Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhà trí thức và giới trí thức

 

Nếu còn tại thế chắc GS. Trần Quốc Vượng phải sám hối lại những điều ông đã sám hối. Ngày đó, năm 1991, Giáo sư công khai đề nghị hãy bàn giao quyền lực cho Thế hệ Hai Rưỡi – 2 ½ – tức thế hệ ra đời trong khoảng 1946-1954. Giáo sư nêu lên mấy khuôn mặt tiêu biểu của thế hệ này như Dương Thu Hương, nhà báo K.H; các nhà thơ N.D; T.T, v.v… Cho rằng “Họ có TÂM, họ có khoa học, để họ điều hành quốc gia”…

Nhưng điều ám ảnh chúng tôi là luận điểm của Giáo sư: “Nước ta chỉ có những nhà trí thức chứ không có giới trí thức… Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó”.

Cố GS. Trần Quốc Vượng vốn là người trực tính, nói năng khá bỗ bã. Vì vậy, những khi ông quá phấn khích, bốc lên, quá lời… thì nên thể tất. Nhưng liên kết những phát ngôn của Giáo sư với các đấng bậc khác như GS. N.Đ.M tác giả Hồi ký; nhà văn N.N (Chế độ này thể nào cũng sụp đổ); GS. P.H.L (Cần bước qua rào cản ý thức hệ…); GS. L.N.T (Thế giới quan Cộng sản chỉ giáo dục nên những con người đơn giản, sơ lược…); GS. T.Đ.S (Văn hóa không có trung tâm, lý luận Mác-xít đã trở nên bơ vơ, lý luận Nhà nước đã mất thiêng…), v.v… thì rõ ràng đã xuất hiện một trạng thái tư tưởng không chỉ đơn nhất ở một nhà trí thức. Khảo sát hiện tượng này sẽ rút ra được những bài học quan trọng không chỉ về lý luận nhận thức, mà cả những ứng xử, những cái nhìn, cách cảm nhận cụ thể trong cuộc sống thường nhật.

Chúng tôi rất kính trọng tài năng và đóng góp của GS. Trần Quốc Vượng trên lĩnh vực sử học, văn hóa học và các vấn đề văn hóa – xã hội đương đại. Dù vậy, cũng xin nhắc lại một vài luận điểm của Giáo sư mà chúng tôi trân trọng như những viên đá lát đường, như một sự dấn thân, đóng góp vào con đường nhận thức chung.

Dưới đây là hai bài báo tiêu biểu mà Giáo sư đã cho đăng trên báo chí hải ngoại:

Sai Lầm Lịch Sử Và Sự Sửa Sai

Diễn đàn người Việt phỏng vấn Giáo sư Trần Quốc Vượng, một nhà sử học có tiếng của Việt Nam. Hiện nay, ông được mời sang làm giáo sư nghiên cứu tại Đại học Cornell Ithaca, New York.

LGT: Đây là một Đối thoại thân mật, châm chọc, đau buồn, rức buốt, giữa hai “thực thể” trái đầu, trái chiều về hiện tượng luận tinh thần: Nữ/Nam, Nhà báo/Nhà sử, Thời sự/Quá khứ, Ráo riết/Dặt dè, Hiện thực/Phiêu lãng… Trớ trêu thay, hai người đối thoại là bạn của nhau, thân thiết là đàng khác. Liệu có thể hòa giải họ. Trong Bản thể luận tâm tính, vì một Việt Nam Tự do và Dân chủ?

Họ ở hai nước khác nhau và nói chuyện với nhau bằng phương tiện truyền thông viễn ký… Sau những câu chào hỏi, thăm nom thường lệ:

NHÀ BÁO (NB): Anh nghĩ sao về “Hiện tượng Bùi Tín”?

