Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nhàn đàm về Dậu-Kê-Gà

Năm nay thuộc về Đinh Dậu 丁酉, nhằm năm thứ 34 trong chu kỳ 60 năm của hệ thống Can Chi, tức năm kết hợp giữa thiên can Đinh (Hỏa âm) và địa chi Dậu (tương ứng với con gà).

Xét về từ nguyên, Dậu 酉 có nghĩa gốc là chiếc bình, đây là từ tạo ra chữ tửu 酒 (cổ). Trong chữ viết của Trung Quốc, chữ Dậu có nhiều thay đổi theo thời gian như: (giáp cốt văn), (kim văn), (tiểu triện) và (khải thư)… Ngoài ra, còn nhiều hình thức chữ Dậu khác.

Tính theo Địa chi, Dậu đứng hàng thứ 10 trong 12 chi. Về phương hướng thì Dậu thuộc hướng Tây (270°); còn xét về thời gian thì Dậu thuộc mùa thu, nhằm tháng 8 Âm lịch, tương ứng với 5 đến 7 giờ chiều (lúc gà bắt đầu vào chuồng). Theo Ngũ hành thì Dậu thuộc hành Kim, theo thuyết Âm-Dương thì Dậu là Âm.

Trong Hán ngữ, có nhiều chữ kê với cách viết và nghĩa khác nhau, trong đó có chữ kê 雞 nghĩa là con gà. Chữ này có nhiều cách viết bằng chữ tượng hình, phần lớn đều miêu tả đầu con gà ở phía trên của chữ như (giáp cốt văn) hay(kim văn)… Trong Thuyết văn giải tự có 2 chữ viết theo lối Triện nhìn thấy rõ đầu con gà là và . Nhìn chung, chữ kê 雞 gồm hai phần, với thanh phù bên trái là hề 奚, nghĩa phù bên phải là chuy 3 (một loài chim đuôi ngắn, còn gọi là điểu chuy 鳥隹), nghĩa gốc là “con gà” giống như ngày nay.

Chúng ta biết rằng gà trống gọi là công kê 公雞, gà mái là mẫu kê 母雞, tuy nhiên đối với gà con người ta không gọi là kê, mà gọi là sồ 雛: Mẫu kê phu noãn, sổ nhật thành sồ 母雞孵卵, 數日成雛 (Gà mẹ ấp trứng, vài ngày nở thành gà con).

Trong chữ Nôm, không có chữ kê nào nghĩa là con gà. Ông bà ta đã sáng tạo ra chữ 鵸 để chỉ con gà, ngoài ra còn mượn chữ Y 猗 trong Hán ngữ để làm thành chữ gà 猗; riêng về chữ Dậu thì lại mượn nguyên xi chữ Dậu 酉 trong Hán ngữ để chỉ giờ Dậu, tuổi Dậu hay năm Dậu…

Anh-minh-hoa---Nha-dam-ve-Dau-Ke-Ga---Anh-1

Truyền thuyết

Vì sao gà gáy thì bình minh ló dạng? Theo truyền thuyết Kim kê khiếu thái dương 金鸡叫太阳 (Kim kê gọi mặt trời) của dân tộc Xa 畲 ở tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), ngày xưa có 10 mặt trời trên không trung, Hậu Nghệ dùng cung bắn rơi 9 mặt trời xuống đất, biến thành heo, chó, vịt, ngỗng, mèo và có một mặt trời biến thành gà trống. Người Xa kính trọng gọi con gà này là Kim kê 金鸡. Kim kê nhớ mặt trời nên dặn rằng khi nào cất tiếng gáy thì mặt trời hãy xuất hiện để hai bên gặp nhau.

Người Xa còn gọi Kim kê là Thần kê 神鸡. Họ thường vẽ tranh gà trống treo bên trái cửa chính để Thần kê giữ nhà, báo cát tường đại lợi. Tranh đó họ gọi là Báo hiểu cát tường kê 报晓吉祥鸡 (Xin lưu ý: ở Trung Quốc có một loài chim giống như chim trĩ, lưng và đuôi lông vàng rất đẹp gọi là cẩm kê 錦雞, ngoài ra chúng còn tên khác là kim kê 金雞).

