Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý – Bậc lão làng trong nền âm nhạc Việt Nam

 

Những năm sống trên miền Bắc, tôi chưa có dịp được làm quen với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Mãi đến năm 1976, anh Nguyễn Văn Tý mới chuyển vào Sài Gòn, cùng với tôi công tác trong Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam do Giáo sư – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng.

Năm 1978, Viện Âm nhạc kết hợp với Hội Văn nghệ Hậu Giang (bây giờ là thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang), mở trại sáng tác nhạc. Trại viên là các nhạc sĩ của Đồng bằng sông Cửu Long: Phan Thao, Lâm Nghĩa Văn, Khánh Vinh, Quách Trung Tín, Nguyễn Minh Luân, Tiêu Thanh, Hoàng Hương, Nguyễn Thuấn, Nguyễn Thanh, Thanh Bình…

Tổ giảng viên có anh Nguyễn Văn Tý (kinh nghiệm viết ca khúc). Anh Tô Hải (hòa âm), anh Hoàng Hiệp (kinh nghiệm phổ thơ), Lư Nhất Vũ (vấn đề thang âm điệu thức trong dân ca Nam bộ).

Các nhạc sĩ Đồng bằng sông Cửu Long dự trại sáng tác rất ngưỡng mộ và nể phục người nhạc sĩ đàn anh Nguyễn Văn Tý qua những ca khúc nổi tiếng và cách làm việc hết sức nghiêm túc, cách ứng xử thân tình, chan hòa, cởi mở.

*
Năm 1979, Ty Văn hóa Quảng Nam – Đà Nẵng mời vợ chồng anh Nguyễn Văn Tý và tôi ra Đà Nẵng để thâm nhập thực tế sáng tác. Chúng tôi được anh em Ty Văn hóa tiếp đón ân cần, chu đáo. Sáng đi tham quan Ngũ Hành Sơn, được tặng mỗi người một con cá chim bằng đá. Trưa ghé Hội An thưởng thức món mì Quảng ở Cao Lâu. Hôm sau đi thăm những làng trồng dâu nuôi tằm ven bờ sông Thu Bồn. Và tham dự cảnh hàn sông, đắp đập bên bờ hồ nước Phú Ninh. Đi đến đâu, anh Tý đều hỏi han và ghi chép tỉ mỉ…

Sắp đến ngày kết thúc chuyến đi thực tế, anh Tý đã viết xong ca khúc “Quảng Nam – Đà Nẵng đất nặng nghĩa tình”.

- Anh đưa em đi ăn trái bòong boong ăn hoài mệt nghỉ. Anh đưa em đi thăm Núi Thành, trận đầu đánh Mỹ và đi thăm Núi Ngũ Hành xem tượng Bác Hồ màu đá vân xanh…

Tôi đang rị mọ Tiếng hò bên hồ nước Phú Ninh.

- Đất Quảng quê em chưa mưa đà thấm. Nhớ mãi câu hò tiếng guồng xe nước vấn vương. Thương con chim xanh ăn quanh bãi cát. Em thương ruộng đồng mình khao khát từng giọt nước mưa trên nguồn về…

*
Năm 1980, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ Ca Lê Thuần, Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang về Bến Tre để viết tiết mục cho Đoàn Ca múa chuẩn bị đi hội diễn toàn quốc. Lần đầu đến Bến Tre, quê hương Đồng khởi, anh Tý không khỏi ngỡ ngàng và bồi hồi xúc động. Chúng tôi nhờ anh Tý dàn dựng hoạt cảnh dân ca Khúc hát Đảo Dừa. Và đưa bản thảo Dân ca Bến Tre mà Ty Văn hóa – Thông tin Bến Tre sắp xuất bản trong năm 1981.

Mấy ngày sau, anh Tý phác thảo xong bài hát, rồi anh hát cho chúng tôi nghe. Đó là ca khúc Dáng đứng Bến Tre, mang hơi hướng dân ca Nam bộ, ngôn ngữ âm nhạc cũng rất hiện đại được Đoàn Ca múa Bến Tre biểu diễn qua giọng hát Ngọc Thúy. Và khi được phát trên Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh qua giọng ca truyền cảm, mùi mẫn của Thu Nở, bài hát này đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

Nhiều nơi ngưỡng mộ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, muốn anh sáng tác cho địa phương mình một bài “Tỉnh ca” như Dáng đứng Bến Tre. Anh vui vẻ nhận lời, sẵn sàng lên đường thâm nhập thực tế, và đã cho ra lò một loạt ca khúc như: Ra khơi nhìn lại quê mình (về Tiền Giang), Về Thuận Hải, Gương mặt Kiên Giang, Bản tình ca trên đất Quảng dâu tằm, Về thăm lại đất Gò Dầu…

So-580--Nhac-si-Nguyen-Van-Ty-Bac-lao-lang-trong-nen-am-nhac-Viet-Nam---Anh-1
Nguyễn Văn Tý thời trẻ.

