Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhà trí thức và giới trí thức

(Tiếp theo số báo 635, ngày 25-3-2021)

 

Có rất nhiều tư liệu về giới trí thức Việt Nam để tham chiếu với luận điểm của GS. Trần Quốc Vượng và các giáo sư khác. Chúng tôi xin giới thiệu ba tác phẩm sau:

- Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại.

- Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược.

- Gánh gánh gồng gồng.

Trí Thức Tinh Hoa Việt Nam Đương Đại – Một Số Chân Dung

Là công trình biên khảo đồ sộ của cố tác giả Hàm Châu, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam. Sách dày 1.218 trang khổ lớn 15.5x23cm, do NXB Trẻ ấn hành năm 2014. Cuốn sách gồm 3 chương:

- Chương I: Trí thức thế hệ thứ nhất (từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945). Gồm 24 nhà trí thức nổi tiếng trong nước và trên thế giới: Tạ Quang Bửu, Hồ Đắc Di, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thúc Hào, Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Lân, Đỗ Tất Lợi, Đặng Thai Mai, Trần Đại Nghĩa, Hữu Ngọc, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Nhuận, Lê Tâm, Phạm Ngọc Thạch, Trần Đức Thảo, Lê Văn Thiêm, Đào Văn Tiến, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Đặng Hồng Vân, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xiển.

So-636--Nha-tri-thuc-va-gioi-tri-thuc---Anh-4

- Chương II: Trí thức các thế hệ sau (từ ngày Hà Nội giải phóng 1954 đến nay). Gồm chân dung 19 nhà trí thức: Nguyễn Hữu Bảo, Nguyễn Tài Cẩn, Phan Đức Chính, Đặng Văn Chung, Vũ Đình Cự, Nguyễn Văn Đạo, Đào Vọng Đức, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Hường, Đặng Hữu, Đặng Vũ Khúc, Nguyễn Thị Lê, Hoàng Xuân Sính, Hà Văn Tấn, Đào Trọng Thi, Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Văn Trương, Đào Thế Tuấn, Hoàng Tụy.

- Chương III: Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Gồm chân dung 13 nhà trí thức: Ngô Bảo Châu, Bùi Huy Đường, Lưu Lệ Hằng, Nguyễn Trọng Hiền, Phạm Quang Hưng, Bùi Trọng Liễu, Lê Kim Ngọc, Đỗ Phượng Như, Đặng Thái Sơn, Đàm Thanh Sơn, Trịnh Xuân Thuận, Vũ Hà Văn, Trần Thanh Vân.

Trong 56 chân dung các nhà trí thức trên, có đủ các ngành khoa học – nghệ thuật: Triết học, Toán học, Vật lý, Y học, Văn học, Âm nhạc… Trong đó có những người được tôn vinh là nhà bác học tầm cỡ thế giới như Trần Đức Thảo, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hà Văn Tấn… Đó là những nhà trí thức gắn với dân tộc, đem tài năng ra cống hiến cho dân tộc và nhân loại. Tác giả Hàm Châu tỏ ra rất khiêm tốn: “… Tôi làm sao đủ sức viết nổi về tất cả những trí thức tiêu biểu của nước Việt Nam đương đại. Trong sách chỉ là một số chân dung những trí thức ít nhiều tiêu biểu mà tôi may mắn từng được gặp mặt, chuyện trò”. Ông tự nhận thấy “không đủ vốn hiểu biết trực tiếp để viết về những nhân vật chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc Việt Nam thời nay, tôi thầm nghĩ, nếu mình viết chân thật, sống động về những nhà trí thức Việt Nam đương đại, kể từ Cách mạng Tháng Tám về sau, thì may ra cũng có thể góp phần ghi lại đôi nét bóng dáng lịch sử ánh xạ qua số nhận những con người ít nhiều tiêu biểu ấy” (Trí thức tinh hoa… Sđd. Trg.4-7).

