Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhàn đàm Chúa Trịnh

Hình thái Vua – Chúa cùng trị vì Đại Việt chính thức có từ năm 1592 khi Trịnh Tùng đánh bại nhà Mạc, lập lại nhà Lê; và kết thúc vào năm 1786 lúc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt chúa Trịnh. Thực ra mối quan hệ Vua – Chúa này đã manh nha từ trước đó khá lâu. Ấy là sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, Nguyễn Kim – một vị tướng của triều Lê chạy về Thanh Hóa dấy binh chống lại nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh lên ngôi Vua – tức Vua Lê Trang Tông, hình thành thế Nam – Bắc triều, đối địch nhau suốt 60 năm sau đó. Tuy nhiên, quan hệ giữa vua Lê với Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng vẫn là quan hệ vua – tôi, mặc dù lúc này vua thực chất chỉ là biểu tượng tinh thần nhằm mục đích tập hợp lực lượng là chính.

Chỉ sau khi đưa vua Lê về kinh thành Thăng Long, Trịnh Tùng mới bắt đầu xưng chúa, quyền hành càng thêm lớn. Bên cạnh cung vua, Trịnh Tùng cho xây phủ chúa. Đây là nơi ở và làm việc của chúa Trịnh. Nếu như con vua Lê sẽ nối ngôi cha, thì chúa Trịnh cũng truyền ngôi chúa cho con. Chúa Trịnh điều hành mọi công việc trọng đại của đất nước, tạo thành thế Vua trị vì – Chúa chấp chính. Tuy nhiên, quyền hành của vua Lê đã bị thu hẹp đi rất nhiều. Thậm chí chúa có quyền lập vua mới và nhiều khi can thiệp vào công việc nội bộ triều đình. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử nước ta, đi ngược lại với quan điểm nho giáo đã hàng ngàn năm ăn sâu vào tiềm thức của xã hội phong kiến Việt Nam. Theo đó, vua là thiên tử (con trời), mọi thần dân phải trung quân (trung thành với vua),  phải vâng lời vua, ai trái lệnh đều mang tội chết. Vậy mà lúc này lại có một thế lực ngồi trên cả vua. Cho nên chúa Trịnh đã bị những người đương thời phản đối, thậm chí chống lại là điều dễ hiểu. Các sử gia và những nhà nho dưới triều Nguyễn sau này vẫn tiếp tục lên án, coi chúa Trịnh là kẻ tiếm quyền, làm rối loạn triều đình, gây bất bình trong dân chúng. 

Ngày nay, dưới cái nhìn khách quan và tôn trọng lịch sử, vai trò của chúa Trịnh cần được đánh giá lại cho chính xác. Đã có hai cuộc hội thảo về chúa Trịnh: một tổ chức ở Thanh Hóa năm 1995 “Các chúa Trịnh, vị trí vai trò lịch sử”; một tổ chức ở Hải Phòng năm 2009 “Họ Trịnh và di sản văn hóa thời Lê – Trịnh”. Cả hai hội thảo này đều do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam kết hợp với địa phương tổ chức. Nhiều tham luận trình bày, tuy còn một số nội dung bất đồng nhưng bước đầu hội thảo đã khẳng định sứ mệnh lịch sử và vai trò tích cực của chúa Trịnh đối với Đại Việt, trong đó nhấn mạnh đến công lao to lớn là giữ yên bờ cõi suốt gần 200 năm. Xung quanh hai hội thảo này, còn có nhiều điều lý thú để ta bàn luận.

Phu-chua-Trinh---Hinh-ve-trong-cuon-A-Description-of-the-Kingdom-of-Tonqueen-cua-Samuel-Baron-1685
Một hình dung về quy mô cung điện ở Thăng Long: Phủ chúa Trịnh.
Hình vẽ trong cuốn A Description of the Kingdom of Tonqueen của Samuel Baron, 1685

- Ành: nhadepxdd.vn

Đánh giá vai trò của các chúa Trịnh, không nên quá sa đà vào những chuyện “thâm cung bí sử” xảy ra trong cung Vua, phủ Chúa bởi điều này triều đại nào cũng có, mà cần sáng suốt xem họ đã làm những gì có lợi hoặc bất lợi cho đất nước.

