Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nhân Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8-3-2017 – Bà Mẹ VNAH Thiều Thị Tú

Về Thanh Hóa, tôi được gặp Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (VNAH) Thiều Thị Tú – một bà mẹ trong hàng vạn bà mẹ có con hy sinh cho Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, vùng đất này hứng chịu 20 vạn tấn bom, 43.809 quả đạn trên biển, hàng chục vạn người hy sinh và bị thương. Con số 1.125 Bà mẹ VNAH ở một tỉnh hậu phương miền Bắc phần nào nói lên những hy sinh, mất mát mà quân dân Thanh Hóa đã kiên cường chịu đựng. Được gặp mẹ, chúng tôi hiểu thêm một phần lịch sử của đất và người Thanh Hóa: kiên cường, quyết liệt, mà nhân hậu, thủy chung, trọng nghĩa tình…

Mẹ Thiều Thị Tú tuy tuổi cao nhưng còn tráng kiện, đẹp lão và minh mẫn. Mẹ còn nhớ rất rõ, từng ký ức những năm tháng tuổi thơ. Mẹ kể về thời con gái nhà nghèo, mồ côi sớm, mẹ phải đi ở nhà người bác. Con gái ở Đông Sơn rất đảm đang, cày, bừa, cấy… việc khó, nặng nhọc đến đâu cũng làm được hết. Mẹ giữ em, đi chăn trâu, cắt cỏ, làm phân… Mẹ bình thản kể về thân phận phụ nữ thời thực dân phong kiến. “Con gái thời đó ít ai được đi học. Cha tui nói: “Con gái học nhiều chẳng để làm gì, biết nhiều chữ nghĩa cũng để viết thư cho trai. Ông bắt đi làm, nói con gái phải giỏi giang bếp núc, cấy hái…”.

Với giọng hóm hỉnh, tràn ngập yêu thương, chân chất, mẹ kể về người chồng đã khuất: “Tui lấy chồng năm 20 tuổi, ông tên Thiều Quang Vòng. Thời con gái, tui đẹp nên có nhiều trai làng nhờ người đến dạm hỏi nhưng tui không ưng ai, chỉ ưng ông Thiều Quang Vòng vì ổng đẹp trai, hát hay, người trắng trẻo, vui tính!”.

Ba-me-VNAH-Thieu-Thi-Tu
Bà mẹ VNAH Thiều Thị Tú..

Nhưng hạnh phúc đôi vợ chồng trẻ không kéo dài được lâu. Từ khi Pháp dâng Đông Dương cho Nhật, nhân dân ta rơi vào cảnh “một cổ hai tròng” xiềng xích. Chính quyền Pháp – Nhật không chỉ bắt nhiều người dân Thanh Hóa đi phu, làm lao dịch ở những nơi xa xôi, sơn lam chướng khí mà còn thẳng tay đàn áp các phong trào cách mạng. Nhiều người bị bắt, tù đày, tra tấn. Người chết vì kiệt sức, bệnh tật, đói khát. Ông Thiều Quang Vòng cùng nhiều trai làng bị đưa sang Lào, vào rừng sâu, lao dịch nặng nhọc, đào đường, xẻ núi, đốn gỗ… Khi đi, ông chồng của mẹ là một tráng đinh trẻ trung, khỏe mạnh. Ngày về, ông bị sốt rét hủy hoại, kiệt sức. Người vợ trẻ Thiều Thị Tú không nhận ra chồng vì tóc ông rụng hết. Nhà nghèo, không có tiền chữa bệnh, sau nửa tháng từ Lào về nhà, ông Thiều Quang Vòng mất, mới 29 tuổi. Mẹ bùi ngùi bấm tay thở dài: “Vậy là tui góa chồng khi 25 tuổi. Lúc đó thằng Thiều Quang Sòng mới 4 tuổi!”.

Từ ngày ấy, mẹ một mình bươn chải, làm ruộng, làm mướn nuôi con. Anh Sòng càng lớn càng giống cha, theo như lời mẹ kể: “Nó trắng trẻo, đẹp trai, hay nói hay cười, tính tình vui nhộn!”. Anh Sòng lớn lên vào những ngày Thanh Hóa trong thời kỳ cùng cả nước hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế sau 9 năm kháng chiến chống Pháp. Là một tỉnh có vị trí chiến lược, địa bàn nối liền khúc ruột miền Trung; Thanh Hóa còn nhận lãnh sứ mệnh bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc, nên luôn tăng cường xây dựng lực lượng quân sự, củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng. Mỗi năm, hàng ngàn thanh niên trong tỉnh phấn khởi thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự. Trong số những đoàn viên thanh niên hồ hởi dự khám tuyển vào quân đội năm 1960, có anh Thiều Quang Sòng, con trai duy nhất của mẹ.