NHÀ SỬ (NS): Ông ta là con quan đại thần. Tôi là con dân thường. Ông ta theo “cách mạng”, trở thành người cộng sản. Làm báo. Tôi bị theo kháng chiến và vẫn là một “quần chúng”, ngoài Đảng. Làm sư. Chúng tôi có quen biết nhau. Vợ ông ta cũng là đảng viên, dạy trung học, còn sống. Vợ tôi là người ngoài Đảng như tôi, dạy cùng trường với bà ta, đã chết. Họ không thân nhau, dù ở khá gần nhau. Ba tháng cuối năm 89, khi công cuộc “Đổi mới tư duy” có phần “chững lại”, ba bài báo liền của tôi bị cắt bỏ trên tờ báo mà ông ta “làm chủ tập thể”, Nhân Dân Chủ Nhật. Và bây giờ thì ông ta “kiến nghị” từ nước ngoài. Tôi thì không. Sự đổi hay đấy chứ, thưa chị?

NB: Mới mở đầu câu chuyện mà anh đã có cái giọng “đâm chọc” rồi! Tôi hỏi anh về “Hiện tượng Bùi Tín” mấy tháng nay cơ mà, đâu có đòi hỏi “anh khai lý lịch”… Cung cách anh, đúng là bị “Đảng ta” ám ảnh…

NS: Thế đó, những người theo “chủ nghĩa lý lịch” thì hay tỏ vẻ tảng lờ lý lịch, tùy theo cái Lợi. Duy lý lịch là “duy lợi”. Tôi thì rất trọng “lý lịch”, nhưng không “duy”. Nhất là “lý lịch dân tộc” thì càng phải truy tầm thật kỹ lưỡng. Tôi “làm Sử” mà chị…

NB: Lại giở giọng “khó chịu”, ông giáo sư gì mà không biết cư xử một cách “trí thức” một tí nào…

NS: Thì tôi có bao giờ tự nhận là “trí thức”, là “khoa bảng” đâu! Báo Đất Việt ngày trước chả đăng bài của tôi nói trí thức là “ngủ lâu” là gì? Vì bài báo ấy mà “bên nhà” chửi bới tôi mãi… Trí thức “ngu” và “hèn”, đất nước mới “nên nông nỗi” này. Không chịu “sám hối”, lại tập tễnh ra nước ngoài rồi cao giọng “phê phán”, bà bảo “bố ai mà chịu được”.

NB: Nói như anh, ai cũng phải long trọng tuyên bố từ bỏ những cái đã làm… rồi mới được nói hay sao? Cũng lại cái kiểu “tự phê” lật ngược lại chứ gì? Còn anh, anh đã “sám hối” bao giờ chưa? Anh tưởng cái “làng Sử mác-xít” của các anh và bản thân anh là “ngon lành”, là “trong sạch” lắm chăng?

NS: Tôi đã hơn một lần đọc lời Sám hối trước sinh viên của tôi và hơn một lần viết lời Sám hối đăng trên báo Tuổi Trẻ. Chị cứ về Hà Nội hỏi sinh viên Đại học Tổng hợp, hỏi sinh viên Trường Viết văn Nguyễn Du và vào Sài Gòn hỏi chị Kim Hạnh, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, thì sẽ biết… Bài báo của tôi viết về “Ba thế hệ Việt Nam hôm nay”, báo ông Bùi Tín không đăng, tôi chuyển cho báo Tuổi Trẻ, chị Kim Hạnh hứa đăng rồi cuối cùng đâu có đăng? Cuối năm 89 mà, cuối mùa “Đổi Mới” rồi, họ còn “giữ ghế” chứ…

NB: Nếu vậy, thời cũng đáng hoan hô. Nhưng chẳng phải sám hối là đã trong sạch đâu. Nhưng thôi, thế trong bài ấy, anh viết những gì?

