Trong nước

Nhân kỷ niệm 153 năm ngày sinh cụ Nguyễn Sinh Sắc (1862-2015)
Nhân cách Nguyễn Sinh Sắc đối với sự hình thành nhân cách Nguyễn Tất Thành

1. Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862 (Nhâm Tuất) tại làng Kim Liên, Nghệ An. Thân mẫu là cụ bà Hà Thị Hy, thân phụ là ông Nguyễn Sinh Nhậm. Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một bậc có tài. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cụ không được đến trường. Sau nhờ cụ Tú Hoàng Xuân Đường nhận làm con nuôi, năm 1890 (28 tuổi) Nguyễn Sinh Sắc trúng tuyển kỳ thi tuyển ở Nam Đàn. Năm 1894 (32 tuổi), cụ thi đỗ thứ 12 trong 20 người thi đỗ cử nhân của trường Nghệ An. Nhưng theo ý kiến của Trần Nhu trong cuốn Nguyễn Sinh Sắc, cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn, Nxb. Văn học, TP.HCM năm 2015 thì kết quả hơi khác. Ông viết: “Tại khóa thi Hương năm Giáp Ngọ (1894), Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân (kỳ thi này có 2.000 thí sinh dự thi, có 22 nho sinh đỗ cử nhân, trong đó Nam Đàn đậu 8 người, đứng đầu bảng là Nguyễn Sinh Sắc)” [9; tr. 62].

Bia-sach-Ke-chuyen-cu-Pho-bang-Nguyen-Sinh-Sac-cua-Bui-Thi-Thu-ha
Bìa sách Kể chuyện cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
của Bùi Thị Thu Hà.

Năm 1900 (Canh Tý), cụ được cử làm Đề Lại (thơ ký, trong kỳ thi Hương tại trường thi Thanh Hóa). Năm 1901 (39 tuổi), cụ thi đỗ Phó bảng được hưởng đặc ân như tiến sĩ được vua ban thưởng, có lễ vinh quy bái tổ. Cụ Sắc là người thông minh, đức hạnh và khiêm cung nên dân làng ai cũng đều kính nể. Người dân xứ Nghệ vẫn liệt Cụ vào tứ đại danh nhân đương thời ở huyện Nam Đàn “Nam Đàn tứ hổ”:

Uyên bác bất như San
Tài hoa bất như Quí
Cường ký bất như Lương
Thông minh bất như Sắc.

Có một bài khác nữa lưu hành trước khi có bài trên. Chúng tôi cũng chép ra đây để bạn đọc tiện tham khảo:

“Tài hoa bất như Song,
Uyên bác bất như San,
Thông minh bất như Quý,
Cường ký bất như Lương”
(Tài hoa ai bằng Song,
Uyên bác ai bằng San,
Thông minh ai bằng Quý,
Sức khỏe ai bằng Lương).

Bài này Nguyễn Sinh Sắc đã đọc cho con nghe [theo 5]. Giai thoại có nhiều dị bản. Mỗi dị bản có khi là một tác phẩm nghiêm chỉnh. Nam Đàn tứ hổ ca ngợi Nguyễn Sinh Sắc chúng tôi cho rằng là một tác phẩm như thế.

2. Tuy đỗ cao, nhưng ông chỉ làm quan trong một thời gian ngắn. Ông sống bằng nghề dạy học, bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo. Ông sống rất thanh bạch, khiêm tốn, ghét thói xu nịnh. Ông đã đi nhiều nơi, liên lạc với nhiều người yêu nước, tuyên truyền đoàn kết, kêu gọi nhân dân sống có tình nghĩa thủy chung. Tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến những người con của mình.

Một năm sau cụ Sắc được lệnh triều đình vào Kinh chờ bổ nhiệm, nhưng không lâu cụ cáo bệnh về quê. Đến năm 1906, cụ dắt 2 người con trai của mình vào Huế để nhậm chức Thừa Biện Bộ Lễ trông coi việc học hành ở Quốc Tử Giám và làm Hàn lâm Kiểm thảo hàng Thất phẩm. Ngày 29-5-1909, Bộ lại tấu trình lên Hội đồng nhà Vua và khâm sứ Trung kỳ bổ nhiệm cụ chức Tri phủ lãnh nhiệm Tri huyện Bình Khê. Cụ rất căm ghét bọn cường hào ác bá ở địa phương bức bách dân chúng. Cụ thường không trình lên cấp trên xét xử các vụ kiện cáo của bọn này mà ở địa phương cụ tự xét xử và từ đó dẫn đến vụ án Tạ Đức Quang. Do đơn tố cáo của vợ y, triều đình ra lệnh cách chức cụ, triệu hồi về Kinh chờ xét xử.