Vào ngày Tết Nguyên đán ở Trung Quốc, theo truyền thống, người dân dán một vị thần khoác áo giáp, cầm cây búa lên cửa (gọi là Môn thần 门神). Ngoài ra, họ có thể treo tranh Thần kê 神鸡 phía trên Môn thần hoặc vẽ hình con gà lên cửa hay giết gà, lấy huyết bôi lên cửa để bách quỷ sợ hãi.

Hội họa

Về tranh Tết, phổ biến nhất là dòng tranh Đông Hồ với những mô típ quen thuộc: gà và hoa cúc (tượng trưng cho sự no ấm, đầy đủ, ngập tràn niềm vui…); tranh gà trống oai phong lẫm liệt với câu Dạ xướng ngũ canh hòa 夜唱五更和, có nghĩa là “Đêm gà gáy năm canh”, ý nói về chữ tín, không bao giờ sai lời; tranh hai chú gà trống với câu Ngũ phúc lâm môn 五福臨門 nhằm mong ước “Năm điều phước đến nhà”…

Ngoài ra, cần chú ý những câu chơi chữ bằng Hán ngữ: Tam dương khai thái 三陽開泰 không nói về 3 con dê, nó có nghĩa là “Tháng Giêng mở đầu cho mọi việc suôn sẻ suốt cả năm”. Do chữ kê 雞 phát âm là jī, đồng âm với chữ cát 吉(jí) là tốt lành, nên tranh vẽ mẫu đơn với con gà mang ý nghĩa là “phú quý cát tường” 富貴吉祥. Trong tranh Đám cưới chuột, có 2 con chuột dâng lễ vật là gà và cá. Gà thì có ý nghĩa cát tường như đã nói; còn ngư 鱼 (yú) đồng âm với dư 余 (yú), mang hàm ý chúc bốn mùa tốt lành, quanh năm dư dả.

Thuật bói, quẻ xâm và sấm

Ngày xưa, người ta thường bói toán bằng chân gà, dựa vào quyển Chiêm kê túc pháp (占雞足法), Chiêm kê đầu kê túc pháp (占雞頭雞足法) hay Chiêm kê túc các sự cát hung (占鷄足各事吉凶); còn khi muốn coi quẻ xâm thì dựa vào bộ 100 quẻ xâm bà gọi là Thánh mẫu linh thiêm (聖母靈籤), trong đó có 3 quẻ liên quan tới gà:

- Quẻ 47: có câu Hạc nhập kê quần / Thời vận vị hứa (鶴入雞羣, 時運未許), nghĩa là “Hạc chen giữa bầy gà / Vận thời chưa gặp may”. Quẻ xâm này thuộc hành mộc, nói về Tô Đông Pha đi thuyền gặp con ông chèo đò, trổ tài đối đáp lanh lợi, chẳng khác nào như hạc đứng giữa bầy gà. Người xin được quẻ xâm này suốt bốn mùa đều trung bình, cần phải chờ đợi, về sau mới nên việc.

- Quẻ 60: có câu Trực đãi nhất thanh kê báo hiểu (直待一聲雞報曉), nghĩa là “Chờ lúc gà đêm rền tiếng gáy”. Đây là quẻ xâm thuộc hành thủy, nói về Hàn Dũ bị đày đi nhậm chức ở Triều Châu. Người xin được quẻ xâm này, trước gặp hiểm nguy về sau vinh quang, nếu tạo thêm phước thì mọi việc đều tốt.

- Quẻ 67: có câu Quá tận hoàng kê bạch đại hương (過盡黃雞白大鄉): Quẻ này thuộc hành thổ, bàn về chuyện Mã Viện đem quân đánh nước Nam. Người (TQ) xin được quẻ xâm này, trước cực khổ sau mới thành công (cần phải chịu cực làm ăn, không nên nóng vội, về sau mới vinh hoa phú quí).

Anh-minh-hoa---Nha-dam-ve-Dau-Ke-Ga---Anh-2

Sấm Trạng Trình của ta cũng có câu nói về gà: Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc (雞盟玉受天傾北), nghĩa là “Khi gà gáy thì cây ngọc sinh ra, trời nghiêng mé Bắc”.