Nhà văn hóa Hữu Ngọc viết: Cuốn sách này gây niềm tự hào và niềm tin vào dân tộc cho tất cả người Việt trong và ngoài nước, đồng thời nêu những gương sáng cho các thế hệ trẻ và cho mai sau”.

Nhà Văn Việt Nam Trong Nhà Tù Quân Xâm Lược

Là công trình biên khảo cũng rất đồ sộ. Sách dày 1.450 trang khổ lớn 16x24cm, do NXB Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành năm 2015. Soạn giả Lê Văn Ba, nhà báo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông hoạt động ở nội thành Hà Nội, bị Pháp bắt, giam vào Hỏa Lò. Công trình này cũng chia làm 3 chương:

- Chương I: Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân phương Bắc xâm lược dưới thời các triều đình phong kiến.

Chắc chắn là có nhiều nhưng soạn giả mới sưu tầm được 7 người: Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Nguyễn Phi Khanh, Lê Cảnh Tuân, Tuệ Tĩnh, Giang Văn Minh, Lê Quýnh.

- Chương II: Nhà văn Việt Nam bị bắt, giam trong các nhà tù của thực dân Pháp, phát-xít Nhật.

So-636--Nha-tri-thuc-va-gioi-tri-thuc---Anh-5

Phần này gồm 137 nhà văn bị thực dân phát-xít giam cầm. Riêng trường hợp Hồ Chí Minh hai lần bị giam ở nhà tù nước ngoài. Lần thứ nhất, năm 1931, bị đế quốc Anh bắt giam ở Hồng Kông, do có sự câu kết của thực dân Pháp và đế quốc Anh. Năm 1931, Tòa án Nam Triều kết án tử hình vắng mặt đối với Nguyễn Ái Quốc. Mật thám Pháp dò được nơi ở của Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, điện cho mật thám Anh đến bắt, định bí mật đưa Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam để thi hành án. Đồng chí Hồ Tùng Mậu báo tin và nhờ Luật sư Lô-dơ-bi giải cứu. Tác giả Lê Tư Lành đã xem Luật sư Lô-dơ-bi là ân nhân của dân tộc Việt Nam. Lần thứ hai, bị chính quyền địa phương tỉnh Quảng Tây của Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt và giam cầm trong một năm, trải qua 13 nhà tù. Đây là thời gian Người viết Nhật ký trong tù, được xem là một kiệt tác.

Chương này cho thấy hầu hết các trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam thời hiện đại đều bị thực dân Pháp bắt giam cầm, tù đày: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, v.v…

- Chương III: Nhà văn Việt Nam bị bắt, bị tù trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam nước ta.

Phần này sưu tầm được 17 nhà văn bị Ngụy quyền Sài Gòn bắt giam như Vũ Hạnh, Sơn Nam, Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Trần Quang Long, Ngô Kha. Phần này có lẽ còn thiếu Thiếu Sơn (Lê Sĩ Quý).

Gánh Gánh Gồng Gồng

Chúng tôi muốn giới thiệu một trí thức văn nghệ sĩ cụ thể. Đó là tác giả Xuân Phượng, tức nữ đạo diễn phim tài liệu Nguyễn Thị Xuân Phượng, qua cuốn hồi ký Gánh gánh gồng gồng do NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2020, được giải thưởng của Hội Nhà văn Thành phố. Tôi đọc cuốn sách dày 300 trang suốt một mạch từ 17 giờ đến 23 giờ 30. Không rời ra được vì không bỏ sót trang nào dòng nào.

