Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhạc sĩ Trần Kiết Tường với “Những cánh tay miền Nam trên đất Bắc”

Nhạc sĩ Trần Kiết Tường sinh ngày 10/2/1924 (năm Giáp Tý) tại huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, nay là quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Từ thuở nhỏ anh đã sớm nghe những điệu hò điệu lý của quê mình, từ những ghe thuyền xuôi ngược theo con nước lớn ròng trên dòng sông Hậu. Hằng ngày giọng hát ru trong trẻo, lảnh lót của người mẹ, và tiếng đờn kìm réo rắt của người cha đã thấm nhuần từ trong tiềm thức thời thơ ấu của anh. Anh còn nhớ thầy Sáu Huệ, cô giáo Sang, thầy Ba Nhơn (thân sinh của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước), đã dạy anh làm thơ Đường, thơ lục bát, đã gieo hồn thơ cho anh từ thuở nhỏ. Vì vậy mà khi anh viết lời cho những bài hát sau này, lời cũng như thơ.

Nhac-si-Tran-Kiet-Tuong
Nhạc sĩ Trần Kiết Tường.

Anh chơi đàn măngđôlin lúc 12 tuổi. Cây đàn này đặt mua ở xưởng đàn Henri Richard, Hà Nội. Cây đàn luôn luôn theo anh từ Ô Môn quê nhà đến Cần Thơ, ra tới Huế lúc anh học ban tú tài trường Lycéum Việt Anh, năm 1943. Mỗi lần về nghỉ hè anh lại hòa đàn măngđôlin với ghita của anh Lưu Hữu Phước.

Cây đàn theo sát anh như một người bạn thân thiết nhất, là phương tiện biểu hiện tâm tư tình cảm của anh trước cuộc sống cách mạng. Tất cả các bài hát của anh đều được tấu trên cây đàn măngđôlin trước khi nó được đến với các giọng hát.

Tháng 9/1945, anh Tường làm công tác tuyên truyền tỉnh Châu Đốc, thường viết bài khêu gợi lòng căm thù giặc Pháp và cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân. Có lần vào làng đồng bào Hòa Hảo, nơi hành dinh của thầy Tư Huỳnh Phú Sổ, anh bước lên nói chuyện trước 2.000 người súng gươm giáo mác chỉnh tề. Thầy thuốc Tứ, Phó ban Tuyên truyền tỉnh gọi anh là “Con gà tre” vì anh nói rất hăng, tác phong nhanh nhẹn xông xáo như con gà tre mà không sợ nguy hiểm đến tính mạng.

Đến tháng 11/1947, khi hoạt động công tác ở Sài Gòn, anh bị bắt trên đường Bonard (bây giờ là Lê Thánh Tôn), lúc anh giấu cây súng Colt 9 bên hông trái và cây Colt 12 bên hông phải. Sau mấy tháng bị giam cầm, bọn Pháp đưa anh cùng 40 tù chánh trị lên giam tại khám lớn Tây Ninh. Dọc đường, đoàn tù vượt ngục, đi vòng qua núi Bà Đen để về Ty Công an Tây Ninh, lại gặp Trưởng ty là anh Tấn, người cùng quê ở Ô Môn. Xuân Hồng từ đâu đến chơi, và đưa anh Tường về nhà một người bạn gái. Anh Xuân Hồng đưa cho anh Tường cây đàn bănggiôlin mặt da còn mới. Xuân Hồng hát cho anh đệm đàn. Đây là cuộc gặp gỡ không thể nào quên của hai “chàng trai” mà sau này trở thành hai nhạc sĩ Nam bộ nổi tiếng trong làng nhạc Việt Nam.

*

Có thể nói bài hát đầu tiên của nhạc sĩ Trần Kiết Tường là Chiến sĩ vô danh, phổ thơ Dân Thanh. Ca khúc này được viết bên dòng kinh Dương Văn Dương, vào năm 1948, được ca sĩ Quốc Hương thể hiện đầu tiên dọc miền sông nước Tây Nam bộ.

Những năm tháng chung sống cùng bà con nông dân, anh say sưa ghi lại những làn điệu dân ca của má Hai, chị Ba, em Sáu hát… đã giúp anh viết bài hát Anh Ba Hưng trên cơ sở bài đồng dao Con chim manh manh.
Lời hát đầu tiên như sau:

“Có anh Ba Hưng, vốn thiệt con cưng, lưng lớn ba vừng mà hổng chịu tòng quân. Thằng Sáu thấy anh nó cười. Thiệt thằng nhỏ xíu mà khôn. Nó trêu nó trêu anh hoài. Nó nói cái lưng anh dài. Nó nói cái mặt anh chai…”.