*
Đầu năm 1987, trong cuốn tự truyện Nhạc và Đời, anh Nguyễn Văn Tý đã từng bộc bạch: Có thể nói trong đời làm ca khúc suốt 40 năm qua, hầu hết những lời ca là do tôi tự đặt. Họa hoằn mới phổ hoặc phỏng thơ người khác. Vì một lẽ đơn giản: tôi thấy làm thế chủ động hơn và, nói thật, tôi có lòng tự tin làm thế tốt hơn. (1)

Những ca khúc do anh tự đặt lời đã đóng góp một cách xứng đáng cho nền âm nhạc Việt Nam hiện đại. Anh không chỉ là một nhạc sĩ mà còn là một nhà thơ thực thụ. Điểm nổi bật và xuyên suốt, đó là anh luôn luôn đi sâu khai thác, phát huy và sáng tạo vốn âm nhạc dân gian khắp mọi miền đất nước. Những tác phẩm của anh thường hay phưởng phất âm hưởng dân ca như: Đồng bằng Bắc bộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tày, Thái, Mông, Nam Trung bộ và Nam bộ.

Anh có biệt tài là “trị” những đề tài hóc búa và gặt hái những thành công không nhỏ. Những ý, những từ mộc mạc trong đời sống bình thường được chuyển tải bằng những giai điệu uyển chuyển, mượt mà, ngọt xớt và gợi cảm.

- Trong tiếng súng cả nước cùng đánh Mỹ
Ruộng đất quê ta không muốn nghỉ lấy một ngày
Đất với người cùng một dòng suy nghĩ
Phải làm gì với tiền tuyến hôm nay.
(Bài ca năm tấn)

- Trải mấy năm qua em đi làm tín dụng
Em mang tiền Chính phủ cho bản làng vay đủ
Nuôi thêm đàn lợn béo, trồng thêm lúa thêm ngô.
(Em đi làm tín dụng)

- Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo.
(Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa)

- Phụ nữ Việt Nam vốn hay lam hay làm
Có Đảng chỉ đường đã bừng đôi mắt sáng.
(Bài ca phụ nữ Việt Nam)

- Nay da em nâu tươi màu suy nghĩ
Thấy mùa phượng vỹ ta ngỡ gặp mùa thi.
(Người đi xây hồ Kẻ Gỗ)

Có lần anh Nguyễn Văn Tý bày tỏ tâm tư: Năm nay (1987), tôi cũng đã 64 tuổi rồi. Cũng phải làm dần công việc tính sổ cuộc đời để thấy những gì mình đã làm được và những gì mình còn mắc nợ với đời, để còn cố mà phấn đấu trong những tháng năm còn lại.

… Bài gì của tôi đáng nhớ quần chúng nghe đã nhớ. Bài gì người ta nghe rồi mà không nhớ có nghĩa là cũng đáng để người ta quên.

… Tuy nhiên, khi đã tính sổ cuộc đời, tôi thấy lòng mình còn mang không ít những điều băn khoăn lo lắng, không biết bản thân mình trong quãng đời còn lại có góp được chút gì cùng bao nhạc sĩ khác giải quyết được ít nhiều những băn khoăn lo lắng đó không. (2)

Từ năm 1988 đến 1997 là giai đoạn chuyển hướng sáng tác, gồm những tình khúc nhân bản lãng mạn. Bắt đầu là ca khúc Một ánh sao trời mà anh Tý cho rằng “đó là tình yêu trong sáng nhất trên đời, mãi mãi chiếu sáng trong bầu trời kỷ niệm của đời tôi”. Và trong Nhớ tuổi đời vụng dại, tác giả vẫn còn luyến tiếc, còn vấn vương mối tình đầu với một bóng hồng nào đó.