NS: Đấy là một bài trả lời công khai cho Ban Dân vận Trung ương của ĐCSVN, hỏi ý kiến vài chục nhà “trí thức” về Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Tôi bảo thế hệ Trẻ hôm nay (tuổi con cháu tôi) là QUẢ, còn thế hệ TÔI (tuổi 50-60) và thế hệ BỐ TÔI (tuổi các cụ đang “lãnh đạo quốc gia dân tộc” đấy) là NHÂN. Nhân nào, Quả nấy. Thế hệ các cụ, đầy vinh quang sáng chói đầu đời, đầy sai lầm cay đắng cuối đời. Thế hệ tôi, “rất tích cực chấp hành” đầu đời. “Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh…” và đến xế chiều đời, đợi mãi chả thấy được “bàn giao nhiệm vụ lịch sử”, thì đổ đốn thành “cơ hội chủ nghĩa” và “tranh thủ” tìm cái lợi cho mình, ngậm miệng ăn tiền, mà “mở miệng” trên đài, trên báo (Tôi không ám thị ai đâu mà đang nói “tôi” đấy) cũng là để “ăn tiền”!

Hai thế hệ ÔNG CHA như thế, nhẽ nào Tuổi trẻ hôm nay không “mất lý tưởng”, “thực dụng”, “phá phách” hay “làm lơ”…

Trí thức, là “hương hoa” của dân tộc ư, “lương tâm” thời đại ư, “trí tuệ” của quốc gia ư, mà u mê, mà hèn kém, bạc nhược. Hà Nội, là “thủ đô của phẩm giá Loài người” ư, mà bị chê là “bẩn thỉu”, “ngập ngụa rác rưởi”, “nhà quê hóa”, tiếng nói thì “thất thanh”, da mặt thì “xanh xám”, đầu óc cũng “xám ngoét” nốt. Thế thì còn “khoe mẽ” cái nỗi gì giữa “Thủ đô ánh sáng”?

Trong bài báo ấy, tôi cũng còn “công khai” đề nghị các cụ nghỉ ngơi dưỡng nhàn, bàn giao quyền lực cho cái đám “Thế hệ hai rưỡi – 2 ½ (là thế hệ anh chị sinh ra khoảng 1946-1954, nay tuổi đời vào khoảng 40), (chứ không phải cho bọn tôi đâu nhé). Tôi cũng nêu rõ tên tuổi của thế hệ ấy nữa, như những Dương Thu Hương, Kim Hạnh, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… và bạn bè đồng trang lứa của họ, chiếm 2/3 chức danh khoa học tiến sĩ, phó tiến sĩ… Họ có TÂM, họ có khoa học, để họ điều hành công việc quốc gia, họ không bị “vướng víu” rất nhiều chuyện “lằng nhằng lịch sử” với Liên Xô, với Trung Hoa, với Mỹ, với Pháp… như thế hệ ông Ba, ông Năm, ông Đồng, ông Giáp… Họ cũng chẳng qui nhau “giáo điều”, “xét lại”, cũng chẳng “mặc cảm” “ta” với “ngụy”… (Họ đã từng bảo thẳng vào cái “bản mặt” tôi rằng: Anh biết ai là CHÂN, ai là NGỤY?; Anh còn “ngụy” hơn cả “ngụy” ấy, cũng “nhậu nhẹt” ư, cũng “bồ bịch” ư, cũng “chiếm (nhà) công vi (nhà) tù… đủ cả; con cái anh thì “hỗn láo” hơn con “ngụy”, mà họ hàng hang hốc nhà anh cũng đầy “ngụy quân ngụy quyền”; “giải phóng miền Nam xong, anh cũng thuộc cái hạng “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”. Ti vi, tủ lạnh, quạt máy ở nhà anh toàn “khuân” ở miền Nam về, chứ trước “giải phóng”, chúng tôi đến nhà anh thấy cái gì, họa chăng là…). Đấy chị tính sao?

NB: Một lần nữa hoan hô anh, mong anh gửi bài ấy, chúng tôi sẽ đăng lại đầy đủ cho mọi người suy ngẫm. Nhưng anh thật “độc mồm độc miệng”, đúng như tôi nghe biết về anh, khi vài lần về thăm Hà Nội. Nhẽ nào, trên thì “các cụ” không ưa, giữa thì bạn bè ganh ghét, bảo “nó” ăn nói táo tợn thế mà vẫn được phong “giáo sư”, vẫn được “đi Tây”, chắc làm “điệp ngầm” hay là con bài “xả xú páp” của các “bố già”.