Lãnh đạo cho rằng nói như vậy sợ nông dân tự ái. Họ gợi ý cho anh sửa lời lại:

“Có anh Ba Hưng, vốn thiệt nông dân, đi lính hơn năm trường vừa mới được huân chương. Thằng Sáu thấy anh nó mừng. Thiệt thằng nhỏ xíu mà khôn. Nó khen nó khen anh hoài. Nó nói rằng anh có tài…”.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ác liệt, anh vẫn viết một số ca khúc như: Theo dấu Cụ Hồ (1948), Nhớ Bác Hồ (1949), Công binh Việt Nam (1949), Phục thù (1952), Nhớ anh Vệ quốc (1952), Hoan hô chiến sĩ Ngô Văn Thinh (1953).

*

Trong cuốn tự truyện Nhạc và đời, anh viết:

Cuộc sống kháng chiến 9 năm ở miền Đông và miền Tây Nam bộ đã tạo cho tôi tình yêu quê hương, yêu những cánh đồng, những dòng sông, những con người thật thà, chất phác cùng những điệu lý, điệu hò, hát ru, hát nói mang tính cách Nam bộ trong sáng, trữ tình, duyên dáng, đôi khi hài hước, dí dỏm, tưởng đâu là việc bình thường, nhưng những bài dân ca Nam bộ sưu tầm và ghi âm được trong kháng chiến 9 năm và khi tập kết ra Bắc đã được in thành hai tập dân ca Nam bộ (Nxb Văn hóa Hà Nội) phổ biến khắp trong nước và nước ngoài.

Tập kết ra miền Bắc, nhạc sĩ Trần Kiết Tường là người đầu tiên và duy nhất đã phổ biến các làn điệu dân ca Nam bộ trong trường Âm nhạc Việt Nam, Hà Nội. Vốn liếng âm nhạc dân gian lúc bấy giờ thật phong phú và đa dạng, gồm: Hát đưa em (hát ru), hát huê tình, đồng dao (Bắc kim thang và Con chim manh manh), Nói thơ Bạc Liêu, 5 điệu hò (Đồng Tháp, Gia Ninh, Bến Tre, Trà Vinh và Bạc Liêu), 28 bài lý.

Học trò của thầy Tường trong các khóa hát dân ca Nam bộ rất đông, như các nhạc sĩ và ca sĩ: Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Ngô Huỳnh, Văn Luyện, Hồ Bông, Huy Thục, Hồng Thao, Nguyễn Thành, Tô Ngọc Thanh, Hồng Đăng, Lê Quang Nghệ, Trương Đình Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Cát, Nguyễn Liệu, Ca Lê Thuần, Thuận Yến, Nguyễn Văn Nam, Lư Nhất Vũ, Ngô Đông Hải, Nguyễn Đình Tấn, Kim Hùng, Đàm Thanh, Giang Minh Thực, Y Dơn, Thạch Rương, Huỳnh Thơ, Vũ Thành, Quý Dương, Trần Hiếu, Thúy Huyền, Thanh Huyền, Anh Đào…

Những buổi lên lớp học hát dân ca thật vui đáo để. Nhạc sĩ Y Dơn, người dân tộc Gia Rai mà trả bài Hò Đồng Tháp hoặc Nói thơ Bạc Liêu thì cả lớp bò lăn ra cười. Bởi vì trò Y Dơn nói tiếng Kinh chưa được tròn vành rõ chữ, các lời ca đều bị đổi dấu giọng, nghe ngồ ngộ thật dễ thương quá chừng!

Rất nhiều điệu lý đã từng phổ biến trên đất Bắc và trên đất miền Nam cho đến tận bây giờ. Đó là lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bông, lý kéo chài, lý bình vôi, lý Cái Mơn, lý con sam, lý con chuột, lý con cua, lý chuồn chuồn, lý cây chanh, lý cây gòn, lý bánh bò, lý cây cám…

