạn bài của nhà văn Vũ Hạnh năm 2008 ngay sau Hội thảo Thanh Hóa về Vương triều Nguyễn và vừa qua về Vương triều Nguyễn cũng trên VN TP.HCM thì đâu là chỗ chưa tới? Chẳng hạn ông Dương Trung Quốc đưa ra luận điểm thể chế nào cũng có cái đúng cái sai, vấn đề là xem thể chế đó có khuynh hướng vươn lên hay không và bài trao đổi lại của chúng tôi xem nó tới hay chưa tới? Luận điểm của ông Dương Trung Quốc là biến sử học thành đạo đức học. Còn chúng tôi cho rằng sử học phải làm rõ bản chất của các yếu tố lịch sử. Và phải trên một tư tưởng gốc, nền tảng làm định hướng mới có thể thực hiện được yêu cầu đó. Người Việt Nam viết về lịch sử Việt Nam có chỗ khác với người nước ngoài viết về Việt Nam. Ngay người Việt Nam cũng không phải đã cùng một tư tưởng, định hướng nền tảng. Chẳng hạn xem Thụy Khuê đánh giá về tiểu thuyết Mình và Họ (tức Xe lên xe xuống) thì thấy rõ. Hoặc Huy Đức hay Dương Thu Hương đều có cái nhìn đối lập với Hội KHLS Việt Nam, chúng tôi chắc thế. Hoặc luận điểm phải vượt qua rào cản ý thức hệ để nhìn nhận lịch sử của GS. Phan Huy Lê (Tuổi trẻ, ngày 23-10-2012) mà ông Cao Đức Trường phản bác lại, thì ai là người nhận thức tới hay chưa tới. Nhận thức cũng như biển học, là vô bờ. Phải xem cụ thể trên việc làm, xem một người nào đó đã bơi lội được đến đâu trên biển nhận thức. Thái độ của ông Vũ Minh Giang như vậy là không dân chủ, là quy kết chụp mũ, và không khoa học, rõ ràng như thế.

Xem nhận thức chưa tới là do “chưa thật hiểu rõ công việc” là gia trưởng, hình thức. Phương pháp của sử học rất khác với toán học hay vật lý, hóa học. Nhà làm sử phải trình bày lịch sử một cách đúng đắn và sáng rõ để đông đảo bạn đọc tiếp nhận được mà không nên (hay không thể đòi hỏi) người đọc phải nắm được bộ công cụ của sử học.

Luận điểm này vừa phản học thuật vừa quan liêu độc đoán. Rất giống mấy giáo sư văn học hồi nọ, được trao đổi góp ý về biên soạn sách giáo khoa thì không tiếp thu, lại cho rằng những ý kiến đó là do những người không có bằng cấp không được học hành chính quy… đưa ra. Chúng tôi nghĩ phương pháp luận sử học tuy không đơn giản nhưng cũng không quá chuyên biệt hiểm hóc như một ngành khoa học quá siêu việt và người thường không hiểu được. Nói thật ra nó chỉ gói gọn trong mấy chữ của Thái sử công nước Tề thời xưa: Cứ sự thực mà nói thẳng. Có nhìn đúng sự thật và có dám nói đúng, nói thẳng sự thật đó hay không. Phương pháp này nói thì dễ nhưng thực hành thì cực kỳ khó khăn. Có khi phải chấp cả tính mạng, như mấy anh em Thái sử công nước Tề. Hoặc Giang Văn Minh của nước ta. Một câu mà bị cắt lưỡi. Nhưng câu đó bền vững hơn cả đồng trụ của Thiên triều. Thực tế sử học chứng tỏ như thế.

