Trong nước

Nhà văn Lê Văn Thảo và ở R, chuyện kể sau 50 năm

Gia đình nhà văn Lê Văn Thảo đã tổ chức ra mắt cuốn sách có tên gọi “Ở R – Chuyện kể sau 50 năm” (NXB Văn hóa Dân tộc) của nhà văn Lê Văn Thảo tại sảnh của trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh (số 81 Trần Quốc Thảo, Q.3, TP.HCM). Cuốn sách này vừa nhận được Giải B Sách hay – Giải thưởng Sách Quốc gia năm 2018.

“Ở R – Chuyện kể sau 50 năm” dày 220 trang, không có lời tựa, không lời giới thiệu, không có mục lục, nhưng trang bên tay trái (tr.4) có mấy dòng chữ ngắn, như một mẫu đối thoại:

Một người bạn trẻ hỏi tôi:

- “R” là gì? Có phải là rừng không?

- Ờ, vậy cũng được – Tôi đáp.

Như vậy đủ hiểu, trong cuốn sách này, nhà văn Lê Văn Thảo viết về những chuyện ở “RỪNG”. Chuyện ở “RỪNG” với 10 câu chuyện được kể bằng một giọng văn vừa bùi ngùi, vừa dí dỏm, đúng phong cách Lê Văn Thảo.

Đầu tiên là chuyện anh “Lên đường” – vùng giải phóng của những người “Việt Cộng” (tr.6).

Chuyện kể thứ 2 là “Ở rừng” – rừng còn yên bình, những người cảnh giới cũng là những người đi săn, tháng kiếm vài con nai, con mễnh không phải là khó (tr.29).

Chuyện thứ 3 “Đi với Sư đoàn 9” – Tôi được biệt phái sang Sư đoàn 9. Đã có những cơn mưa đầu mùa… (tr. 53). Trong chuyện kể này, có đoạn anh Thảo kể về một đồng đội tên “Rắc”, cao, to, bắn đại liên. Rắc hay trốn học văn hóa, nên chưa bao giờ rời khỏi danh sách lớp 1. Từ hồi lên rừng, Rắc thường bị sốt rét, đôi ba tháng lên một cơn. Trong một trận đánh cuối năm, Rắc lên cơn đúng lúc đơn vị xuất kích, vì không ai đủ sức vác khẩu đại liên, anh giấu chuyện bị bệnh, ôm súng chạy đi, lúc xung phong, tuy cao lớn nhưng cơn sốt làm cho Rắc kiệt sức, anh kê khẩu súng lên một hạc cây, cứ thế đứng sổng lưng nổ súng. Thế là chết trong tư thế đứng thẳng như thế.

Chuyện thứ 4 là “Lạc rừng” – Mã Đà sơn cước anh hùng tận. Đó là câu nói của những người đi phu hồi xưa. Đây là một vùng độc địa, sơn lam chướng khí. Bà Rá là nhà Tây đày những người cách mạng. Bệnh sốt rét là phổ biến… (tr.88). Trận lạc rừng đã để lại một dấu ấn khó phai trong ký ức. Nhưng tôi không hề ác cảm với rừng… (tr.108).

So-497--Nha-van-Le-Van-Thao-va-O-R-chuyen-ke-sau-50-nam---Anh-1

Chuyện kể thứ 5 có cái tựa là “Những người anh hùng”. Giữa năm 1967, Cục Chính trị quân Giải phóng miền Nam tổ chức Đại hội Anh hùng – Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần 2 tại Bù Đốp – Phước Long, một đoàn đông đảo các nhà văn, nhà báo của Ban Tuyên huấn R chúng tôi đi dự. Đường xa, chúng tôi đi mất cả tuần lễ. Về vùng rừng tôi không còn lạ gì, trận lạc rừng hai năm trước tôi không thể quên (tr.109). (…) tôi biết anh Nguyễn Thi chỉ trong lần đó, trong mấy ngày ngắn ngủi, hầu như không nói chuyện gì. Nhưng ấn tượng về anh ở tôi rất sâu sắc, về tài năng của anh, về nỗi niềm “im lặng” của anh, về việc cùng tham dự trận đánh Mậu Thân năm 1968… (…) Ông Trần Độ có buổi gặp riêng tôi… (tr. 111). 

Tôi không giữ tài liệu nào về những người anh hùng lần Đại hội ấy, nhưng có vài mẩu chuyện tôi lưu giữ được, có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng tôi tin đáng để kể lại (tr. 113).

