Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhân đọc bài “Vị trạng nguyên đầu tiên” – Ai là vị trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam?

Tuần báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 417 có đăng bài “Vị trạng nguyên đầu tiên” của tác giả Trần Thanh Chương. Tôi hoàn toàn đồng tình với nội dung bài viết này và nhân đây thử bàn về việc ai là trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam. Đầu tiên ở đây hiểu là tính từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075) đời Lý Nhân Tông.

Hiện nay, ai là trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và mỗi sách viết mỗi kiểu. Có nguồn nói đó là Lê Văn Thịnh, có nguồn nói Nguyễn Quan Quang, có nguồn nói Nguyễn Hiền. Trong bài viết nêu trên, tác giả Trần Thanh Chương cũng cho rằng đó là Nguyễn Hiền. Người viết bài này cũng đồng quan điểm với tác giả Trần Thanh Chương. Tuy nhiên, hiện nay đa phần sách vở, tài liệu và đặc biệt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Nguyễn Quan Quang được xếp là vị trạng nguyên đầu tiên.

Bài viết này chỉ là đặt vấn đề về giả thiết từ các nguồn tài liệu với mong muốn các nhà khoa học sẽ tiếp tục nghiên cứu và đánh giá.

1. Cuốn sách Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995, do Trần Độ chủ biên, 1989; trong danh sách trạng nguyên có 56 vị. Người đầu tiên trong danh sách này là Lê Văn Thịnh. Người cuối cùng là Trịnh Huệ. Nguyễn Quan Quang đứng thứ 6. Nhưng lại ghi là “Người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc). Đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Ngọ (1234). Làm quan đến chức Bộc xạ, tặng hàm Đại Tư không” (tr.208). Không biết các tác giả sách này lấy tư liệu này từ đâu nhưng tác phẩm nổi tiếng và có uy tín nhất viết về khoa cử Việt Nam thời phong kiến hiện nay được giới nghiên cứu xem là tài liệu chính để trích dẫn về nội dung này là Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục do Nguyễn Hoàn, Uông Sỹ Lãng, Phan Trọng Phiên, Vũ Miên biên soạn và sau đó đã được ấn hành và lưu tại Văn Miếu Quốc Tử Giám vào tháng 3 năm Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 triều vua Lê Hiển Tông. Bản dịch của Tạ Thúc Khải do Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1963 (2 quyển 1 và 2) chép rằng: “Triều Trần năm Nhâm Thìn, niên hiệu Kiến Trung thứ 8 (1232), tháng 2 thi Thái học sanh (bắt đầu chia làm 3 giáp)” (tr.13). Trong danh sách đỗ khoa này, cuốn sách đề cập đến những người đỗ, đó là: Đệ nhất giáp trúng 2 người là Trương Hanh và Lưu Diệm. Đệ nhị giáp trúng 2 người là Đặng Diễn, Trịnh Phú. Đệ tam giáp trúng 1 người là Trần Châu Tao (tr.13). Trong danh sách liệt kê không thấy có tên Nguyễn Quan Quang.

Anh-minh-hoa---Ai-la-vi-trang-nguyen-dau-tien-cua-Viet-Nam---Anh-2

2. Tác giả Trần Hồng Đức trong sách Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa do Nxb. Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 1999 xếp trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang “Đỗ Trạng nguyên khoa Đại tỉ thủ sĩ năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15 (1246) đời Trần Thái Tông” (tr.29).

3. Tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 do Nxb. Văn học ấn hành năm 2006 viết rằng khoa thi Nho học đầu tiên của triều Trần tổ chức vào năm Kiến Trung 8 (1232) đời vua Trần Thái Tông. Cũng theo sách này, kể từ năm này, triều đình bắt đầu định lệ người trúng tuyển làm Tam giáp (tức 3 hạng): “Thi Thái học sinh là tên gọi chính thức của thi đại khoa đời Trần, mặc dầu trong sử sách cũng có ghi là “Đại tỉ thủ sĩ” (khoa thi lớn chọn học trò)” (tr.7).

Cũng trong sách này, tác giả viết: “Khoa Đinh Mùi niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình (1247) (tức năm thứ 16 đời Trần Thái Tông – NV) bắt đầu đặt danh hiệu Tam khôi để chỉ 3 người xuất sắc nhất trong số những người thi đỗ, theo thứ bậc cao thấp là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa – riêng về Thám hoa, thuật ngữ đầy đủ trong chính sử là “Thám hoa lang” (tr.7).