Các học trò của thầy Tường đã tiếp thu và phát huy vốn dân ca Nam bộ vào những tác phẩm của mình. Nhạc sĩ Hoàng Hiệp dựa vào câu kết của Lý con sáo làm đoạn kết bài Câu hò bên bờ Hiền Lương. Và nhạc lưu không trong lối Nói thơ Bạc Liêu được nhạc sĩ Hoàng Hiệp đưa vào đoạn nhạc dạo đầu và cũng là tiếng hò khoan của đội pháo binh đang chở pháo sang sông. Lư Nhất Vũ phát huy những nét đặc trưng của điệu Lý con sáo sang sông (còn gọi lý ợ) để làm đoạn mở đầu bài Cô gái Sài Gòn đi tải đạn. Ca khúc Vì miền Nam (do Quý Dương hát) và độc tấu đàn bầu (do Mạnh Thắng diễn tấu) của nhạc sĩ Huy Thục có xuất xứ từ điệu Lý cây chanh (còn gọi lý xăm xăm). Dựa vào làn điệu Lý con sáo Gò Công, nghệ sĩ Đinh Thìn soạn khá thành công bài độc tấu sáo trúc do chính tác giả biểu diễn.

Nhạc sĩ Đắc Nhẫn, người đồng hương với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường và Triều Dâng đã thấm nhuần dân ca quê nhà khi vận dụng Lý chim chuyền vào bài hát Anh về miền Bắc, và dựa vào bài Tứ đại cảnh để soạn bài hát Son sắt một lòng.

Nhạc sĩ Ngô Đông Hải (tức Nguyễn Đồng Nai) đã khai thác tư liệu Dân ca Nam bộ do nhạc sĩ Trần Kiết Tường sưu tầm và ký âm để thực hiện công trình nghiên cứu Những vấn đề thang âm và điệu thức trong âm nhạc dân gian Nam bộ.

Có thể khẳng định rằng nhạc sĩ Trần Kiết Tường là người có công lớn trong việc phổ biến dân ca Nam bộ trên đất Bắc, đã làm cho nhân dân nơi hậu phương lớn am hiểu và yêu quý những nét đẹp biểu hiện qua những điệu lý, điệu hò từ tuyến đầu Tổ quốc. Vốn di sản này dù chỉ có hơn 30 làn điệu nhưng đã cung cấp biết bao tiết mục cho các đoàn nghệ thuật, trên làn sóng phát thanh và cũng là nguồn dinh dưỡng cho các tác phẩm hiện đại.

*

Sau một năm tập kết (1956), người Hà Nội đã nghe bài hát Những cánh tay miền Nam trên đất Bắc của nhạc sĩ Trần Kiết Tường qua giọng hát truyền cảm của nghệ sĩ Quốc Hương. Đây là ca khúc nói lên những người miền Nam tập kết cùng nhân dân miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thủ đô thân yêu ta về đây xây đời hòa bình
Thủ đô thân yêu ta về đây xây đời hòa bình
Từ nơi xa về, từ nơi xa về
Đây những cánh tay
của người trai rừng U Minh xa vời
Đây những cánh tay
rừng miền Đông, dòng Cửu Long anh hùng
Và đây,
có những anh trai tháp Chàm,
có những người Tây Nguyên,
có tấm lòng sông Hương
Đây cánh tay của người miền Nam…

*

Giữa năm 1957, vợ anh là chị Tố Linh cùng hai con Thanh Thảo và Thanh Bình, lên Sài Gòn rồi đi thẳng lên Phnom Penh (Campuchia). Ba mẹ con đi đường bộ sang Lào, lên Nappê để băng rừng Kim Cương sang Hà Tĩnh. Nhưng mưa lũ cuốn trôi cầu qua suối, chị Tố Linh cùng hai con về Phnom Penh chờ dịp khác. Anh Tường đợi ở trạm tiền tiêu ở Hà Tĩnh đến 10 ngày mà không gặp vợ con đành quá giang xe chở đá về Hà Nội. Và bài hát Bánh xe lăn ra đời…

Sáu tháng sau, ngày 1/1/1958, một chuyến máy bay đặc biệt chở trên 20 người đàn bà cùng với trên 20 đứa trẻ tìm chồng tìm cha đáp xuống sân bay Gia Lâm. Anh đã gặp lại chị Tố Linh và hai con. Sau này, bé Thanh Thảo vào học đàn piano trong trường Âm nhạc Việt Nam, còn chị Tố Linh mở cửa hàng may mặc Bến Thành khá khang trang trên phố Tràng Thi, Hà Nội.