Trong cuộc chia tay của hai cha con tại Bến Nhà Rồng năm 1911, khi Nguyễn Tất Thành nhìn cha mình sức khỏe bị suy sụp quá nhiều, cha đã hy sinh nuôi dưỡng dạy dỗ chưa kịp báo đáp thâm ân quả thật là bất hiếu, ra đi con chưa yên lòng, lời tâm sự của Nguyễn Tất Thành khi nhìn cha. Cụ Phó bảng bảo: “Nước mất rồi thì đi tìm hồn của nước, chớ công chi mà phải đi tìm cha” [9; tr. 163]. Tất Thành đã hiểu ý cha. Cụ đã dạy điều đó cho con từ tuổi hoa niên. Cụ còn dặn thêm: “Nước mất thì lo cứu nước, con chỉ có mỗi một việc đó phải làm, cứu nước tức là hiếu với cha rồi. Con hãy mạnh dạn lên đường…”. Lời nói sắc bén nhưng chứa đầy tình cảm của cụ, đó là nguồn động viên để Nguyễn Tất Thành yên tâm tìm đường cứu nước. Cụ đã thắp lên ngọn lửa yêu nước trong lòng người thanh niên Nguyễn Tất Thành. Cụ xem việc cứu nước cũng như việc nhà, “cứu nước tức là hiếu với cha rồi”. Thật là trân trọng khi tình yêu nước của cụ soi tỏ con đường cách mạng mà con từng đi.

Những giá trị truyền thống đặc sắc, cao quý, tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là tiền đề cho tư tưởng lý luận, là điểm xuất phát để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, truyền thống đoàn kết, tinh thần nhân nghĩa, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam, truyền thống lạc quan, yêu đời, tin vào sức mạnh bản thân, sự tất thắng của chân lý, truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo, ham hiểu biết, ham học hỏi của dân tộc Việt Nam. Những giá trị truyền thống của dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là tư tưởng tình cảm cao quý thiêng liêng nhất, cội nguồn trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước trở thành lực lượng vật chất thực sự để Người đi đến đúc kết thành chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta… Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

3. Lần khác khi Nguyễn Tất Thành đến thăm cụ Sắc. Đang lúc cụ chẩn mạch cho một bệnh nhân. Cụ nói: “Chuyện cha con là chuyện riêng không quan trọng, chuyện cứu người là chuyện gấp rút phải làm”. Đây lại một lần nữa tư tưởng cứu nước, cứu người được bộc lộ ở cụ thật là sâu sắc. Chắc trong tâm hồn Nguyễn Tất Thành những “chuyện gấp rút phải làm” đã giúp anh đi sâu vào con đường cách mạng. Nhân cách cao thâm của cụ Sắc là tấm gương, là bài học cao quý cho Nguyễn Tất Thành trong sự nghiệp cứu nước của mình.

Nhân cách của người thầy thuốc “Lương y như từ mẫu” cho nên cụ Sắc bao giờ cũng giống như người mẹ hiền. Vào mùa nước năm 1929, hội đồng Nguyễn Chánh Vị ở Cao Lãnh, người có tiếng là hiếu với mẹ đến rước cụ về trị bệnh cho thân mẫu của mình. Biết bệnh tình của thân mẫu Hội đồng Vị quá nặng, nhưng vì lòng hiếu thảo nên cụ đành chiều theo, kê toa hốt thuốc. Uống chưa hết thang thuốc bà Hương Sư Tú mẹ Hội đồng Vị qua đời, cụ Sắc có đối liễn chia buồn:

“Thỉnh chẩn bất dung từ, vị hiếu tâm nhân trị hữu mẫu
Đầu thang phi thị ngộ, duy trinh tiết phụ thệ tùng phu”

(Rước xem bệnh không nỡ từ chối vì người con hiếu thảo với mẹ hiền, đầu than không phải loan, biết người đàn bà trinh tiết nguyện theo chồng)

Vì lòng từ bi, vì chữ hiếu mà cụ phải thực hiện lời thỉnh cầu bốc thuốc của Hội đồng Vị, dù biết quy tắc của thầy thuốc sẽ không bốc thuốc khi biết người bệnh không qua khỏi.