Ben-di-anh-con-trai-Thieu-Quang-Song-hy-sinh-o-chien-truong-Quang-Tri-nam-1968
bên di ảnh con trai Thiều Quang Sòng,
hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, năm 1968.

Biết được con trai đăng ký đi nghĩa vụ quân sự và được chọn, mẹ Thiều Thị Tú ngồi lặng. Mẹ ngẫm ngợi rất dữ nhưng không ngăn con đi, không ra xã khẩn cầu để đứa con duy nhất của mẹ ở lại bên mình. Mẹ vốn là người phụ nữ quyết liệt, thực tế nên có cách hành xử của riêng mình. Mẹ quyết định nhanh chóng, đi hỏi vợ cho con trai. Mẹ thầm nghĩ: “Nó lấy vợ, có con rồi đi đâu thì đi!”. Chị Nguyễn Thị Tâm (năm 2014 tôi gặp đã 75 tuổi) – vợ anh Thiều Quang Sòng nói: “Thương ảnh con mồ côi cha mà hiếu thảo, tính tình vui vẻ, hay hát nên tôi chịu làm vợ anh, về làm dâu nhà mẹ!”.

Khi anh Thiều Quang Sòng đi nghĩa vụ quân sự, vợ anh mới có đứa con trai đầu lòng. Chị Tâm sinh Thiều Quang Văn năm 1961. Chị ở nhà nuôi con nhỏ, vừa tham gia sản xuất trên cánh đồng hợp tác. Chị không sao nhớ hết những tháng ngày gian nan, vất vả khi chồng đi chinh chiến. Hàng vạn người mẹ, người chị Thanh Hóa thời ấy cũng tần tảo, đảm đang như chị, bởi cùng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ quê hương, nhân dân Thanh Hóa còn phải đóng góp sức người, sức của chi viện cho miền Nam ruột thịt và giúp đỡ cách mạng Lào…

Sau 3 năm đi nghĩa vụ quân sự, anh Thiều Quang Sòng trở về làng. Người vợ trẻ đón chồng trong niềm hạnh phúc tràn ngập. Người chồng ôm hai mẹ con trong vòng tay, sung sướng vô ngần, nghe con trai bập bẹ gọi bố. Mẹ Thiều Thị Tú rất vui trong cảnh gia đình sum họp, đầm ấm. Niềm vui của mẹ nhân lên nhiều lần khi con dâu có mang, sinh thêm cho mẹ đứa cháu nội gái. Mẹ đặt tên cháu là Thiều Thị Minh. Anh Thiều Quang Sòng tham gia đội dân quân xã, luôn phải tuần tra, canh gác, cũng không đỡ đần nhiều cho vợ. Nhưng với chị Tâm, đó là quãng đời hạnh phúc nhất của chị…

Nhưng nhân dân miền Bắc không được yên ổn xây dựng đất nước. Chính quyền Giôn-xơn tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ vào miền Nam, đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Thanh Hóa lại trở thành địa bàn chiến lược trọng yếu: chiếc giáp sắt bảo vệ thủ đô Hà Nội, kho dự trữ chiến lược, chiếc cầu nối giữa miền Bắc với miền Nam. Vì vậy, Thanh Hóa luôn là trọng điểm đánh phá của Mỹ. Ngày 2-3-1965, máy bay Mỹ ném bom xuống cảng sông Gianh, Kha Bang, Quảng Bình. Ngày 16-3-1965, máy bay Mỹ xâm phạm bầu trời Thanh Hóa, ném bom xuống các huyện Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Xuân và nhiều lần trinh sát khu vực Hàm Rồng…

Me-VNAH-Thieu-Thi-Tu-ke-ve-nguoi-da-hy-sinh
Bà mẹ VNAH Thiều Thị Tú cùng con dâu Nguyễn Thị Tâm (thứ hai, từ trái), cháu nội Thiều Quang Văn (thứ ba, từ trái), cháu cố, cháu nội gái Thiều Thị Minh (bìa phải) kể về người đã hy sinh…