Giữa năm 1958, nhạc sĩ Trần Kiết Tường cùng nhà văn Nguyễn Quang Sáng đi thực tế sáng tác ở nông trường Ba Vì, thường ngày cùng anh em chăn trên 140 con bò đi gặm cỏ, rồi nghỉ trưa ăn cơm ngay trên đồi cao. Tối về anh cảm hứng viết bài hát Đàn bò của tôi:

Làm người chiến sĩ hôm qua diệt thù
Hòa bình cất tiếng hát trên đồng xanh
Khi tôi đứng dưới ánh mặt trời
Là khi đàn bò tôi ăn quanh chân đồi...

*

Cuộc sống kháng chiến 9 năm ở Nam bộ là nguồn sáng tác phong phú trong sự nghiệp nhạc sĩ Trần Kiết Tường. Hình tượng người con gái bên hàng dừa (tất nhiên là có hình ảnh chị Tố Linh) đã giúp anh viết được bài hát Áo bà ba vào năm 1956:

Trời thanh thanh nắng tươi êm đềm
Hồ Gươm vui sắc hoa xinh thắm
Ngời ánh nắng áo tím áo xanh
Thoáng qua, thoáng qua, thoáng qua.
Kìa áo bà ba…

Giai điệu rộn ràng, phấn chấn như một bản độc tấu đàn măngđôlin, vốn là ngón đàn sở trường của anh.

Ca khúc Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người không những là một trong các tác phẩm để đời với nội dung ca ngợi Bác Hồ. Còn đối với tác giả, thì đây là đỉnh điểm sáng giá trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Trần Kiết Tường. Chính chất liệu Hò Cần Thơ của quê hương anh là đoạn mở đầu để nói lên Bác từ nhân dân mà ra, rồi phát triển dần thành những bước đi trang trải, trìu mến, để biểu hiện cái đẹp của đất nước rực sáng dần trong đó có Bác Hồ (*).

Ca khúc tuyệt tác này ra đời vào năm 1962, được chắp cánh bay cao, bay xa qua giọng hát đầy quyến rũ của ca sĩ Quốc Hương.

Mãi đến năm 1972, anh Quốc Hương mới phát hiện trong bài hát Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người có 6 chữ “hơn”:

Hò ơ, tôi hát ngàn lời ca
Bao la hơn những cánh đồng
Mênh mông hơn mặt biển đông
Êm đềm hơn những dòng sông.

Hò ơ, tôi hát ngàn lời ca
Nồng nàn hơn nắng ban mai
Đẹp tình hơn cánh hoa mai
Hùng thiêng hơn núi sông dài
Là một niềm tin
Hồ Chí Minh.

Theo ý tác giả, khi viết lời hoàn toàn không suy tính xếp đặt chữ nghĩa. Viết lời sau khi có nhạc, tự nhiên cảm xúc tràn ra như những ý thơ…

*

Đến năm 1967, từ giã Đoàn Ca múa miền Nam, tôi về Vụ Âm nhạc và Múa, nhận công tác trong Phòng chỉ đạo Văn công chuyên nghiệp, không ngờ được công tác chung với người thầy dạy hát dân ca Nam bộ thuở nào. Tôi được phân công theo dõi phương hướng nghệ thuật của các Đoàn ca múa ở Việt Bắc và Tây Bắc nên ít có dịp gặp anh Tường. Chỉ có một lần cơ quan đi sơ tán ở Phùng (ngoại thành Hà Nội), anh Tường, biên đạo múa Kim Chi và tôi ở chung một nhà của bà con nông dân.

Có thể nói tiết mục múa Nữ du kích Đồng Tháp là một trong những tiết mục đinh của Đoàn Ca múa miền Nam do Kim Chi biên đạo, âm nhạc Trần Kiết Tường. Tác giả Kim Chi vốn giỏi võ nghệ, đã từng “trị” những kẻ ngông nghênh quậy phá ở các điểm bán bia hơi Hà Nội. Cho nên các nữ du kích Đồng Tháp dùng những độc chiêu, đánh giáp lá cà hạ gục dễ dàng những tên Mỹ – ngụy.

Thật là thiếu sót nếu không nhắc bản anh hùng ca của nhạc sĩ Trần Kiết Tường được viết năm 1961. Đó là Bài ca chiến thắng mà Trần Hiếu là người biểu diễn rất thành công:

Tôi đứng đây trước nòng súng quân thù
Tôi đứng đây nghe lòng đất rung nhịp sống…
Bạn tôi đang phơi xác trong lao tù
… Và đây cả núi sông là trái tim này
Ngày mai trên sông Cửu Long
gió căng buồm lên như muôn cánh chim bay
Rừng U Minh xanh hoa lá thêm tươi màu đời
hát lên Bài ca chiến thắng.