Chuyện kể thứ 6 là “Móc gia đình”. Tôi vốn không tin chuyện thần giao cách cảm hay những gì đại loại như vậy, nhưng có chuyện tình cờ ngẫu nhiên xảy ra với chuyện móc gia đình của tôi khiến nhiều năm tôi vẫn lấy làm ngạc nhiên. Má tôi cùng sống với chúng tôi trong R. Nhưng bom đạn ác liệt, cơ quan bàn đưa má tôi ra Sài Gòn làm cơ sở giao liên, nuôi giấu cán bộ và 3 năm một lần má tôi vào thăm chúng tôi. Năm đó tới hẹn, ba tôi kêu tôi xuống Ba Thu tìm người móc gia đình đưa má tôi vào thăm chúng tôi. Tôi thông thạo nhiều chuyện, nhưng lại vụng về nhiều chuyện khác, việc tìm người móc gia đình hoàn toàn dốt đặc, người đàn bà tôi nhờ lấy tiền trốn mất, không đi đâu cả. Nhưng tôi không biết gì, tới ngày hẹn, tôi kêu ba tôi xuống Ba Thu. Có một chỗ ở Ba Thu gọi là Bến Giống, xuồng ghe nhiều nơi tụ về làm thành chợ nhỏ buôn bán đổi chác, người gia đình cũng hẹn nhau ở đó. ba tôi xuống tới nơi, tôi dẫn ba tôi đến đó, đi rảo chợ gặp má tôi. Tôi đinh ninh người móc gia đình đưa má tôi vô. Nhưng má tôi nói không gặp ai cả. Má linh cảm ngày tháng đó má gặp chúng tôi nên má tự đi (tr.128, 129).

Câu chuyện thứ 7, nhà văn Lê Văn Thảo kể về “Đường dây giao liên”.

Câu chuyện thứ 8 có tiêu đề “Trận đánh Mậu Thân 1968”. Không thể nói đó là một trận đánh. Lực lượng bảo vệ chỉ có hơn trung đội lần lượt bị thương vong. Trận đánh từ trên trời giáng xuống, chúng tôi chỉ còn chịu đựng… (tr. 155). Có thể chống trả với bộ binh nhưng với trực thăng thật khó khăn (…). Có một lúc giữa hai đợt nổ súng, trực thăng quần ra xa, tôi ngồi nói chuyện với một chiến sĩ đang ngồi chống súng dựa lưng tường, rơm phủ xung quanh để nghi trang. Tôi nói đủ chuyện, cho bớt căng thẳng, không nghe anh trả lời, lát sau tôi quay nhìn sang, thấy anh đã chết từ hồi nào, như người đang ngủ… (tr. 156).

So-497--Nha-van-Le-Van-Thao-va-O-R-chuyen-ke-sau-50-nam---Anh-2
Bạn bè và gia đình nhà văn Lê Văn Thảo dự buổi ra mắt sách.

Câu chuyện thứ 9 – “Lê Anh Xuân với dáng đứng Việt Nam”. Anh nói muốn vào Sài Gòn, cần tôi đưa đi. Tôi nói, anh nhờ tôi đúng rồi, nhưng sao lại vào Sài Gòn, anh có biết là khó khăn lắm không? Anh nói biết, chính vì thế anh muốn đi. Mấy tháng ở R anh nóng ruột không chịu được. Bao nhiêu mất mát, còn anh thì đứng ngoài. Anh nói anh phải vào Sài Gòn, bước một bước cùng với nhân dân, chiến sĩ. Tôi phải đưa anh đi (tr. 196).

Chuyện kể thứ 10 – “Chuyện nhỏ thay lời kết”.

Nhà văn Lê Văn Thảo tên thật là Dương Ngọc Huy, sinh ngày 1/10/1939 tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ngày bé, ông sống ở Đồng Tháp Mười và Long Xuyên, An Giang. Ông mất tại nhà riêng lúc 1 giờ sáng 21/10 vì ung thư, thọ 77 tuổi.

Nhà văn Lê Văn Thảo từng giữ vai trò Phó Tổng biên tập Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa thứ 7 (2005-2010), Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh khóa thứ 4 và thứ 5 (2000-2010), Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh.

Những tác phẩm từng xuất bản của ông có: Tập truyện ngắn chọn lọc (2011), Lên núi thả mây (truyện ngắn – 2011), Con đường xuyên rừng (tiểu thuyết), Một ngày và một đời (tiểu thuyết), Cơn giông (tiểu thuyết – 2005), Sóng nước Vàm Nao (tiểu thuyết), Những năm tháng nhọc nhằn (tiểu thuyết – 2012), Nhỏ con, có chịu thôi đi không? (truyện ngắn – 2016)…

Ông đoạt nhiều giải thưởng văn học như: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998 và 2003, giải thưởng ASEAN năm 2006 với tiểu thuyết Cơn giông, giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật năm 2007, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật năm 2012…

Nhà văn Lê Văn Thảo bộc bạch suy nghĩ của mình về nghề văn như sau:

- Bản tính chậm, kém nhanh nhạy với cái mới, không giỏi theo thời thượng. Thích viết về kỷ niệm, những hồi ức xưa cũ. Nhiều năm ở thành phố nhưng gốc vẫn là người nhà quê. Trong chiến tranh viết về nông thôn, du kích, bộ đội. Sau chiến tranh viết về vùng đồng bằng sông Cửu Long, Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười. Ngại giao tiếp, hội họp, tranh chốn quan trường, nơi cao sang quyền quý. Cố viết chân thật, giản dị, tránh giáo huấn, phô trương. Dành khoảng trống cho người đọc.

Thanh Bình Nguyễn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 497

Ý Kiến bạn đọc