So-636--Nha-tri-thuc-va-gioi-tri-thuc---Anh-6

Đây là hồi ký của một nữ sinh đi kháng chiến từ năm 16 tuổi, khi mặt trận Huế bị vỡ. Bà theo Đoàn tuyên truyền kháng chiến đi ra Nghệ An. Chuyển qua nhiều nơi làm việc ở Khu Bốn rồi ra cơ quan quân giới ở Việt Bắc, phòng điều chế thuốc nổ. Nơi làm việc có ghi chú: 2 gram thuốc nổ = 1 mạng người. Từ ngành quân giới chuyển qua công tác thóc – gạo, rồi về Thủ đô ngay sau giải phóng, chuyển sang ngành Y. Với vốn tiếng Pháp, bà được giao công việc chăm sóc sức khỏe cho khách quốc tế đến Việt Nam ở cơ quan Ủy ban liên lạc Văn hóa với nước ngoài, cũng may mắn được phiên dịch cho khách trong các lần đến thăm Bác Hồ. Bác đã chú ý đến phong cách làm việc của bà. Năm 1967, Bác trực tiếp giao cho bà nhiệm vụ phiên dịch và chăm sóc nhà điện ảnh nổi tiếng thế giới Giô-rít I-ven. Bà cùng vợ chồng Giô-rít I-ven với các cán bộ phục vụ khác vượt qua mưa bom bão đạn vào Vĩnh Linh làm phim tài liệu. Làm phim tài liệu ở chiến trường, mà chiến trường Vĩnh Linh, ác liệt như thế nào, chúng ta đều biết. Cũng là cơ duyên. Đạo diễn Giô-rít I-ven khuyên bà nên chuyển nghề sang làm phim tài liệu vì thấy bà rất có khả năng về công việc này. Thế là đạo diễn Xuân Phượng đã đồng hành với cuộc chiến. Ngày 30-4-1975, bà đã có mặt ở Dinh Độc Lập. Kể từ ngày rời Huế đi kháng chiến – năm 1946 – đến 1975, bà mới được trở về quê, bước từng bước cảm xúc vào căn nhà xưa. Rồi trải qua gian khổ thời hậu chiến. Về hưu với đồng lương ít ỏi. Bà tìm cách cải thiện cuộc sống. Bà thuê nhà, mở một phòng tranh ở TP. Hồ Chí Minh. Từ đây, bà phát hiện ra những tài năng hội họa. Đưa phòng tranh ra nước ngoài, được khách nước ngoài nồng nhiệt đón nhận, từ Pháp đến Anh đến Đức đến Hoa Kỳ… Bà đã đổi đời cho nhiều họa sĩ, đã giới thiệu hội họa Việt Nam ra thế giới, được Nhà nước Cộng hòa Pháp trao giải thưởng lớn. Khi viết hồi ký bà vào tuổi 91. Đó là một trí thức văn nghệ sĩ đã sống cuộc đời phong phú cao đẹp. Một con người tài ba đầy bản lĩnh, thích ứng với mọi hoàn cảnh và vươn lên dũng mãnh. Nếu theo tiếng gọi của tình yêu, chắc bà cũng chỉ là dâu thảo vợ hiền. Nhưng bà đã từ chối. Dẫu vậy, tình cảm của mối tình đầu bà vẫn gìn giữ. Bà nhận con của người tình xưa làm con nuôi. Bà hàng ngày đến thăm ông ở bệnh viện khi ông bị bạo bệnh đã vào giai đoạn cuối. Ông nắm tay bà thốt lên trước khi từ giã cõi đời: Thôi anh đi trước!

Biết bao cảm xúc dâng trào, ứa lệ khi đọc cuốn hồi ký này. Đó là một quyển sách quý thực sự. Rất đáng quý. Là hình ảnh một trí thức tiêu biểu cho giới trí thức Việt Nam ở thời đại mới. Hoàn toàn khác với một người bạn mà qua đó GS. Trần đã phải thốt lên: nước ta chỉ có nhà trí thức chứ không có giới trí thức. Và đó là bi kịch của trí thức Việt Nam, của đất nước, dân tộc Việt Nam.

Vì sao cố GS. Trần Quốc Vượng thốt ra điều cay đắng chua xót đó? Có thực như vậy không? Xin mạo muội bình luận ở kỳ báo tiếp theo.

TRƯỜNG XUÂN
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 636

Ý Kiến bạn đọc