NSND-Dang-Thai-Son
NSND Đặng Thái Sơn – Ảnh: giadinh.net.vn

Về sự thực lịch sử, chúng tôi quan niệm nó có nhiều cấp độ. Có sự thực là chân lý bao trùm một thời đại hay nhiều thời đại, trong phạm vi một dân tộc hay rộng hơn. Có những sự thực ở cấp độ hẹp hơn, phản ánh những khía cạnh, những mặt khác nhau của hiện thực lịch sử. Hiệp định Élysée là một sự thực. Trên cơ sở đó Pháp trao trả Nam kỳ lại cho Quốc gia Việt Nam là một sự thực, theo nhận thức của GS. Phan Huy Lê. Nhưng Pháp đang cần Bảo Đại là một sự thực. Nếu Xihanúc đảm đương được vai trò của Bảo Đại thì Pháp không ngần ngại gì mà không trao cho Xihanúc. Căn cứ trên Hiệp ước 1862, trước đây được chuyển nhượng thế nào, giờ trả lại thế ấy, chỉ là chuyện hình thức thôi. Tại sao biết trả lại Nam kỳ mà vẫn đổ quân xuống Điện Biên Phủ để chuốc lấy thất bại? Vậy thì phải thấy một sự thực lớn hơn, bao trùm, quyết định hơn: Cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo đang giành được những thắng lợi quyết định, đẩy Pháp và bù nhìn tay sai vào thế lúng túng, phải đối phó. Việc Pháp trả lại Nam kỳ cho Bảo Đại chỉ là trò lừa bịp. Có hay không có trò hề lừa bịp này thì cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vẫn tiến tới đánh đuổi thực dân xâm lược và bè lũ tay sai giành lại độc lập thống nhất toàn vẹn cho đất nước. Vậy thì biện luận về vai trò của Quốc gia Việt Nam và Hiệp định Élysée có phải là vẽ rắn thêm chân và xa hơn là hạ thấp thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chuyển hướng sang phục hồi một thây ma chính trị, thây ma lịch sử hay không? Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết tới đây để trao đổi với ông Nguyễn Văn Kim về giá trị pháp lý quốc tế của các Hiệp ước Nhà Nguyễn đã ký với phương Tây.

Chúng tôi không dám phí phạm thời giờ của bạn đọc nên xin nói ngắn gọn với các vị trong Hội KHLS VN và Ban biên soạn bộ quốc sử thế này:

- Sự thực lịch sử là những sự kiện sự việc có thực đã diễn ra trong lịch sử. Đó là đương nhiên. Ngày ấy nơi ấy những người ấy có sự ấy!

- Sự thực lịch sử đồng thời là sự nhìn nhận chủ quan về những cái khách quan lịch sử. Nó gắn với quan điểm của chủ thể nghiên cứu.

Đó là hai vấn đề cốt lõi của sử học, từ phương pháp đến thực hành. Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề Nam bộ năm 1946 và Hiệp định Élysée cùng công dân Vĩnh Thụy phản bội Tổ quốc sau này là một sự thực. Biện hộ như của GS. Phan Huy Lê và một số vị khác như hiện nay, là một sự thực.

Xin các vị trả lời cho công chúng. Vậy thì đâu là sự thực?

Cũng về nhận thức chưa tới, xin nói với ông Vũ Minh Giang thế này:

- Các giới chống Việt Nam cả ở nước ngoài lẫn trong nước, cả người nước ngoài lẫn người Việt đều cố tình xuyên tạc lịch sử của người Việt Nam xem người Việt là hiếu chiến, chỉ thích đánh nhau, giỏi đánh nhau… tình hình này không nên đổ tại cho việc trình bày lịch sử Việt Nam. Mà đấy là luận điệu của CIA.

- Lịch sử Việt Nam từ năm 40 đến 1975 chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm. Nội dung đó chiếm phần lớn trong các công trình sử học là đương nhiên.

- Những hạn chế về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội là có cơ sở lịch sử. Một đất nước một dân tộc bị xâm lược triền miên và phải kháng chiến liên tục để giành độc lập thì đâu có nhiều thời giờ cho nghiên cứu khoa học? Dù có trình bày lịch sử bằng cách gì cũng không lẩn tránh được thực tế ấy.

- Chiến tranh xâm lược của ngoại bang là nguyên nhân chính, thứ nhất, sau chế độ phong kiến, đã kìm hãm trí tuệ Việt Nam. Người Việt Nam không phải quá kém cỏi về trí tuệ, mà bị áp bức, đè nén, cha con Hồ Quý Ly với Thành Nhà Hồ, Tuệ Tĩnh, Nguyễn An thời xưa đến thời nay đều chứng tỏ: chỉ khi nào có độc lập dân tộc, trí tuệ Việt Nam mới phát triển được. Thế hệ của Tạ Quang Bửu, Trần Đức Thảo, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Văn Huyên, Lương Định Của… đã chứng minh điều đó.

- Chắc chỉ có ông Vũ Minh Giang ngỡ ngàng về Đặng Thái Sơn hay Ngô Bảo Châu. Nếu ông xem qua công trình Trí thức tinh hoa Việt Nam của Hàm Châu, NXB Trẻ, 2016, thì thấy, không ai ngỡ ngàng mà chỉ vui mừng, tự hào tin tưởng.

Về âm nhạc, Đặng Thái Sơn là một thiên tài của một nhạc sĩ biểu diễn một bộ môn âm nhạc (piano) của một nhạc sĩ (Sopanh). Về nhạc sĩ sáng tác thì Việt Nam có những tầm cỡ thế giới như Văn Cao, Trịnh Công Sơn hay nghiên cứu âm nhạc như GS. Trần Văn Khê và thế hệ nhạc sĩ cả sáng tác và biểu diễn của thời đại cách mạng giải phóng dân tộc là có giá trị và dấu ấn sâu đậm nhất. Xin dành cho các nhà chuyên môn về âm nhạc.