Một bước ngoặt đáng lưu ý là anh đã phổ nhiều bài thơ của các tác giả, trong đó có nhà thơ Xuân Quỳnh, Trần Mạnh Hảo, Lưu Trọng Văn, Nắng Hồng, Từ Huy…

Có thể đây là giai đoạn thử nghiệm thêm một dạng bút pháp nhằm mở rộng bình diện đề tài phục vụ cuộc sống. Chớ thực ra nhạc sĩ kiêm nhà thơ Nguyễn Văn Tý coi công việc phổ thơ chưa phải là công việc sở trường của mình.

*
Đầu năm 1974, tôi và Lê Giang hành quân xuống tận Mũi Cà Mau để viết nhạc cảnh Hòn Khoai, nói lên sự tích thầy giáo Phan Ngọc Hiển cùng những đồng chí ra đánh chiếm Hòn Khoai trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ 1940. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên và xúc động khi nghe anh Mười Mây (Trưởng Ty Văn hóa Cà Mau) kể rằng: Thời kỳ Đồng khởi, anh em văn nghệ muốn có tiết mục truyền thống để phục vụ bà con tỉnh nhà, rồi bàn với nhau lấy bài hát Vượt trùng dương, đặt thêm lời mới cho công cuộc giải phóng Hòn Khoai của thầy giáo Hiển.

- Lái con thuyền vượt ra Hòn Khoai này!

Quyết tiêu diệt bọn quân sài lang này!

Sau này tôi có kể lại “sự kiện” cho anh Tý nghe, anh cười khoái chí lắm. Không ngờ bài Vượt trùng dương viết từ năm 1952 đã “thẳng cánh” bay vào mảnh đất cuối trời của Tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ.

*
Trong cuốn tự truyện Nhạc và Đời, anh Nguyễn Văn Tý có viết: “Bố tôi là người Vĩnh Phú. Mẹ tôi là người Nam Hà. Nhưng hai ông bà cùng phải xa quê, vào làm công nhân ở nhà máy xe lửa Trường Thi – Vinh (thuộc tỉnh Nghệ An bây giờ). Anh được sinh ra tại Vinh vào ngày 5 tháng 3 năm 1924 (năm Giáp Tý). Thuở bé học ở trường Bến Thủy rồi lớn lên học ở trường Quốc học Vinh (Collège de Vinh)”. (3)

Từ năm 1944, anh đã đi hát trong phòng trà ở Vinh. Từ năm 1945, sáng lập và xây dựng Đoàn Kịch thơ, Kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Anh bắt đầu hoạt động âm nhạc ở Liên khu IV. Rồi làm Trưởng Đoàn Văn công Sư đoàn 304. Năm 1951, anh chuyển về Chi hội Văn nghệ Liên khu IV, là thời kỳ viết bài tình ca Dư âm nổi tiếng.

Đầu năm 1961, anh được biệt phái về Hưng Yên, đã viết một số ca khúc như: Chim hót trên đồng đay, Tiễn anh lên đường, Bài ca năm tấn…

Năm 1967, anh về Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Và từ năm 1976, anh chuyển về Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

Anh là một nhạc sĩ có bề dày đáng trân trọng trong sáng tác ca khúc, với hàng chục tác phẩm đã để lại dấu ấn không phai.

Anh đã được nhận Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì, và vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – nghệ thuật năm 2001.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý là một trong những bậc đàn anh đã vào Đất phương Nam lập nghiệp, trở thành công dân của đất Sài thành trong 40 năm qua, đã đóng góp đáng kể trong lĩnh vực sáng tác, nghiên cứu, biểu diễn và đào tạo, như các anh Nguyễn Văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Tô Vũ, Hoàng Đạm, NSND Trần Hiếu…

Ngày 29-7-1996, trong đêm nhạc tại Nhà văn hóa Thanh niên kỷ niệm Lư Nhất Vũ 60 tuổi. Mặc dầu trời mưa rả rích, anh Nguyễn Văn Tý vẫn đến tham dự, cùng chia vui. Đến phần giao lưu, anh Tý bước lên sân khấu ôm hôn tôi và nói với khán giả rằng: Hai anh em chúng tôi đều cầm tinh tuổi con chuột, cách nhau một con giáp (Giáp Tý và Bính Tý), là anh em kết nghĩa trên đất Nam bộ này!

Thủ Dầu Một, 7-2015

Lư Nhất Vũ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 580

…….
(1), (2), (3): Trích trong cuốn “Nhạc và Đời”, NXB Tổng hợp Hậu Giang, 1989.

Ý Kiến bạn đọc