Tuy nhiên, cũng trong cuốn sách này, các tác giả lại ghi: “Nguyễn Quan Quang, người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đỗ Trạng nguyên khoa thi Đại tỉ thủ sĩ năm Bính Ngọ niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình 15 (1246) đời Trần Thái Tông. Làm quan đến chức Bộc xạ. Khi mất được tặng hàm Đại Tư không” (tr.50).

Có điều lạ là cũng chính cuốn sách này như đã nêu trên, ở trang 50 các tác giả chép trạng nguyên là Nguyễn Quan Quang nhưng ở trang 40 trước đó, các tác giả lại chép Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên khoa thi năm 1247. Ở trang 7 sách này chép là từ năm 1247 mới đặt Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Vậy người đỗ năm 1246 đâu đã đạt các danh vị này thì làm sao nói Nguyễn Quan Quang đỗ trạng nguyên.

Nếu quả thực Nguyễn Quan Quang đỗ năm 1246 thì tại sao các tác giả của sách này lại không đưa tên ông lên trước tên Nguyễn Hiền (Nguyễn Quan Quang chép ở trang 50, Nguyễn Hiền ở trang 40). Không chỉ vậy, không những tên ông để sau tên Nguyễn Hiền mà còn để sau rất xa, sau những người đỗ các khoa: 1247, 1256, 1266, 1275, 1304, 1374, 1384, 1393.

Điều này chỉ có thể giải thích là các tác giả của sách này đã căn cứ Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục bởi trong sách này, không hiểu vì lý do gì các tác giả lại chép phụ lục. Trong phần phụ lục về triều Trần ở trang 23 ghi: “Đời vua Thái Tông hoàng đế năm Đinh Vị (tức năm Đinh Mùi – NV) Thiên Ứng Chánh Bình thứ 12 (1247) mở khoa thi Thông Tam giáo” (tr.23).

Cũng ở trang 23, sách này ghi: “Năm Bính Tuất, niên hiệu Thiên Ứng Chánh Bình thứ 15, tháng 7, mở đại khoa chọn nhân tài, Trạng nguyên: Nguyễn Quan Quang, người hạt Đông Ngạn (chắc là “Ngàn” – sách chép sai – NV), làng Tam Sơn. Làm đến chức Bộc xạ. Được tặng chức Đại Tư không”.

Một câu hỏi đặt ra là vì sao cuốn sách này đã được in từ đời Cảnh Hưng mà các tác giả không viết luôn trong phần chính yếu của sách mà lại đưa xuống phần phụ lục?

Ngoài ra, trong cuốn sách này – Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục – chính các tác giả cũng đã khẳng định năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời Trần Thái Tông (1247) mới định tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Vậy thì tại sao năm 1246 lại có Trạng nguyên? Đó là chưa kể trong sách này, không hiểu các tác giả đã nhầm lẫn ở đâu khi cho rằng năm Đinh Vị thứ 12 (1247). Trong thực tế, nếu là năm Đinh Vị (1247) chắc chắn phải là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời Trần Thái Tông (1247), bởi Trần Thái Tông lên ngôi năm 1226 và đặt niên hiệu này nên năm 1247 phải là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời Trần Thái Tông chứ không thể là năm thứ 12 được.

Đã có sự nhầm lẫn “chết người” ở đây, vậy ai dám chắc các tác giả không nhầm lẫn chỗ khác?!

Sách này cũng chép: “Triều Trần, đời vua Thái Tông Hoàng đế năm Đinh Vị niên hiệu Thiên Ứng Chánh Bình thứ 12 (1247) mở khoa thi Thông Tam giáo” (tr.23). “Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 8 (1239), tháng 2, thi Thái học sanh” (tr.14). “Năm Đinh Vị, Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) tháng 2, mở đại khoa lấy Thái học sanh 40 vị (trúng Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa: 3 vị; trúng hoàng giáp trở xuống 37 vị. Trước kia hai khóa Nhâm Thìn và Kỷ Hợi trúng tuyển chỉ chia giáp và ất. Đến đây mới cho trúng tuyển Tam khôi” (tr.14). Như vậy, cũng chính các tác giả của sách này xác nhận từ khoa thi này mới chính thức lấy Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.