Như vậy, dù ở đâu, làm bất cứ việc gì, trước sau như một, Nguyễn Sinh Sắc đề cao tư tưởng thương dân. Cho nên Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận thật đúng đắn: “Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người (tức là Hồ Chí Minh) là một nhà nho cấp tiến, có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Tấm gương lao động cần cù, tấm gương về ý chí kiên cường vượt qua gian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu, đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị, xã hội của cụ Bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành. Sau này, cái chủ thuyết học được ở người cha bắt gặp trào lưu tư tưởng mới của thời đại đã được Nguyễn Ái Quốc nâng lên thành tư tưởng cốt lõi trong đường lối chính trị của mình” [6; tr. 24, 25].

4. Nguyễn Tất Thành còn học tập ở Nguyễn Sinh Sắc là một tấm gương vượt khó. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ không được học hành thi cử gì. Mãi đến năm 28 tuổi mới được đi thi. Và chỉ 4 năm sau đó đã đỗ cử nhân (1894). Sau này ông cũng thi Hội 3 lần. Đến lần thứ 3 mới đỗ. Ý chí vươn lên đỉnh cao của kiến thức, nghị lực phi thường, quyết tâm sắt đá của ông để đạt được mục tiêu đã trở thành tấm gương sáng cho con cái noi theo. Sau bao nhiêu năm bôn ba ở nước ngoài, làm đủ nghề để kiếm sống, Nguyễn Tất Thành đã không ngừng vươn lên. Người lần lượt bắt gặp các học thuyết, nhưng cuối cùng đã theo chủ nghĩa Mác – Lênin, là một học thuyết đúng đắn nhất, cách mạng nhất. Sau này ý chí cứu dân, cứu nước sôi sục, thường trực, thiết tha, không nhụt chí, không nản lòng của Nguyễn Ái Quốc chính là sự kế tục ý chí của thân phụ mình.

5. Nguyễn Sinh Sắc còn nêu một tấm gương sáng về lao động. Lao động ở đây phải hiểu là lao động thật sự. Vợ chồng cụ Hoàng Xuân Đường bắt gặp lần đầu tiên Nguyễn Sinh Sắc đang chăn trâu. Hình ảnh cậu bé cưỡi trên lưng trâu đọc chữ Thánh hiền, khiến cho ông có quyết định xin về làm con nuôi. Cậu bé về nhà cụ rất siêng năng. Cho nên ở tuổi 17 cậu đã thành thạo công việc chính của một nông dân từ cày bừa, đắp đập be bờ đến các công việc thu hoạch. Ý chí gắn liền với tấm gương lao động. Lúc về làm rể cụ Đường không phải ngồi không mà học, mà vừa làm vừa học. Đỗ Phó Bảng rồi ông vẫn cuốc đất làm vườn cùng với con cái. Đó là chỗ khác giữa Nguyễn Sinh Sắc với phần đông nhà nho đương thời. Phan Bội Châu không biết làm lao động chân tay. Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền đều xuất thân gia đình khá giả. Nếu không có tấm gương và sự giáo dục đó của thân phụ mình, Nguyễn Tất Thành không thể khẳng khái, giơ hai bàn tay ra nói với bạn: “Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi” [10; tr.15].

Sau này khi làm Chủ tịch nước rồi Bác Hồ vẫn lao động chân tay thật sự. Bác vẫn cuốc đất trồng rau, nuôi cá, chăm bón cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng… Người nói: “Lao động là vinh quang” là đúng cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen của những từ này.

6. Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho cấp tiến, có nhân cách cao thượng. Sống trong xã hội phong kiến, Nguyễn Sinh Sắc khinh rẻ uy quyền, coi trọng đạo đức, gìn giữ nếp sống trong sạch, giản dị, gần gũi nhân dân, thương yêu học trò. Ông xem thường lễ nghi phong kiến, khuyên răn con cái chớ học đòi nhà quan, xem quan lại chỉ là kẻ nô lệ nhất trong đám người nô lệ.