NS: Nước mình là “đố kỵ quốc”, về mặt Tử vi, có sao Hỏa kỵ ở ngay bản Mệnh đấy, Thân thì “cư thiên di”, ngày trước đi Nam, bây giờ đi Mỹ, lại có Thai Đào Hồng Hỉ xung chiếu, bằng chiếu, làm gì mà chẳng lắm… (Báo tự kiểm duyệt…). Còn lâu mới khá, bà chị ạ!

NB: Thôi để khi khác tiếp tục cuộc trao đổi kiểu “hóc búa” này, giờ đây, xin anh câu trả lời thật sự nghiêm chỉnh: Do những nguyên nhân và điều kiện lịch sử nào, mà nước ta bây giờ “phú quí giật lùi” làm vậy? Và cái “lối ra” là đâu?

NS: Tôi đang ở “Coọc-neo” (Cornell), tuần nào cũng ngồi đàm đạo với bố già Wolters, giáo sư người Anh, đến về hưu vẫn không chịu vô quốc tịch Mỹ, cực kỳ “mê” cái đời Trần của Việt Nam. Ông cứ ca ngợi: Nhà Trần nước anh là nhất thế giới thời trung cổ, nước bé tí tẹo mà 3 lần đánh thắng xâm lược Mông Nguyên, ông Võ Nguyên Giáp làm sao mà bì được với ông Trần Hưng Đạo? Nước lúc nào cũng có vua già, vua trẻ, cụ Hồ nhà anh có lúc nào giao cho bọn trẻ dưới 20 tuổi cầm quyền trị nước như ông Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông nhà Trần không? Cứ như tôi nghiên cứu, nhà Trần chỉ “kiểm soát” (control) dân chứ không “kèn kẹt” với dân, kiểu “quân sự cảnh sát” như ở nước anh hiện thời. Các vua thì nói chung sùng Phật, nhưng vẫn trọng Nho, trọng Lão, lại vẫn “phong sắc” cho các thần thánh dân gian, địa phương; họ đâu có độc chuyên ý hệ như những người mác-xít Cộng sản Việt Nam hôm nay? Ông Tuệ Trung, thời chiến thì làm tướng, thời bình lại làm sư, theo Thiền nhưng vẫn có thể ăn mặn, phóng khoáng mà phiêu du. Ông Hưng Đạo, cầm quân thì vững vàng, bại không nản, thắng không kiêu, vua trao quyền lớn mà không lạm quyền, tả hữu quanh vua có người nghi kỵ, ông ấy vẫn lấy một chữ “Thành” mà đối đãi (cụ Wolters rất giỏi chữ Nho và chữ Phạn). Rút cục, được đại thắng thì ông ấy lại rút lui về Vạn Kiếp, đọc sách, làm thuốc, chống gậy đi thăm thú dân tình, gần chết vẫn khuyên vua “nới sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Vua Trần “biết mình biết ta”, kẻ theo giặc mà biết hối cải vẫn rộng dung, kẻ nhất thời yếu lòng muốn hàng giặc, sau cũng không để bụng, cứ tùy tài mà khởi dụng. Họ làm vua đến hơn trăm năm mà đời vẫn thịnh trị.

Những người Cộng sản Việt Nam mới nắm sơ sơ quyền bính có hơn bố chục năm mà đã “khủng hoảng toàn diện”! Tôi nói thật, 76 tuổi rồi, chưa “bóc lột” của Việt Nam một đồng xu, bỏ phiếu mời anh qua đây, chẳng có ý gì khuyến dụ anh bỏ nhà bỏ Nga theo Mỹ.