1. Việc chúa Trịnh cùng vua Lê đã giữ cho Đại Việt không hề bị kẻ thù xâm lược lần nào, không bị mất một tấc đất trong quãng thời gian dài (từ 1592 đến 1786) có thể nói là một kỳ công đáng khâm phục. Đây là “điểm sáng” không phải triều đại nào cũng có được.

Lịch sử quan hệ giữa nước ta với cường quốc phương Bắc đã chứng minh rằng: cứ mỗi lần nội bộ nước Việt rối ren, lòng dân bất ổn, kinh tế khó khăn, quân đội suy yếu là mỗi lần giặc phương Bắc tràn qua. Thời Lê – Trịnh tồn tại song song với triều Minh và triều Mãn Thanh. Đây là hai triều đại hùng mạnh, thống lĩnh một lãnh thổ rộng lớn, đông dân. Vậy mà nhà Minh và nhà Thanh không một lần dám đưa quân xâm lược nước ta. Chứng tỏ thế lực của Đại Việt thời kỳ này rất vững chắc: quân đội thiện chiến, kinh tế vững vàng, lòng dân yên ổn. Bên cạnh đó, vua Lê, chúa Trịnh đã có đường lối ngoại giao thông minh, khéo léo, sớm ngăn chặn được ý đồ xâm lược của kẻ thù. Mãi đến năm 1788 khi nhà Lê suy yếu, nhà Tây Sơn nổi lên và vai trò của chúa Trịnh đã chấm dứt thì nhà Thanh mới dám sang xâm chiếm nước ta.

2. Chế độ chính trị ưu việt từ thời Hồng Đức (triều Vua Lê Thánh Tông) được các chúa Trịnh duy trì và bổ sung. Nhiều đường lối, chính sách cho đến tận ngày nay vẫn không hề lạc hậu. 

Năm Giáp Tý (1684), chúa Trịnh Căn hạ lệnh: “Thương yêu dân chúng là việc làm đầu tiên trong chính sự. Dân chúng có người vì quan sở tại hà khắc, bọn quyền quý ức hiếp, có người vì oan mà phiêu bạt tha hương. Họ cần được vỗ về, thương yêu”.

Trịnh Cương – Chúa Trịnh thứ 6 (1709-1729) được cho là vị chúa anh minh nhất. Ông đã ban hành nhiều chính sách tiến bộ, trong đó có chính sách thuế nhằm hạn chế bất công, đồng thời củng cố quân đội, bổ dụng và làm trong sạch đội ngũ quan lại. Năm Giáp Thìn (1724), chúa Trịnh Cương cho phép dân chúng được yết bảng góp ý kiện quan lại địa phương. Bố cáo gửi các địa phương ghi rõ: “Những điều yết lên bảng phải xuất phát từ lẽ công bằng, cả loạt đều cùng một giọng. Người nào yết bảng theo ý riêng mình, khen chê bậy bạ sẽ bị tội”.

Thật xúc động trước những lời của Chúa. Đọc nó, cứ liên tưởng như đọc nghị quyết, đường lối của Nhà nước ta ngày nay.

3. Nhờ đất nước được độc lập lâu dài mà văn hóa Đại Việt thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ. Nền giáo dục có nhiều tiến bộ từ thời Lê sơ tiếp tục được củng cố và phát huy. Triều đình đã ban hành một số chế độ thi cử mới cho phù hợp và vẫn duy trì đều đặn thi hương, thi hội, thi đình. Nhiều trạng nguyên, bảng nhãn và những nhân tài của đất nước đã xuất hiện trong thời Lê – Trịnh.

Đặc biệt các chúa Trịnh rất nghiêm khắc trong việc thi cử. Một sự kiện hi hữu đã xảy ra dưới thời Vua Lê – Chúa Trịnh là tổ chức thi lại để loại trừ kẻ bất tài nhưng nhờ đút lót, chạy chọt mà thi đậu. Năm Bính Ngọ (1726), khi phát hiện cuộc thi trước đó bị gian lận, chúa Trịnh Cương hạ lệnh cho thi lại, đánh rớt 28 người, trong đó có quan tham tụng Lê Anh Tuấn, con Huân quận công Đặng Đình Giám, con nuôi Nội giám Đỗ Bá Phẩm.