Tôi đọc lại và rung cảm mãnh liệt về những trang lịch sử Thanh Hóa. Khu vực Hàm Rồng bao gồm thị xã Thanh Hóa (thời đó chưa lên thành phố) và các vùng Hoàng Long, Hoàng Lý, rộng khoảng 50 cây số vuông. Đây không chỉ là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị mà còn là trọng điểm quốc phòng. Năm 1965, khi quyết định mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, giới quân sự Mỹ đã coi cầu Hàm Rồng là “điểm tấn công lý tưởng”, nhằm cắt đứt tuyến đường giao thông huyết mạch chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Mỹ đã chuẩn bị phương án đánh phá khu vực Hàm Rồng bằng lực lượng không quân hỗn hợp. Chỉ trong hai ngày 3 và 4-4-1965, chính quyền Giôn-xơn đã huy động 425 lần chiếc máy bay ném 627 bom phá, 58 bom nổ chậm, bắn hàng trăm tên lửa và rốc-két vào khu vực trọng điểm ở Thanh Hóa. Riêng khu vực Hàm Rồng, máy bay Mỹ đã ném 350 quả bom, bắn 149 rốc-két… Nhưng chiếc cầu sắt Hàm Rồng vẫn hiên ngang soi mình xuống dòng sông Mã. Quân dân Thanh Hóa chỉ trong 2 ngày đã bắn tan xác 47 máy bay Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng, Đò Lèn, phà Ghép, Tĩnh Gia; bắt sống nhiều giặc lái làm rúng động Nhà trắng. Chiếc cầu Hàm Rồng nhỏ bé trên dòng sông Mã đã đi vào lịch sử bằng những chiến công hiển hách, biểu tượng của sức mạnh Việt Nam.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hàm Rồng, đã xuất hiện những tấm gương anh hùng của tập thể và các cá nhân như tập thể đại đội 4, đại đội 17 pháo cao xạ 37, khẩu đội Phạm Gia Huấn, khẩu đội Đỗ Quang Đinh; các đơn vị chốt giữ đồi không tên, núi Rồng, núi Ngọc; các đơn vị tự vệ Nhà máy điện Hàm Rồng, Lò Cao, tự vệ Xí nghiệp Mộc Xẻ, quân dân Nam Ngạn, Yên Vực, Hà Phong, Hải Lâm, Hải Châu, Quảng Trung; tập thể công nhân phà Ghép, đội cầu 19-5… Đó là Mai Xuân Điểm, Nguyễn Bá Ngọc, Ngô Thị Tuyển, Hoàng Thị Vường, Nguyễn Thị Định, Mai Thị Tuyến, Đoàn Thị Hạnh, Lê Thị Xuyến, Lê Thị Lanh, Nguyễn Thị Hằng… Trong không khí sôi động ấy, nườm nượp thanh niên tòng quân nhập ngũ. Những người lính như anh Thiều Quang Sòng, con trai mẹ Thiều Thị Tú dù đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, về địa phương hoạt động, được lệnh tái ngũ…

Chị Tâm kể trong nước mắt. “Khi ấy, anh Thiều Quang Sòng đang phấn đấu vào Đảng. Đảng viên thì phải tiên phong. Anh ấy nói với tôi: “Mỹ đánh tới miền Bắc, anh phải đi. Nếu anh không về, em ráng nuôi con, nuôi mẹ thay anh”. Tôi trách anh sao lại nói: “Nếu anh không về…”. Anh nắm chặt tay tôi: “Mỹ bỏ bom miền Bắc. Miền Nam cũng bị bom đạn cày xới. Anh tái ngũ, không biết sẽ ở lại Thanh Hóa chiến đấu bảo vệ Hàm Rồng hay vào Nam đánh Mỹ. Chiến tranh ở đâu cũng ác liệt. Người lính được lệnh là đi chiến đấu thôi!”. Anh nói vậy rồi đi. Anh vào chiến trường miền Nam, cho tới lúc hy sinh, không hề biết tôi đang mang trong người giọt máu của anh…”.

Ngo-vao-nha-Me-VNAH-Thieu-Thi-Tu
Ngõ vào nhà Bà mẹ VNAH Thiều Thị Tú.