Tôi thấy anh cũng là người khá, muốn chuyện trò với anh, chuyện Sử, chuyện ngôn ngữ thi ca, trước là vui tuổi già, sau cũng có ý nhắn nhủ anh: Học Nga, học Mỹ là rất cần, nhất là học cho được cái KHOA HỌC và tinh thần TỰ DO DÂN CHỦ của họ – điều này nước anh còn thiếu nhiều – nhưng trước hết nên học chuyện lịch sử nước anh, rồi quảng bá cho nhiều người đều biết. Nước anh nhỏ, mà có cái vốn to, là HÒA HỢP, vì lẽ gì ngày nay cứ chia rẽ nhau vì “ý thức hệ”? Mà nào có đáng gì, toàn ý thức hệ “vay mượn” chứ đã “bản địa hóa” (localized – ông già Wolters rất thích cái khái niệm này) được như tổ tiên các anh “bản địa hóa” được Phật, được Nho đâu mà đã vội công kích nhau. Nước anh, giai cấp phân hóa yếu, lẽ ra phải “đoàn kết” như ông Hồ vẫn kêu gọi (tôi không rõ ông ấy thành thật đến mức nào, nhưng lời lẽ của ông ấy, ứng xử của ông ấy ít có sai lầm nghiêm trọng như ông Stalin hay ông Mao). Rồi nhờ cái tảng nền tinh thần đó, mà thôi chiến tranh đi, đừng coi ai cũng là thù, thế giới giờ đây đổi khác rồi, anh xem, ở cái nước Mỹ này, có ai độc quyền độc đoán được đâu, người “Dân đóng thuế” họ là nhất, họ không ưa ai là sau 3-4 năm, kẻ ấy bại. Ở nước các anh, Dân không ưa ai nhưng kẻ đó nắm quyền là các anh sợ. Anh nên học lấy cái tinh thần “VÔ ÚY” (không sợ) của trí thức Lý Trần… Thôi, tôi nói dài nữa, mệt rồi…

Đấy, thưa chị, ông giáo sư ngoại quốc mà nói chuyện Sử Việt Nam cổ kim như vậy, tôi là giáo sư “lô can”, “nội hóa” còn biết nói với chị điều gì hơn được…

NB: Anh có “bịa” không đấy?

NS: Chị ở nước ngoài mấy chục năm mà không khá lên được! “Mít” vẫn hoàn “mít”!… Hè này chị sang đây đi, để xem “thằng tôi” dối trá hay là thành thực. Thôi khuya lắm rồi. Xin phép chị cho tôi đi “ngủ” để mai còn “thức” mà mang “trí tuệ” thi thố với Đời… Mong chị bỏ quả cho những lời lỗ mãng của sư hổ mang, không phải họ Lỗ tên Trí Thâm mà là họ Trần, tên Quốc Vượng!

NB: Chào anh, chưa hết nợ đâu đấy!

Bắc Mỹ, đầu tháng tư 1991

Ca Dao & Trần Quốc Vượng

Nỗi Ám Ảnh Của Quá Khứ

Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt là nửa sau thế kỷ XX.

Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến – đế quốc, thực dân – bành trướng, thiên tai, địch họa, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v… – tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau nhân thế, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…

Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng họa LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…

Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ vẫn mọc rễ sâu xa, nào Bắc/Nam, nào Cộng sản/không Cộng sản…

Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.

Với biết bao hệ lụy của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na là MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.

Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò, làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!

Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do, hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lay lất qua ngày…

Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.

Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho một lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng, là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.

Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được/phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải/được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.

Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là: “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao biết viết, biết in “Tướng về hưu”, “Phẩm tiết”…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v…

Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hóa Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các nhà “khoa học xã hội” Việt Nam: Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú! Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói như thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN mới nói ra như thế! Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù có no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn! Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuôi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ-trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, lừa dưới và nạt dưới!

Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và/là bạn trẻ của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò/bè bạn, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: Nếu như thầy mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh Phó tiến sĩ, thẻ đỏ Đảng viên và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay! Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”. Tôi thường nói đùa – như người Hà Nội vẫn thường đùa – anh ấy:

- Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!

Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”!

Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cùng làm việc dưới một mái trường Đại học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “ngụy lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn lựa làm “hàng mẫu không bán” – kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: Tớ thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần” tốt, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta cũng chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản động giai cấp” rồi! O.K! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy – và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).