Võ thuật

Theo cổ thư Trung Quốc, những tư thế mô phỏng điệu bộ của loài vật được gọi chung là Bách thú vũ, những động tác này kết hợp với kỹ thuật chiến đấu thành một môn võ thuật là Hình tượng quyền. Gà nằm trong Thập đại hình tượng của phái Thiếu Lâm, điều này cho thấy “võ gà” cũng thật đáng gờm. Ở Việt Nam thì có bài Hùng kê quyền (雄雞拳), tương truyền do Đông Định Vương Nguyễn Lữ sáng tác từ việc mô phỏng cách chiến đấu của hai con gà chọi. Hiện nay hệ phái Bình Định Sa Long Cương vẫn còn lưu truyền bài quyền này.

Thành ngữ và tục ngữ

- Nguyệt nhương nhất kê (月攘一鸡): nói về một kẻ trộm gà bị bắt đánh đòn nhừ tử, người ta khuyên bỏ trộm cắp, hắn hứa sẽ bỏ dần, mỗi tháng chỉ ăn trộm một con gà (nguyệt nhương nhất kê) rồi sẽ từ từ bỏ hẳn. Ý thành ngữ này ví với “việc không kịp thời sửa chữa sai lầm”.

- Tẫn kê tư thần (牝鸡司晨): nghĩa là gà mái gáy vào sáng sớm giống như gà trống, ý nói việc của đàn ông mà phụ nữ làm thay. Ta thấy còn những câu tương tự như Tẫn kê thần minh (牝鸡晨鸣 – gà mái gáy sáng) hay Tẫn kê tư đán (牝鸡司旦 – gà mái báo sáng). Ngày xưa, những câu này được hiểu là điềm gở, là đàn bà làm loạn chính sự.

- Kê khuyển thăng thiên (鸡犬升天) là “gà chó lên trời”. Theo truyền thuyết, sau khi tu luyện thành tiên Hoài Nam Vương Lưu An đã rải tiên đơn ngoài sân cho gà chó ăn. Lũ gia súc này ăn xong đều bay lên trời. Về sau thành ngữ “gà chó lên trời” nhằm nói đến “một người làm quan cả họ được nhờ”.

- Cát kê yên dụng ngưu đao (割鸡焉用牛刀): câu này có nguồn gốc từ sách Luận ngữ, do Khổng Tử nói với học trò Tử Du, có nghĩa là “giết gà hà tất dùng dao mổ trâu”.

- Hoàng thử lang cấp kê bái niên, một an hảo tâm (黄鼠狼给鸡拜年, 没安好心): Chồn cáo chúc Tết gà, rắp tâm ăn gỏi, giả bộ thân thiện để thực hiện mưu đồ xấu.

Ngoài ra, còn những thành ngữ khác như: Kê phi đản đả 鸡飞蛋打 (gà bay trứng vỡ), ý nói mất cả chì lẫn chài, việc nào cũng thất bại; Kê khẩu ngưu hậu 鸡口牛后, nghĩa là “thà làm đầu gà còn hơn làm đuôi trâu”; Kê linh cẩu toái 鸡零狗碎 nhằm nói đến việc vụn vặt, linh tinh; Kê mao toán bì 鸡毛蒜皮 (lông gà vỏ tỏi), ý nói chuyện nhỏ nhặt không đáng kể; Kê khuyển bất lưu 鸡犬不留 có nghĩa là “chó gà không tha”, nhằm nói triệt hạ cho bằng hết; Kê phì bất hạ đản 鸡肥不下蛋 là “gà mập quá thì không đẻ trứng”, ý nói điều kiện tốt quá thì không đạt được thành tích…

Những thành ngữ khác: Kê phi cẩu khiêu 雞飛狗跳 (gà bay chó nhảy), nhằm nói về tình cảnh hỗn loạn; Chỉ kê mạ cẩu 指雞罵狗 (chỉ gà mắng chó), nghĩa bóng là chửi xéo, chửi bóng gió; Sát kê thủ noãn 殺雞取卵 (giết gà lấy trứng), nghĩa là tham lợi nhỏ trước mắt mà làm hại tới lợi ích lâu dài.