Từ Thanh Hóa, anh Thiều Quang Sòng được đưa sang chiến trường Lào rồi có mặt ở mặt trận Huế, Khe Sanh, Quảng Trị. Trong kháng chiến chống Mỹ, Thanh Hóa trong lúc oằn mình hứng chịu hàng chục vạn tấn bom đạn, hàng vạn người bị giết hại, bị thương vẫn dành cho miền Nam tình cảm thiêng liêng, cao quý. Thanh Hóa đã phát động hàng chục phong trào thi đua sôi động vì miền Nam như “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người…”. Hàng chục vạn người con ưu tú của tỉnh Thanh đã được gởi vào chiến đấu nơi chiến trường miền Nam và anh Thiều Quang Sòng là một trong những liệt sĩ nằm xuống chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị; góp phần làm nên cột mốc lịch sử xuân Mậu Thân 1968…

Người ra đi, vĩnh viễn không trở về, dâng hiến cuộc đời và máu xương nơi mặt trận ác liệt. Người ở lại hậu phương dũng cảm vượt qua nỗi đau mất mát, đối diện với cuộc chiến giành giật sự sống thật không dễ dàng. Mấy mươi năm sau, mẹ Thiều Thị Tú và người con dâu Nguyễn Thị Tâm mới có dịp kể cho con cháu nghe những ngày vượt cạn, đi giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết: “Tôi được đưa xuống bệnh viện huyện vì chứng tiền sản giật, rất nguy hiểm cho tính mạng của cả mẹ và con. Tôi bị trói chặt chân tay. Khi tình trạng quá nguy kịch, mẹ chồng tôi gào khóc, van nài các bác sĩ cứu tôi. Cảm động trước tình yêu thương hiếm thấy của một bà mẹ chồng dành cho con dâu, biết thêm chồng tôi đi bộ đội, vào chiến trường miền Nam, các y bác sĩ ở bệnh viện đã tận tình cứu chữa cho tôi. May rồi cũng mẹ tròn con vuông. Tôi đặt tên đứa con út là Thiều Văn Hóa. Nhờ có bà chăm sóc, lay động các bác sĩ mà mẹ con tôi được cứu sống…”.

Mẹ Thiều Thị Tú kể: “Thấy mẹ tụi nhỏ ra nhiều máu, tôi hô hoán, làm dữ quá, mấy ông bác sĩ trong bệnh viện nói: “Bà này giang hồ”. Nói vậy nhưng cũng cảm thông cho tôi. Đến lượt đứa cháu mới sinh ngay đơ, tôi kêu cứu. Bác sĩ nói không sao, sẽ đưa cháu vào lồng kính. Bác sĩ nói nhờ phúc đức, sự quyết liệt của bà đã cứu sống hai mẹ con…”.

Khi được hỏi “Vì sao lúc chồng hy sinh, chị còn rất trẻ, xuân sắc vẫn ở vậy nuôi con?”. Chị Tâm nhìn mẹ chồng bằng đôi mắt chan chứa tình thương yêu, ngậm ngùi nói: “Khi chồng tôi hy sinh, thấy tôi còn trẻ, nhiều người theo đuổi, mẹ chồng khuyên tôi nếu ưng bụng ai thì lấy người đó, xây dựng hạnh phúc gia đình, còn cháu để bà nuôi. Tôi không đi bước nữa vì thương mẹ, thương con. Tình yêu thương của mẹ chồng dành cho mấy mẹ con làm tôi cảm động. Mấy lần vượt cạn, chồng đi bộ đội, đều có mẹ chồng ở bên. Cái nghĩa đó quá lớn. Con trai con gái có đủ rồi, khổ thì khổ một bề, mình nén lòng lại cũng qua. Nghĩ vậy mà tôi ở vậy nuôi đàn con cho đến ngày hôm nay. Tôi được bù đắp vì các con lớn khôn, trưởng thành. Tôi dù sao cũng còn có ba đứa con, thương là thương cho mẹ chồng, chỉ có duy nhất anh Sòng. Nên khi hay tin anh Sòng hy sinh, mẹ chồng tôi như người mất hồn, bỏ đi lang thang mấy năm trời…”.

Mẹ Thiều Thị Tú tiếp lời con dâu: “Nghe con hy sinh, tôi chả làm được chi. Nửa đêm mở cửa đi, đi lung tung lang tang. Tôi ra cả Thái Nguyên, Hà Nội, Yên Bái tìm con, xuống cả Sầm Sơn, lên Đa Phúc… Gặp ai tôi cũng hỏi biết thằng Sòng của tôi ở đâu không. Tôi lên tới cả Đồng Đăng, Kỳ Lừa, tới chỗ trao trả tù binh, cũng chẳng thấy con. Mất con, tôi bị thần kinh mà ra nông nổi như vậy! May là hồi đó nhiều người tốt, cho tôi ăn, đưa tôi về nhà, gởi tiền cho tôi đi xe. Lần hồi rồi cũng về tới nhà, người gầy như cua, cáy. Con mất rồi, đâu tha thiết gì nữa!”.