Từ sự kiện này, ta có thể suy ra chính quyền thời Lê – Trịnh điều hành đất nước nghiêm minh đến mức nào. Một chính quyền mà quản lý điều hành đất nước không tốt, đời sống xã hội không ổn định, lòng dân bất an thì làm sao tồn tại được lâu đến thế!

4. Mối quan hệ Vua Lê – Chúa Trịnh là chủ đề phức tạp nhưng lý thú nhất. 

Ngày nay trên thế giới vẫn còn nhiều nước như Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Thái Lan… đang duy trì chế độ có Vua bên cạnh Chính phủ và Quốc hội. Ở nhiều nước khác thì có Tổng thống, Chính phủ, Nghị viện gọi là “tam quyền phân lập” và được phương Tây coi như hình thái chính quyền văn minh, ưu việt nhất hiện thời. Nó mang tính ràng buộc, hỗ trợ và giám sát lẫn nhau, từ đó lãnh đạo đất nước có hiệu quả nhất.

Vậy mà hơn 400 năm trước, trong khi các nước khác chỉ có Vua thì ông cha ta đã sáng tạo ra một phương thức lãnh đạo tương tự với phương thức lãnh đạo ngày nay mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng. Họ đã đi trước thời đại. Hồi đó thông tin hạn hẹp, chắc chắn ông cha ta không hề bắt chước ai, chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tế rồi xây dựng nên hình thái lãnh đạo này. Vua Lê tượng trưng cho quyền lực tinh thần, văn hóa, xã hội còn Chúa Trịnh đại diện cho quyền lực quân sự, kinh tế, ngoại giao. Chúa Trịnh cũng như Thủ tướng bây giờ. Rõ ràng đây là hình thức lãnh đạo “nhị quyền phân lập”. Ở một mức độ nào đó, nó vẫn mang tính ưu việt như: ràng buộc, hỗ trợ, giám sát lẫn nhau. Như vậy, vô hình trung, chúa Trịnh đã bước đầu xóa bỏ chế độ quân chủ chỉ có duy nhất vua là tối thượng rất dễ dẫn đến quan liêu, độc tài mà ngày nay người ta đang lên án.

Rất buồn là qua hàng trăm năm, những con dân Đất Việt không hề nhận ra tính ưu việt của một thể chế chính trị do ông cha mình sáng tạo, mà chỉ thấy mặt trái của nó: tiếm quyền và lấn át vua!

5. Lịch sử Trung Hoa cũng như nhiều nước phong kiến khác cho thấy: khi cận thần đã nắm được quyền lực tối thượng thì thường phế truất vua để bản thân hoặc con cháu mình lên ngôi. Ở nước ta: Lê Hoàn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly đã làm điều tương tự. Hậu quả là xảy ra những vụ tàn sát con cháu, dòng họ, cận thần của triều đại cũ.

Với thực lực của chúa Trịnh thời bấy giờ, họ hoàn toàn có thể phế truất vua để lên ngôi bất cứ lúc nào. Nhưng các chúa Trịnh đã chọn một con đường khác có lợi cho đất nước. Họ “chung sống hòa bình” với Vua Lê, tránh được cảnh “nồi da xáo thịt”, không để cho ngoại bang lợi dụng kiếm cớ xâm lược nước ta!

6. Về tư chất con người của các chúa Trịnh cũng có nhiều điều để ta suy ngẫm.

Các chúa, phần lớn là những người có tư chất anh minh và thể lực cường tráng. Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng là những nhà quân sự tài ba. Trịnh Cương vừa là nhà quản lý giỏi, vừa là nhà thơ có nhiều cống hiến trong lĩnh vực văn học.

Nhiều chúa có tuổi thọ rất cao. Trịnh Kiểm thọ 67 tuổi, Trịnh Tùng: 73, Trịnh Tráng: 80, Trịnh Tạc: 76, Trịnh Căn: 76. Trong khi đó các Vua Lê cùng thời thường có nhiều cung tần mỹ nữ và phần lớn là đoản thọ. Dù sao thì theo “danh chính ngôn thuận”, các chúa vẫn xếp dưới vua, họ “biết thân biết phận” nên phải lo “giữ mình”. Vì vậy mà nếp sống của chúa Trịnh có phần “lành mạnh” hơn nên sống lâu hơn chăng?