Vậy thua thiệt thì DÂN ráng chịu!

Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó.

*
Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam”, biết bao là “hệ lụy”!

Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ – BÈ BẠN – VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi nay đã mất – cầu cho linh hồn bà ấy phiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn – vợ con – học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang nhãn hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa” mà thực ra là còn đang rất “kém phát triển” này: ông Ủy viên BCT ấy, kiêm Bí thư TƯ này, kiêm Bí thư Thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy “Cộng sản” hơn ai hết, nhưng thực ra thì ứng xử của ổng từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!

Khổ vậy đó! Cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese révolution sprang was both confucian and communist” (Cái môi trường tâm linh và văn hóa mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).

*
Ông giáo sư Từ Chi – một trong những bạn bè thân thiết nhất của tôi – từ một “cậu tú” ở Huế đi “Nam tiến” ngay sau ngày 23 tháng 9 và trở thành cộng sản, rồi năm 54 trở về học Đại học để trở thành nhà dân tộc học. Ông đi làm chuyên gia ở Tây Phi, thương một người con gái Hà Nội nhà nghèo vì chiến tranh mà lưu lạc mãi sang tận bờ sông Niger. Ông quyết đưa người phụ nữ bất hạnh đó trở về Tổ quốc chỉ bằng cách kết hôn với nhau, dù ông biết trước rằng bằng hành động “dấn thân” ấy, ông phải về nước trước thời hạn. Và cho đến 25 năm sau, ông không bao giờ được ra nước ngoài, dù ông không có bất cứ một hành vi gì phạm pháp. Cái án đó được phán quyết không theo “Luật hôn nhân và gia đình” của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành năm 1960, mà là theo đạo lý hủ Nho.

Về nước năm 65 qua ngả Moscow – ông dừng chân ở đó dăm ngày – gặp tôi ở quán cà phê Sính, ông rỉ tai tôi: “Chế độ Xô-viết không thể nào viable” (nguyên văn có nghĩa: không thể “thọ” được). Đấy là lời “tiên tri” đúng trước ¼ thế kỷ! Vì sao NƯỚC và ĐẢNG có những người trí thức giỏi đến thế mà bây giờ cả NƯỚC, cả ĐẢNG đều lâm vào tình huống “khủng hoảng toàn diện”?

Từ 65, cứ mỗi lần nghe thấy lời khuyến dụ tôi vào Đảng, ông lại bảo tôi: Tùy ông đấy, nhưng… nếu ông có vào thì đừng để người ta đuổi ông ra! Ông biết kỷ luật của Đảng ông là “kỷ luật sắt” mà tôi thì ông cũng biết quá rõ tôi là người “tự do”, tính ưa phóng khoáng, là người “bất cơ” (không chịu ràng buộc) theo chữ dùng để tự đánh giá mình của nhà sử gia họ Tư Mã bên Tầu!

Tôi hỏi ý kiến ông về tính chất Cách mạng Việt Nam. Ông trả lời:

Cụ Hồ bảo nước mình là một nước nông nghiệp, dân tộc mình là một dân tộc nông dân. Cứ đấy mà suy, thì cuộc “Cách mạng” bây giờ hẳn vẫn là một cuộc khởi nghĩa nông dân. Khác chăng là trước, khởi nghĩa nông dân do một số nhà nho – xuất thân nông dân – như Quận He, như Cao Bá Quát cầm đầu, bây giờ là do những người Cộng sản – cũng xuất thân ở nông thôn và có căn tính nhà nho, như cụ Hồ, như ông Trường Chinh… lãnh đạo. Ông đọc bài ông Nguyễn Khắc Viện rồi chứ, Confucianisme et Marxisme (La Pensée, No 105, Octobre 1962). Ông Viện là cộng sản và là con cụ nghè Nguyễn Khắc Niêm đấy!