Mấy lời trên mong ông Vũ Minh Giang xem lại nhận thức của mình ở tầm mức nào.

Về đại thể, quan điểm về lịch sử của các tác giả viết trên VN TP.HCM không trái ngược với Hội KHLSVN, như bài trả lời phỏng vấn của TS. Trần Đức Cường, của các vị Phạm Hồng Tung hay Nguyễn Văn Kim (xem Xưa và Nay, số 487), cái khác nhau, theo chúng tôi là ở các sự thực cụ thể như đánh giá Triều Nguyễn, Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hòa hay các Hiệp ước Nhà Nguyễn đã ký với phương Tây. Nếu bình tĩnh lắng nghe và thực sự dân chủ trong trao đổi thì không có gì phải vội vàng hô hét qui kết như ông Vũ Minh Giang. Nếu GS. Phan Huy Lê thực sự cầu thị, hãy đáp lại nhà văn Vũ Hạnh thì chúng tôi tin bạn đọc sẽ được giải tỏa. Bởi sự im lặng, lẩn tránh rất học phiệt của GS. Phan Huy Lê làm cho không khí trao đổi trở nên nặng nề. Đúng là GS. Phan Huy Lê vẫn liên tục viết và chủ trì các Hội thảo. Nhưng ở đây bạn đọc muốn GS. Phan Huy Lê trực tiếp và cụ thể đối thoại với nhà văn Vũ Hạnh. Dẫu gì thì nhà văn Vũ Hạnh năm nay đã hơn 90 tuổi. Trong khi nhà văn Vũ Hạnh vào tù ra tội vì chống lại cuộc xâm lăng về văn hóa của ngoại bang thì GS. Phan Huy Lê đang ngồi ở giảng đường hay đứng trên bục giảng đại học. Gian khổ nhất là phải đi sơ tán mấy năm về Đại Từ – Thái Nguyên mà thôi. Nếu GS. Phan Huy Lê không đáp lời với nhà văn Vũ Hạnh thì không chỉ là học phiệt mà còn là coi thường một nhà văn tiêu biểu cho một thế hệ đã chiến đấu để GS. Phan Huy Lê được đủ điều kiện chuyên sâu vào chuyên môn của mình. Đó là một tấm gương, một tiền lệ cho sự thiếu công minh của lịch sử, thiếu công bằng xã hội. Dẫu muộn, chúng tôi vẫn kiên trì chờ đợi nơi giáo sư đáng kính.

Sau hơn 40 năm đất nước độc lập thống nhất, sau 30 năm đất nước Đổi Mới mà bây giờ (hay gần đây) giới sử học mới đưa ra được nguyên tắc sử học, thiên chức sử học… thì là quá chậm trễ. Đó là trách nhiệm của giới sử học không nên đổ tại “Có một thời chúng ta đã…”. Bởi nếu có một thời như thế thì đó là thời của Lâm – Lê – Tấn – Vượng ngự trị trong sử học chứ không phải là Vũ Hạnh, Cao Đức Trường hay Hoàng Phương và Trương Thanh Hùng…

Chúng tôi mong ông Vũ Minh Giang và các vị hãy bình tĩnh lắng nghe. Sự trao đổi thẳng thắn, dù có là nhận thức chưa tới, đều có lợi cho cả đôi bên và công chúng. Sao lại xem là cái hại nhỏ. Để đến được chân lý lịch sử, phải qua nhiều thử thách. Đâu phải đưa ra một nguyên tắc, biên soạn xong một công trình, là xong.

Ở Hà Nội có phố Hàng Tiện. Tức là cái công việc, cái nghề cắt gọt, tiện bỏ những phần không bản chất để hình thành một bộ đồ thờ. Cũng như điêu khắc. Phải đục bỏ phần không bản chất để có được một hình khối cụ thể. Nó là cái bản chất. Chân lý cụ thể. Nghiên cứu lịch sử, thiết tưởng, cũng theo qui luật đó. Có nhà sử học nào dám quyết, như trong một truyện cổ Trung Đông, rằng chỉ cắt một nhát vừa trọn một ký-lô-gram thịt… Còn nếu không đúng như thế thì sẽ bị… cắt lại.

Vậy thì, các tác giả trên VN TP.HCM trong trao đổi góp ý dù đúng hay sai đều có lợi cho Hội KHLS sao lại xem là “cái hại nhỏ”!

Tháng 11-2017

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 478

Ý Kiến bạn đọc