7. Không ít trường hợp, khi quyền lợi hoặc ngai vàng của mình bị các thế lực trong nước đe dọa, thì vua hoặc con cháu họ liền đi cầu viện ngoại bang. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh là những ví dụ. Hành động hẹp hòi vì lợi ích cá nhân của những người này đã mang đến tai họa khôn lường cho đất nước.

Nhưng đối với các chúa Trịnh thì khác. Họ thà chết chứ không chịu “rước voi về giày mả tổ”. Trịnh Khải lúc bị Nguyễn Huệ đánh đuổi liền chạy lên Sơn Tây, bị bắt rồi tự vẫn. Trịnh Bồng được cho là vị chúa Trịnh cuối cùng thì sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí chép: Khi bị  mất ngôi, cơ nghiệp cha ông không thể cứu vãn, ông trốn đời bỏ đi tu rồi biệt tích, tuyệt nhiên không nghĩ đến cầu viện ngoại bang.

8. Nếu muốn vạch tội chúa Trịnh thì có một tội danh họ không thể chối cãi, đó là đã để xảy ra cuộc chiến tranh kéo dài nhiều năm giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong (1627-1672) mà ta vẫn quen gọi là “Trịnh – Nguyễn phân tranh”. Đây là cuộc nội chiến gây tổn thất lớn cho cả hai phía, đất nước bị chia cắt, dân tình bị đói khổ chết chóc. Nhưng nguyên nhân sâu xa chưa hẳn là do Chúa Trịnh gây nên.

Khi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa, không những thôi cống nạp theo thông lệ hàng năm, mà còn nghe theo kế của Đào Duy Từ cho xây thành Trường Dục chuẩn bị chiến tranh nhằm chống lại chúa Trịnh và đã gây hấn trước. Sau đó Trịnh Tráng mới khởi 20 vạn binh tiến đánh chúa Nguyễn. Tuy nhiên, mặt trái của cuộc chiến này lại mang đến một hệ quả tích cực: đó là thúc đẩy chúa Nguyễn mạnh mẽ khai phá về phương Nam để nước Việt có hình chữ S như ngày nay.

Tiếc thay chỉ với một tội này thôi, hình như nó đã che lấp phần lớn công lao của chúa Trịnh. Các nhà sử học triều Nguyễn dưới áp lực của triều đình, với sự thâm thù chúa Trịnh từ lâu, họ cố tình phủ nhận vai trò tích cực của thế lực phong kiến này. Họ chỉ tập trung vào những mặt tiêu cực như: để xảy ra chiến tranh Đàng Ngoài – Đàng Trong, tiếm quyền vua hoặc những chuyện tranh giành quyền lực trong cung Vua, phủ Chúa.

Hai cuộc hội thảo về thời Lê – Trịnh ở Thanh Hóa và Hải Phòng tuy có muộn nhưng bước đầu đã trả lại sự công bằng cho lịch sử. Chính quyền chúa Trịnh được công nhận là thể chế, quyền lực tích cực và tất yếu trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Tại hội thảo là vậy, nhưng trên thực tế thì còn nhiều điều đáng nói. Sách sử thay đổi chưa được bao nhiêu, hầu như vẫn chép theo lối cũ. Nhân dân phần nhiều vẫn nghĩ về chúa Trịnh như xưa. Nhà nước mới làm được một việc: Phủ Trịnh – nơi thờ cúng các chúa Trịnh tại xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc được công nhận là “Di tích lịch sử cấp quốc gia” và hiện đang được chính quyền địa phương bảo tồn, tôn tạo. Còn nhiều việc khác quan trọng nữa cần phải làm.

Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Cương không hề gây ra chiến tranh “Đàng Ngoài – Đàng Trong”, họ là những danh nhân, những tài năng cùng vua Lê trị vì thiên hạ. Vậy mà hàng trăm năm qua họ phải chịu thiệt thòi, thậm chí bị ghẻ lạnh. Các nhà văn hóa, nhà sử học nghĩ gì khi trên đất nước ta chưa hề có một địa điểm nào được chọn để vinh danh chúa Trịnh? Ngay ở Thanh Hóa quê hương họ, cũng không!

BS.Trần Thanh Chương
(Hội Nhà văn TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 411

Ý Kiến bạn đọc