Anh-minh-hoa---Ai-la-vi-trang-nguyen-dau-tien-cua-Viet-Nam---Anh-1

4. Kể từ năm 1397, tức cuối triều Trần, triều đình mới tổ chức thi hương. Sau khoa thi năm 1397, khoa thi gần nhất chính là khoa thi Thái học sinh năm Canh Thìn niên hiệu Thánh Nguyên 1 (1400) đời Hồ Quý Ly. Kể từ khoa thi này trở về sau, những người đỗ thi hương mới được vào thi hội. Còn nhà Trần, người vào thi hội không cần phải đỗ ở kỳ thi hương (vì chưa có quy định). Nhìn lại lịch sử triều Trần nhận thấy trong suốt 147 năm tồn tại của triều đại này (1226-1400), triều Trần tổ chức tất cả 13 khoa thi (không tính các khoa thi Tam giáo). 13 khoa thi đó được các tác giả sách này xếp tuần tự như sau: (1). 1232; (2). 1239; (3). 1247 (năm này còn có khoa thi Tam giáo lấy đỗ: Ngô Tần, Đào Diễn, Hoàng Hoan, Vũ Vị Phủ); (4). 1256; (5). 1266; (6). 1275; (7). 1304; (8). 1374; (9). 1384; (10). 1393 (tiếp theo khoa thi này sách chép khoa thi Tam giáo 1247); (11). 1246; (12). 1274 (khoa này các tác giả ghi lấy đỗ chỉ có Lý Đạo Tái, tức Huyền Quang. Sách Đỉnh Khiết lịch triều đăng khoa lục không chép tuần tự mà chép ở phần phụ lục. Trang 24 sách này ghi: Năm Giáp Tuất, niên hiệu Bửu Phù thứ 2 (1274) mở đại khoa. Lý Đạo Tái, người hạt Gia Định, làng Vạn Tư, thi đỗ năm 21 tuổi, sau từ chức lên chùa tu, hiệu là Huyền Quang”; (13). 1364.

Nhìn vào cách sắp xếp của từng khoa thi, nhận thấy các khoa thi đã không được sắp theo lịch đại mà sắp một cách không tuần tự. Đang chép khoa thi 1393 thì tiếp theo lại là khoa thi 1246 và đến 1274 và cuối cùng là khoa thi năm 1364. Trong khi đó khoa thi cuối cùng do nhà Trần tổ chức theo sách này là năm 1393. Câu hỏi đặt ra là không hiểu sao các tác giả lại không sắp xếp chép các khoa thi một cách tuần tự?

Nhìn vào thời gian tổ chức các khoa thi, có thể thấy thời gian cách nhau giữa 2 khoa thi thường rất xa nhau. Từ khoa thi năm 1232 đến 1239 cách nhau 7 năm. Cá biệt, có những khoa thi trước và sau cách nhau với khoảng thời gian rất dài. Thế nhưng, cũng có giai đoạn thời gian tổ chức các khoa thi rất gần nhau, đó là: Một là, khoa thi 1246 và 2 khoa thi năm 1247 (tức 3 kỳ thi trong 2 năm, trong đó 2 kỳ thi đình và 1 khoa thi Tam giáo). Hai là, 2 khoa thi liên tiếp trong 2 năm 1274 và 1275. Đây là một dấu hỏi lớn nhất vì rất khó để 2 năm tổ chức 2 và 3 kỳ thi liên tiếp. Nếu là sự thực thì đây quả là một kỷ lục của khoa cử Việt Nam và cũng là chuyện trước và sau không có. Để tổ chức một kỳ thi đình là điều không đơn giản. Cứ cho là trong 3 kỳ thi của 2 năm 1246 và 1247, khi ấy triều Trần bước vào thời kỳ cực thịnh sau hơn 20 năm tiếp quản ngôi vua từ nhà Lý (1266), nhưng tại sao lại chỉ có 2 năm này và mãi đến 1274, 1275 mới lặp lại. Từ 1247, mãi 9 năm sau, đến năm 1256 triều đình mới lại tổ chức kỳ thi tiếp theo.

5. Khâm định Việt Sử Thông giám Cương mục – chính biên, quyển VI chép các sự kiện liên quan như sau:

Tháng 2/1232, thi Thái học sinh “Trước kia, nhà Lý kén chọn học trò chưa phân ra cấp bậc. Nay mới định người đỗ cao đỗ thấp theo cấp bậc tam giáp. Khoa ấy lấy Trương Hanh, Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp. Nhưng phép tuyển cử cũng chưa được tường tận” (tr.194).