Ông cho con học với các bậc trí giả, thông thái đương thời. Người cha đồng thời cũng là người thầy đầu tiên của Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Sinh Sắc, một tấm gương sáng về ý chí vượt khó vươn lên trong học vấn và người thầy mẫu mực trong dạy chữ và dạy người. Năm 1895, ông đưa cả gia đình vào Kinh để tiếp tục học thi Hội. Cũng từ năm đó, vừa tự học và dạy thêm, vừa giúp vợ dệt cửi để mưu sinh, ông đã bắt đầu dạy các con học sách thánh hiền. Ông đã mua thêm sách để rèn cặp các con. Nguyễn Sinh Cung học đâu nhớ đấy, còn luôn luôn luận ra nhiều chuyện, đối chiếu với những điều mắt thấy tai nghe trái với đạo lý ở đất kinh kỳ mà hỏi cha, được cha trả lời và giảng giải cặn kẽ. Nguyễn Sinh Cung còn cùng bè bạn học thêm “chữ mới” (tên gọi chữ Quốc ngữ lúc đó). Năm 1898, Nguyễn Sinh Sắc thi Hội lần thứ hai không đỗ, ông về Dương Nỗ cách Huế 12 cây số mở lớp dạy học để chuẩn bị thi Hội lần thứ 3. Lớp học có 6 học trò thi Hương. Sinh Cung mới có 9 tuổi mà học nhanh, trí nhớ khác thường. Có lần thầy phải đi vắng 3 ngày, nên ra bài trước để trò viết và học thuộc. Hôm sau xong việc, thầy đã về. Mọi người còn đang mải viết mải học, thấy vắng Cung, thầy cho gọi về kiểm tra thì bài học đã học thuộc không sai một chữ, 15 trang viết mỗi trang 16 dòng của sách Luận ngữ cũng đã viết xong, chữ đẹp, không thiếu một dòng. Trong việc học của Cung, sự tập trung đã thành thói quen, nên các bài học, cậu thường thuộc trước và nhớ lâu.

Từ năm 1901, Nguyễn Sinh Cung được cử nhân Vương Thúc Quý dạy cậu những năm cậu trở lại làng Sen. Thầy là con độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương của huyện Nam Đàn đã hy sinh trong cuộc bao vây của giặc Pháp tại Kim Liên. Mang nặng thù nhà, nợ nước, thầy đã không ra làm quan mà ở quê mở trường dạy học và cùng Phan Bội Châu bàn mưu chống Pháp. Thầy đã từng tham gia Đội sĩ tử Cần Vương. Cũng như Phan Bội Châu, thầy Vương Thúc Quý có lòng yêu nước sâu sắc. Học trò của thầy không đông nhưng đều là những thanh niên ưu tú. Thầy không dạy theo lối sách vở, tầm chương, trích cú, mà mượn những đoạn văn tích cực để dạy cho học trò về đạo lý làm người, biết sống ích nước lợi dân, ca ngợi nghĩa khí của các bậc anh hùng đã xả thân vì nghĩa lớn và nguyền rủa quân thù cướp nước.

Năm 1906, Nguyễn Tất Thành vào học trường Quốc học. Ở đây anh được học với thầy Lê Văn Miến. Lê Văn Miến là con một vị huấn đạo yêu nước, người Nghệ An. Nổi tiếng học giỏi và có hoa tay khi học ở Huế,  ông được Pháp cử sang Paris học. Ông vào học ở Trường thuộc địa của Bộ Pháp quốc Hải ngoại. Nghe tiếng ông học xuất sắc ai cũng khâm phục. Viên Tổng trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại khi đến thăm trường đã trực tiếp hỏi Lê Văn Miến: “Anh có yêu nước Pháp không?”. Ông đã trả lời: “Với văn hóa Pháp tôi rất thích, còn việc người Pháp đi xâm lược nước khác, tôi không chịu”… Sau đó, ông còn cùng một số bạn đấu tranh chống  lại những hành động thô bạo phân biệt đối xử giữa sinh viên chính quốc với sinh viên các nước thuộc địa. Tất nhiên, sự việc đó được nhà trường báo cáo lên bộ chủ quản. Khi thầy mất năm 1943 ở Thừa Thiên, người anh của Bác Hồ, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã thay mặt cho cả em trai của mình đưa thầy về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đối với Bác Hồ thời ấy, điều có ý nghĩa là chính dưới mái trường Quốc học Huế, Người đã được thầy Lê Văn Miến dạy cho mình những điều mới mẻ về nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây và như muốn nhắc nhở học trò là phải biết phân biệt giữa cái xấu của chủ nghĩa thực dân Pháp với nền văn minh Pháp và nền văn hóa phương Tây để biết cái gì cần phải chống và điều gì cần phải học. Lê Văn Miến đã là thầy giáo đầu tiên đưa Nguyễn Tất Thành đến với nền văn hóa phương Tây.