Đầu thế kỷ XX, trong xã hội Việt Nam vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village Patriotism, chữ của Alexander Woodside). Yêu nước chống Pháp kiểu Nho của cụ Phan Bội Châu thất bại ở hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Và dòng trí thức Nho gia tàn lụi. Một số con cháu nhà Nho, một số con cháu nông dân, một số con cháu nhà công thương mới trở thành lớp trí thức Tây học. Một số ấy chấp nhận le fait colonial và trở thành công chức cho Tây, như ông cụ ông (kỹ sư canh nông), như ông cụ tôi (bác sĩ)… Một số khác, yêu nước hơn, mong áp dụng ở Việt Nam những ý tưởng chính trị cận – hiện đại đã được “chế tạo sẵn” (“ready-made” modern political ideas) ở châu Âu, từ những ý tưởng của “thế kỷ ánh sáng” thế kỷ XVIII đến những ý tưởng Mác – Lê thế kỷ XIX. Cái chủ nghĩa quốc gia của tiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu… kể cả cậu ruột ông, đã khởi xướng với Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập, khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. Còn lại cái chủ nghĩa quốc tế của Mác – Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những nhà Cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme. Người cộng sản Việt Nam có căn tính nông dân – Nho giáo đã gần Dân hơn với người tiểu tư sản Tây học ở thành thị. Họ đã vận động và tổ chức được phong trào nông dân và toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Kháng chiến là sự nối dài của Cách mạng tháng Tám.

Kháng chiến đã thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã bị hóa giải (décolonisation).

*
Dưới thời quân chủ – nông dân – nho giáo, ở Viễn Đông có một ước mơ đại đồng: “Thế giới ĐẠI ĐỒNG, thiên hạ vi CÔNG”. Ở đầu thập kỷ XX, trong một bài viết, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái chủ nghĩa Đại Đồng của Khổng Nho ấy rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Alexander Woodside nhận xét: Ông Mao phê phán rất dữ dằn Khổng Nho còn ông Hồ rất nhẹ nhàng với Nho Khổng. Xây “đời sống mới” năm 46, ông Hồ nêu khẩu hiệu của Nho Khổng: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ. Dạy đạo đức cho cán bộ, ông Hồ lấy câu của Nho Tống: “Tiên ưu hậu lạc”. Về giáo dục xã hội, ông cũng dùng những câu có sẵn của Khổng Mạnh, đại loại như “Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân…” (Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng…) hay là “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, v.v… và v.v… Đến Di chúc, ông cũng đưa vào một câu trích dẫn của Đỗ Phủ đời Đường: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”. Thơ chữ Hán của ông, có nhiều câu, ý phỏng theo Đường thi…

Nhưng cái mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Staline hay kiểu Mao (Staline Hoa hóa) dù đã ít nhiều Hồ hóa, Việt Nam hóa cũng tỏ ra không thành công trước thực tiễn “bướng bỉnh” của một nước Việt Nam nhỏ bé – tiểu nông.

Người Cộng sản Việt Nam đã lầm khi tưởng rằng dù với cơ cấu kỹ thuật cũ, ít thay đổi, cứ làm đại việc công hữu hóa (quốc hữu hóa, tập thể hóa, hợp tác hóa…) thì vẫn xóa bỏ được áp bức bóc lột, cải tạo xã hội chủ nghĩa thành công. Hóa ra là một công thức giản đơn:

CÔNG HỮU HÓA + CHUYÊN CHÍNH (VÔ SẢN) = (QUÁ ĐỘ sang) CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tôi và ông Từ Chi bàn mãi về chuyện này. Sau thời công xã nguyên thủy, chế độ áp bức bóc lột đầu tiên nảy sinh ở đất Việt với chế độ “thủ lĩnh địa phương”, lang đạo, phìa tạo (tiếng Anh tạm dịch là local chieftains) khi ruộng đất còn gần như y nguyên là “của công” nhưng “dân đen” là tiểu nông tản mạn còn thủ lĩnh giữ quyền “thế tập” theo dòng máu. Dân gian nói giản dị:

Trống làng ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng!