“Tháng 7 năm 1246 định niên hạn thi “Tháng 7, mùa thu. Mới định niên hạn thi Đại tị. Bấy giờ thi Đại tị chưa định niên hạn, nay chuẩn định 7 năm một lần thi. Việc định niên hạn về khoa thi bắt đầu từ đấy” (tr.202-203).

Trang 203 sách này ở phần chú thích cho rằng “Theo sách Chu Lễ, những người giữ chức khanh, đại phu, cứ 3 năm một lần đại tị, để xét về đức hạnh, đạo nghệ, người nào hiền tài thì được cất nhắc. Đời sau gọi khoa thi hương ở các tỉnh là “Đại tị”. Cũng ở trang này, sách cho biết năm Đinh Mùi, năm 16 (1247) “tháng 2, mùa xuân, thi Thái học sinh. Trước đây, thi lấy học trò đỗ, chỉ chia ra hạng giáp, hạng ất để phân biệt người đỗ cao đỗ thấp. Nay mới đặt ra Tam khôi, lấy Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa”.

Như vậy, chính Khâm định Việt Sử Thông giám Cương mục cũng khẳng định rõ là những người đỗ các khoa thi trước đó chỉ phân cao thấp chứ chưa đặt Tam khôi.

Trang 203 cũng chép thêm và cho biết tháng 8, mùa thu thi Tam giáo: “Trước đây những nhà theo Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo có con nối được nghiệp nhà đều cho vào thi. Nay lại thi những người thông hiểu cả các khoa về ba tôn giáo. Khoa thi này cũng định ra bậc “giáp” và bậc “ất” để phân biệt người đỗ cao, đỗ thấp. Năm ấy, lấy Tô Tần đỗ giáp khoa, Đào Diễn, Hoàng Hoan, Vũ Vị Phủ đỗ ất khoa”.

Vũ Vị Phủ trong Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục được ghi là Võ Vị Phụ. Ba người này được các tác giả của sách đưa vào phần phụ lục ở trang 22. Đây là 3 người đỗ khoa thi tam giáo nên có thể hiểu các tác giả đưa vào phần phụ lục là có lý.

Chẳng lẽ Nguyễn Quan Quang đỗ một khoa thi nào đó chăng? Hay ông đỗ Kinh trạng nguyên, hoặc Trại trạng nguyên khoa nào đó chăng? Nhưng mãi khoa thi năm 1256, triều Trần mới lấy đỗ Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên.

Thế nhưng, cũng ngay trong sách này, phần phụ lục cũng ở trang 22 lại có cả tên Nguyễn Quan Quang. Điều lạ là sách lại chép: “Thiên Ứng Chánh Bình thứ 15, tháng 7, mở đại khoa chọn nhân tài. Trạng nguyên: I. Nguyễn Quan Quang”.

Vậy có phải chính các tác giả đã tự mâu thuẫn với mình trong cùng một cuốn sách hay không bởi ngay trang 14, chính các tác giả cho rằng đến năm 1247 mới đặt lệ Tam khôi. Vậy tại sao lại cho người đỗ năm 1246 là Trạng nguyên được trong khi danh vị này khi ấy chưa được đặt?

Ngoài ra, còn một điểm đáng chú ý nữa là sách Khâm định Việt Sử Thông giám Cương mục không thấy chép sự kiện Nguyễn Quan Quang.

6. Đại Việt sử ký toàn thư cũng không chép về Nguyễn Quan Quang. Sách này chỉ chép: “Mùa thu, tháng 7, định lệ thi tiến sĩ, cứ 7 năm một khoa” (Nxb. Thời Đại, năm 2011, tr.277).

Thế nhưng, sách này lại chép rất kỹ 2 khoa thi của năm 1247, đó là: “Đinh Mùi, năm thứ 16 (1247) (Tống Thuần Hựu năm thứ 7). Mùa xuân, tháng 2, mở khoa thi chọn học trò. Cho Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa; lấy đỗ thái học sinh 48 người, cho xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Trước đây, hai khoa Nhâm Thìn (1232) và Kỷ Hợi (1239) chỉ chia làm giáp ất, chưa có tên tam khôi, đến đây mới đặt (…) Mùa thu, tháng 8, thi các khoa thông tam giáo, Ngô Tần (Tần người Trà Lộ) đỗ giáp khoa, Đào Diễn, Hoàng Hoan (đều người Thanh Hóa), Vũ Vị Phủ (người châu Hồng) đỗ ất khoa” (tr.278).