Đông y

nhiều vị thuốc, bài thuốc có chữ “kê” (viết theo kiểu phồn thể hay giản thể). Những chữ này có thể liên quan với gà hoặc không. Thí dụ: Kê quan thạch (鸡冠石), kê nội kim (鸡内金), kê đầu (鸡头), mao kê (毛鸡), sơn kê tiêu (山鸡椒), kê thỉ bạch (雞矢白), kê cốt thảo (鸡骨草), kê huyết đằng (鸡血藤) hay kê quan hoa (鸡冠花)…

Xin lưu ý: Có những cụm từ liên quan với gà, nhưng không phải là vị thuốc hay bài thuốc Đông y, do đó cần phân biệt để hiểu đúng. Thí dụ: kê mao trửu (鸡毛帚) có nghĩa “chổi lông gà”; kê mao trúc (雞毛竹)là “bút lông gà”; Kê mao tín (鸡毛信) là “thư lông gà, thư chuyển phát nhanh” (ngày xưa, công văn, thư tín hỏa tốc thường giắt thêm một chiếc lông gà); Kê vị tửu (鸡尾酒) là món “cocktail”; kê công xa (雞公車) là “xe một bánh”, loại xe mà người dân Tứ Xuyên sử dụng ngày xưa (còn gọi là giang châu xa tử (江州車子), kê cốt thảo (鸡骨草) là một loại dây leo; ngũ thời kê (五时鸡) là “gà gáy năm canh”; kê bì ngật đáp (鸡皮疙瘩) là “nổi da gà”, kê gian (鸡奸) là đồng tính luyến ái; đồng tính nam (giữa con trai với con trai)…

Món ăn

Ngày Tết, du lịch sang Trung Quốc, có thể bạn sẽ thấy những món ăn dưới đây ghi trong thực đơn, nếu biết là món gì thì bạn sẽ dễ dàng chọn hơn:

- 西紅柿炒雞蛋 (xīhóngshì chǎo jīdàn) = cà chua xào trứng gà; 半熟的雞蛋 (bànshóu de jīdàn) = hột gà ốp-la; 煮硬的雞蛋 (zhǔyìng de jīdàn) = trứng gà luộc; 咖哩雞 (jiālǐ jī) = cà ri gà hay 雞翅海參 (jīchì hǎishēn) = cánh gà nấu với hải sâm.

Ngoài ra, quán ăn của người Hoa ở những nước khác có thể giới thiệu một số món gà như sau:

- 芥菜滑鸡 (gà hấp cải bẹ xanh); 酸甜鸡 (gà xào chua ngọt); 洋葱炒鸡 (gà xào củ hành); 台湾沙煲鸡 (gà nấu kiểu Đài Loan – nấu trong nồi đất, thường là thịt hầm); 冬菇炆鸡 (gà hầm nấm đông cô); 姜丝炒鸡 (gà xào gừng); 四川烧鸡 (gà quay Tứ Xuyên); 四川鸡腿 (đùi gà Tứ Xuyên); 酸子鸡翅 (cánh gà rang me); 鱼水鸡翅 (cánh gà chiên nước mắm) hay 牛油鸡翅 (cánh gà chiên bơ)…

Những chữ kê khác

cuối cùng, xét về danh từ, ta thấy có chữ Kê 笄 (bộ Trúc) là “trâm cài đầu”. Loại trâm này xuất hiện từ thời Tây Chu, ban đầu có 2 loại: quát kê 鬠笄 (nam nữ thường dùng để giữ búi tóc) và quan kê 冠笄 (người nam dùng để giữ cố định mũ miện). Con gái đến tuổi 15 sẽ cài trâm, biểu thị cho thành niên được gọi là cập kê 及笄. Lễ cài trâm, đính hôn của người nữ gọi là Kê lễ 笄礼.

Chữ kê 稽 (bộ Hòa) có nghĩa là khuôn mẫu, chuẩn tắc; còn chữ kê 枅 (bộ Mộc) là “xà ngang” hay “tấm gỗ treo ngang ở trên”; chữ kê 計 (bộ ngôn) là sách lược, phương pháp; chữ kê 乩 (bộ Ất) là một lối cầu thần, xin bói dân gian, tục gọi là phù kê (扶乩)…

Vương Trung Hiếu
(TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2017

Ý Kiến bạn đọc