Đó là nỗi lòng rất thật của mẹ. Chiến tranh khiến bao người mẹ mất con, người vợ mất chồng, những đứa con mất cha. Đó là điều rất thật, hiển hiện trong ngôi nhà của bà mẹ Thiều Thị Tú mà chúng tôi được gặp. Nhưng như những chồi non mãnh liệt vươn lên sau giông bão, những người cháu nội của mẹ đã sống xứng đáng với sự hy sinh của người cha nơi tuyến lửa. Anh Thiều Quang Văn – con trai đầu liệt sĩ Thiều Quang Sòng sau khi tốt nghiệp phổ thông, chọn con đường trở thành chiến sĩ thuộc C7 E720 F333 của Đoàn 559 Anh hùng. Giấy chứng nhận huy hiệu chiến sĩ Trường Sơn là niềm tự hào, một kỷ niệm đẹp của cuộc đời anh. Hết hạn nghĩa vụ đoàn 559, năm 1983, anh phục viên, về quê cưới vợ, có được 3 con gái. Vợ chồng anh chăm sóc bà nội và mẹ. Ngôi nhà anh ba thế hệ chung sống, suốt từ khi cha anh hy sinh.

Cô bé Thiều Thị Minh mồ côi cha lúc mới lên 4 kể về nỗi khổ mất cha. Vì lời chế nhạo của chúng bạn “đồ không cha”, Minh đã quyết tâm vượt khó, học giỏi, thi đỗ vào Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương I. Sau khi ra trường, cô về quê công tác, phấn đấu trở thành Đảng viên, vừa là giáo viên vừa là cán bộ quản lý giỏi. Minh hiện nay là Hiệu trưởng Trường Mầm non Đông Xuân, xây dựng hai trường đạt chuẩn quốc gia. Minh kể cuộc đời mình không ít sóng gió. Chồng Minh cũng từng đi bộ đội, sau đó vào Nam làm ăn, nhiều năm không về. Minh vừa công tác, vừa nuôi con, vừa sống trong nỗi đau hạnh phúc tan vỡ. Cô đã kiên cường vượt qua nỗi đau, nhờ vào hình ảnh người cha liệt sĩ. Những lúc đau buồn nhất, hình ảnh người cha hiện về, như mỉm cười an ủi, động viên Minh vượt qua nghịch cảnh. Cô nói hiện nay cô đang sống hạnh phúc với chồng, con. Chồng cô đã quay về, chí thú làm ăn hơn xưa, những đứa con cô học giỏi, ngoan ngoãn. Cô vẫn thường nói với các con: “Ông ngoại của các con là liệt sĩ, đã nằm lại ở miền Nam, hãy sống xứng đáng với ông!”.

Vì niềm tự hào về người thân đã ngã xuống, góp xương máu cho ngày hòa bình, thống nhất đất nước mà những người còn được sống như Bà mẹ VNAH Thiều Thị Tú, chị Nguyễn Thị Tâm – người vợ liệt sĩ, những người con của liệt sĩ Thiều Quang Sòng là Thiều Quang Văn, Thiều Thị Minh, Thiều Văn Hóa đều tha thiết mong tìm được hài cốt người thân đưa về quê hương. Mẹ Thiều Thị Tú đã nhiều lần vào miền Nam tìm mộ con nhưng không tìm ra manh mối. Mẹ nói mình già rồi, không đủ sức đi tìm nữa. Mẹ có gửi thư cho Đài truyền hình, theo dõi chương trình “Nhắn tìm đồng đội” nhưng vẫn bặt tăm. Cho đến giờ, mẹ vẫn đau đáu, chẳng biết hài cốt con mình nằm lại nơi đâu. Mắt mẹ đã lòa nên ngay cả di ảnh con cũng không còn nhìn rõ. Nhưng mẹ được an ủi vì tuổi già được sống quây quần bên con cháu, an lòng khi biết tre già rồi sẽ có chồi non mọc lên, vững chãi…

Đầu năm 2017 tôi gọi điện chúc Tết, Minh cho biết bà nội nay đã được 100 tuổi, còn khỏe mạnh, minh mẫn lắm. Thật vui!

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 440

Ý Kiến bạn đọc