Lạ chưa?

Điều này thì Đại Việt sử ký toàn thư và Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục chép giống nhau. Chỉ có điều, như đã nêu trên, trong sách Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục đưa sự kiện Nguyễn Quan Quang xuống phần phụ lục ở trang 22.

Đôi điều tạm kết

Kẻ hậu sinh cúi đầu bái tạ Ngài và kính mong đức Ngài tha tội, bởi con cháu đời sau không có ý gì khác, chỉ mong “cảo thơm lần giở” để gắng làm sáng tỏ phần nào những góc khuất, trả về cho lịch sử giá trị chân thực vốn có của nó. Đức Ngài linh thiêng chắc hẳn cũng vui mừng mong muốn và mách bảo cho hậu sinh điều này.

1. Nguyễn Quan Quang chắc chắn đỗ đầu một kỳ thi nào đó. Thứ nữa, chắc hẳn Ngài là người đặc biệt tài năng và đạo hạnh nên dân gian mới mãi mãi không ngớt truyền và tụng ca ngài cả gần 800 năm qua. Đó là điều chắc chắn bởi người dân và lịch sử rất công bằng.

2. Nhưng, có một điều chắc chắn, Ngài không phải là Trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam bởi tất cả các sách sử có uy tín của Việt Nam đều cho biết phải tới năm 1247 mới định lệ Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, mà người đỗ đầu kỳ thi này là Nguyễn Hiền.

3. Về khoa thi năm 1246 chưa hẳn đã có thật mà có thể sách sử xưa chép lầm. Nếu vậy, Nguyễn Quan Quang đỗ đầu nhưng là đỗ đầu ở một kỳ thi năm khác chứ không phải năm 1246.

Theo sách Văn hóa Việt Nam tổng hợp ở đầu bài viết thì ông đỗ năm 1234. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt mục từ “danh sách Trạng nguyên Việt Nam” cũng chép ông đỗ đầu năm 1234.

Năm 1234 là năm Giáp Ngọ. Cả Đại Việt sử ký toàn thư và Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục đều không chép có khoa thi này mà chỉ chép trước khoa thi năm 1247 có 2 khoa thi diễn ra vào các năm Nhâm Thìn (1232) và Kỷ Hợi (1239) (riêng Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục chép khoa 1246 ở phần
phụ lục).

Như vậy, khả năng Nguyễn Quan Quang đỗ đầu kỳ thi năm 1232 là có cơ sở chứ không chắc có phải là năm 1234.

4. Đúng là đến năm 1247 mới có danh vị Trạng nguyên. Vì vậy thiết nghĩ Lê Văn Thịnh đỗ đầu khoa thi năm 1075 sẽ được gọi là thủ khoa. Khoa thi này là khoa thi đầu tiên nên Lê Văn Thịnh được gọi là thủ khoa khai khoa của nền khoa bảng nước nhà.

Trạng nguyên thực ra là một cái tên do triều đình đặt ra để gọi người đỗ đầu trong kỳ thi đình. Bảng nhãn để gọi người đỗ thứ 2 và Thám hoa để gọi người đỗ thứ 3. Vì vậy, mặc dù trước năm 1247 chưa đặt các danh vị này nhưng có lẽ các cơ quan nghiên cứu sử học, văn hóa học cần thống nhất lại về vấn đề này.

Theo tác giả bài viết này, tất cả những người đỗ đầu các khoa thi Nho học, tức đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh đều nên được gọi là Trạng nguyên (tất nhiên, trừ nhà Nguyễn không lấy đỗ hạng này và có khoa thi chỉ lấy đỗ từ bậc đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh hoặc dưới đó trở xuống). Như vậy, đương nhiên Lê Văn Thịnh sẽ là Trạng nguyên đầu tiên và Nguyễn Quan Quang cũng là Trạng nguyên.

Đây là một vấn đề đã gần 800 năm và nguồn sử liệu của Việt Nam vốn bị tiêu hủy, thất lạc nhiều qua các cuộc chiến tranh nên không thể một sớm một chiều có thể giải quyết ngay được. Tác giả mong muốn khơi gợi một vài ý kiến nhỏ để giới khoa học và những ai quan tâm đến vấn đề này tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.

Vũ Trung Kiên
(Học viện Chính trị khu vực 2)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 422

Ý Kiến bạn đọc