Những bậc thầy khác tuy không trực tiếp dạy Nguyễn Tất Thành nhưng đã ảnh hưởng và tác động đến lòng yêu  nước và con đường cứu nước của anh sau này. Anh làm người “hầu trà, hầu rượu” cho những buổi tiếp khách của cha mình, cụ Phó bảng. Một trong những vị khách quý của gia đình là cụ Thượng thư Đào Tấn. Kế đến là các vị trong “Nam Đàn tứ hổ”. Ông Giải nguyên (đỗ đầu thi Hương) Phan Văn San tức Phan Bội Châu được coi là thần thơ, thường đàm đạo với ông Sắc. Cậu Cung đứng hầu trà, rất mê những lời thơ sục sôi tinh thần ái quốc của ông và nhớ mãi câu mà ông Giải San hay ngâm: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch/Lập thân tối hạ thị văn chương”. Dịch nghĩa: “Mỗi bữa không quên ghi sử sách/ Lập thân hèn nhất ấy văn chương”, ý muốn khuyên các sĩ phu và lớp trẻ từ bỏ con đường thi cử lỗi thời để lo việc cứu nước. Điều làm cho cả cha con Nguyễn Sinh Sắc suy nghĩ đến tâm đắc là nhiều lần bàn về việc học, Tiến sĩ Nguyễn Quý Song thường nói: “Bây giờ chúng mình muốn đánh được Tây thì phải hiểu người Tây, nên phải học tiếng Tây”. Những sự chỉ vẽ của thầy học và các bậc cha, chú về truyền thống chống giặc giữ nước của dân tộc làm cho Nguyễn Tất Thành bồi hồi xúc động, anh quyết tìm hiểu sâu hơn những vấn đề này [theo 5].

Còn biết bao thầy giáo khác nữa mà cụ Phó bảng đã mời về dạy con mình. Cụ mời toàn những người có nhân cách, có tâm, có tài. Họ là những người yêu nước, thương dân. Và cũng chính họ cùng cụ Phó bảng rèn đúc nên nhân cách Nguyễn Tất Thành.

7. Có lẽ tư tưởng Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc trong con người của Nguyễn Sinh Sắc. Chính trong thời gian cụ đi khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ để khám và chữa bệnh cụ đều dừng chân ở các ngôi chùa. Nhiều nhà nghiên cứu đều thừa nhận điều này. Chẳng hạn nhà nghiên cứu Trần Nhu viết: “Những nơi ông trú ngụ và khám chữa bệnh là ngôi chùa” [9; tr.215]. Khi cụ viết thư về quê cho người cháu và những người thân thuộc của mình cụ bày tỏ thấm đẫm triết lý của đạo Phật:

“Thúc Phụ phó bảng Nguyễn Thị, Nguyễn Sinh Lý Thư.
Nhơn sanh nhược đại mộng,
Thế sự như phù vân
Uy thế bất túc thị
Xảo hiểm đồ tự hại
Giới chi! Giới chi!”

Tạm dịch: Thư chú Nguyễn Sinh Sắc gửi cháu Nguyễn Sinh Lý

Đời người thư giấc mộng lớn,
Thế sự như đám mây bay,
Quyền lực không đủ để dựa,
Gian xảo là tự hại mình,
Răn thay! Răn thay!