Từ năm 1968 đến 1970, sau khi tu nghiệp ở Nhạc viện Anama Ata Kadắctan về, anh Tường viết một số nhạc phẩm Khí nhạc: Sonate cho violon và piano, Biến tấu trên chủ đề dân ca Nam bộ. Anh còn biên soạn phần âm nhạc cho một số vở cải lương và một số bộ phim: Ngày tàn của bạo chúa, Làm lại cuộc đời, Khói, Mười tám thôn Vườn Trầu.

Sau 5 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, anh có dịp lên thăm Đà Lạt 10 ngày. Anh thấy một loài hoa lạ và tìm hiểu truyền thuyết về loài hoa này. Đó là chuyện về người con gái yêu tha thiết nhưng thất vọng, rồi chết thành hoa tên là Mimôza. Thế là bài hát Mimôza được viết năm 1980, mãi đến năm 1982 mới chào đời do nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín hát đầu tiên.

Mimôza vì sao em tới đất này?
Đà Lạt đồi núi trập trùng
Đà Lạt trời mây nước mênh mông
Anh đã biết rồi, em ơi vì sao em tới
Vì em yêu cuộc sống trên cao có thông reo rì rào
Vì em yêu dòng thác Cam Ly
như cuộc sống đang dâng trào…

Anh vẫn còn sung sức, viết thêm một số bài hát đạt chất lượng nghệ thuật, như:

Tình yêu, mùa xuân và hy vọng (1982).

Người anh chưa quen (1984 – Giải A, về đề tài thương binh, do Lệ Thu biểu diễn, thu băng đĩa Asia năm 1985).

Đám cưới trên đồng nước (1984).

*

Tôi là một trong những học trò của thầy Trần Kiết Tường trong việc tìm hiểu và học hát dân ca Nam bộ trên đất Bắc. Tôi đã thấm nhuần vốn liếng quý báu ấy và viết được một vài bài hát mang hơi hướm dân ca quê nhà. Giữa lúc ca khúc Cô gái Sài Gòn đi tải đạn đang được phổ biến rộng rãi thì thầy Tường có nhận xét: Ê Vũ, mày viết nghe cũng được đấy! Đây là lời khuyên tôi phải phấn đấu hơn nữa.

Đến năm 1979, không ngờ tôi lại kế tục sự nghiệp sưu tầm và phổ biến dân ca Nam bộ trên mảnh đất vừa mới giải phóng. Và cũng tiếp tục công việc sưu tầm dở dang của cố nhạc sĩ Quách Vũ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ở Đức Hòa, Đức Huệ và Mỏ Cày (Bến Tre).

Giữa năm 1986, chúng tôi mời anh Hai Trần Kiết Tường và anh Tư Lưu Hữu Phước viết lời giới thiệu cho Dân ca Hậu Giang. Xin trích vài câu trong bài viết của nhạc sĩ Trần Kiết Tường:

Tôi đi vào rừng dân ca sâu thẳm, càng đi càng say đến lúc phải tìm lối trở về. Tôi vượt thuyền trên biển dân ca ra khơi, ra khơi mãi. Sóng gió làm tôi phải nhìn lại phương hướng để quay thuyền trở lại. Ôi, rừng dân ca! Ôi, biển dân ca! Sao mà kỳ diệu! Sao mà bí ẩn lạ thường! Sao mà sâu thẳm hơn rừng già, bao la hơn biển cả!

Anh Hai Tường cho rằng: Dân ca là tấm gương sáng cho ta soi bóng mình nhìn rõ cái bản chất của chính mình, của dân tộc mình. Dân ca là tâm hồn của dân tộc. Tìm hiểu Dân ca Hậu Giang qua các điệu lý, hò, hát ru, hát nói, ta cũng thấy được chân lý đó.

Anh đã từng đi sưu tầm cùng chúng tôi đến 6 xã Vòng Cung của thành phố Cần Thơ. Anh luôn luôn ủng hộ và động viên Đoàn sưu tầm Dân ca Nam bộ. Anh cảm ơn công trình Dân ca Hậu Giang đã giúp anh thêm yêu cuộc sống và nhờ đó tâm hồn anh trẻ lại.

Năm 1999, anh Hai Trần Kiết Tường vĩnh biệt chúng ta, hưởng thọ 75 tuổi và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật đợt I năm 2001. 

TDM, 9-2015

Lư Nhất Vũ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 399

____________________________

(*) Trích trong tự truyện Nhạc và đời – Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, 1989.

Ý Kiến bạn đọc