Cụ Phó bảng cho rằng: “Đời người như giấc mộng lớn, Thế sự như đám mây bay” là để nói cái hữu hạn của kiếp người trước cái vô hạn của trời đất. Cho nên quyền lực không đủ để dựa, để cứu nguy cho sự gian xảo. Trong suốt cuộc đời mình, nhất là những năm cuối đời, cụ hướng lòng mình về nơi đất Phật. Nhà nghiên cứu Huệ Thông đã có nhận xét về cụ thật sâu sắc: “Cụ Sắc trong suốt thời gian hoạt động truyền bá tư tưởng yêu nước, theo quan điểm của cụ là dựa vào đạo Phật trong các buổi thuyết giảng đạo pháp. Muốn làm được điều này, cụ phải nghiên cứu Phật học, thâm nhập kinh điển và cả việc tu tập mới có đủ nội lực cho việc dùng đạo Phật để truyền bá yêu nước. Cụ thể là cụ thường đến các ngôi chùa để nghiên cứu Tam Tạng kinh điển, đàm đạo với hầu hết các bậc danh tăng đương thời, đặc biệt là những danh tăng có tư tưởng nhập thế. Tất cả những cuộc đàm đạo, trao đổi học Phật của cụ đều được các bậc cao tăng nhận xét đánh giá trình độ học Phật uyên thâm của cụ. Nhưng ở đây, chúng ta thấy rất rõ tinh thần và tư tưởng của cụ Sắc hoàn toàn mang âm hưởng của đạo Phật ngay cả phong cách sống của cụ cũng chịu ảnh hưởng đạo Phật. Tình cảm đó đã theo cụ cho đến cuối cuộc đời khi biết mình không còn sống bao lâu nữa. Cụ khuyên những người thân sống bên cụ hãy gấp rút chèo xuồng đưa cụ về chùa Hòa Long, Cụ nói: Tôi biết mình không còn sống bao lâu nữa, nếu có chết trong chùa là một điều tốt cho tôi.

Qua tư tưởng và cuộc đời của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã cho chúng ta thấy rõ cụ là con người của tinh thần yêu nước, thương dân, biết xả thân cho đại nghĩa, lấy quốc gia làm trọng. Một nhà học Phật uyên thâm, một tín đồ đạo Phật, một nhà tư tưởng nhập thế tích cực của Phật giáo.

Cụ là tấm gương, là vì sao sáng, soi đường cho hậu thế” [11].

Cụ Phó bảng có để lại một tập thơ, ghi lại những năm tháng trên đất lục tỉnh. Chỉ tiếc rằng tập thơ nay đã bị thất lạc.

Tóm lại, nhân cách của cụ Phó bảng thật chói sáng. Đó là hiện thân của lòng yêu nước, thương người. Đó cũng là tiết tháo của một nhà nho đức độ, từ buổi cha sinh mẹ đẻ cho đến cuối đời lúc nào cũng vì nước, vì dân. Nhà nho có phẩm chất sáng ngời ấy đã sinh ra cho đất nước một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất là Hồ Chí Minh. Nhà nho có phẩm chất ngời sáng ấy đã góp phần làm nên nhân cách Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh.

PGS. TS Lê Tiến Dũng
(Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 381

___________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bách khoa toàn thư mở, Wikipedia (2015), Nguyễn Sinh Sắc, tra ngày 10-11-2015.
2. Lê Tiến Dũng (2004), Nhật ký trong tù, vẻ đẹp của một tâm hồn lớn, in trong sách Giờ văn ngoài lớp, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
3. Lê Tiến Dũng (2012), Nghiên cứu, giảng dạy thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nxb. Thời đại, 2012.
4. Bùi Thị Thu Hà (1993), Kể chuyện cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
5. Vũ Kiên (2007), Các bậc thầy và việc học của Bác Hồ thời nhỏ tuổi, http://thethao60s.com/index/777760/14112007.aspx#Cd7gsWkZkXkVGsOi.99, đăng ngày 14/11/2007.
6. Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên), (2008), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Đinh Xuân Lâm – Trương Hữu Quýnh (2000), Mục từ Nguyễn Sinh Sắc, in trong sách Từ điển nhân vật lịch sử VN, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
8. Nhiều tác giả (1990), Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Sở Văn hóa – Thông tin Đồng Tháp xuất bản tháng 3.
9. Trần Nhu (2015), Nguyễn Sinh Sắc, cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn, Nxb. Văn học, TP.HCM.
10. Trần Dân Tiên (2005), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Trẻ – Nxb. Chính trị Quốc gia, TP.HCM
11. Huệ Thông (2012), Nguyễn Sinh Sắc, một tín đồ Phật giáo, một nhà Phật học uyên thâm, www.sugia.vn/portfolio/detail/790/nguyen-sinh-sac-mot-tin-do-phat, Hội Khoa học lịch sử Bình Dương, 26/7/2012.

Ý Kiến bạn đọc