Thì giờ đây, ruộng hợp tác, của kho hợp tác, bọn bí thư, chủ nhiệm, kiểm soát đều ở trong một cơ sở Đảng chuyên chính, chúng sẽ “vẫy vùng” thành riêng thôi! Ba năm liền 76-79, tôi đi Định Công Thanh Hóa, khảo cổ (ngày), khảo kim (đêm). Và 3 ngày liền cuối năm 79, tôi thuyết trình trước Tỉnh ủy Thanh Hóa về sự phá sản của mô hình Định Công (người ta tuyên bố “Định Công hóa” toàn tỉnh Thanh Hóa, với bài báo tràng giang “Bài học Định Công” của Bí thư TƯ Tố Hữu). Thính giả cứ bỏ dần trước sự “vắng mặt” của Bí thư, Phó bí thư Tỉnh ủy (người ta phải “nhìn Trên” để định thế ứng xử). Còn một ông thường vụ phụ trách tuyên huấn kiên trì nghe 3 ngày, để sau này khi Định Công phá sản hoàn toàn, đã khoa trương tuyên bố, chứng tỏ ta đây sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo khác:

- Lúc bấy giờ (79), ai dám nghe TQV nói, ngoài tôi? (ông ta bây giờ là Bí thư Đảng ủy Bộ Văn hóa – Thông tin).

Năm 82, tôi đi Liên Xô thuyết trình khoa học. Bài viết của tôi bằng tiếng Việt, Dương Tường dịch sang tiếng Anh, Từ Chi dịch sang tiếng Pháp, bà Nona Nguyễn Tài Cẩn dịch sang tiếng Nga. Bà Nona bảo: Bài của anh hay lắm, nhưng thuyết trình ở Paris thì hợp hơn, nói với trí thức nước tôi (Liên Xô), họ không hoan nghênh đâu! Mà quả nhiên!
Về nước, tôi briefing cho bạn bè nghe về Liên Xô và nói lén qua hơi men: “Dứt khoát không”! Và đấy là lần duy nhất tôi “được” đi Liên Xô. Đầu năm 83, GS. Phạm Huy Thông cho đăng bài của tôi lên trang đầu Tập san Khảo cổ học (*).

*
Xã hội Việt Nam truyền thống cũ có nhiều nét hay, vẻ đẹp nên ở cạnh nước lớn, bị xâm lăng, đô hộ, đè nén hàng ngàn năm vẫn trỗi dậy phục hưng dân tộc, “trở thành chính mình”. Nhưng xã hội quân chủ – nông dân – nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” – nói theo các nhà khoa học hôm nay:

- Ở trong NHÀ thì có thói GIA TRƯỞNG, tuy tâm niệm “Con hơn cha là nhà có phúc” mà vẫn không thích “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn vịt”.

- Ở trong LÀNG thì có nạn CƯỜNG HÀO, với tinh thần ngôi thứ (csprit de préséance), chiếu trên, chiếu dưới, “Miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”.

- Ở trong VÙNG thì có nạn SỨ QUÂN, thủ lĩnh vùng thích “nghênh ngang một cõi”, gặp dịp là sẵn sàng “rạch đôi sơn hà”.

- Ở cả NƯỚC thì có nạn QUAN LIÊU, quan tham nhũng, tân quan tân chính sách, luật không bằng lệ, kiện thì có kiện nhưng “chờ được vạ má đã sưng”, nên chi cứng đầu thì dại, “khôn ngoan” nhất là “luồn cúi” và trí thức “lớn” thì cũng tự an ủi “Gặp thời thế thế thời phải thế”. Vì ngoài thì “bế môn tỏa cảng”, trong thì “chuyên quyền độc đoán”, cho nên sĩ khí ắt phải bạc nhược.

Thế giới giờ đây thay đổi đã nhiều. Song trong nước mình thì chưa đổi được bao nhiêu. “Nỗi ám ảnh của Quá khứ” vẫn còn đè nặng.

Chỉ có một cách để “đổi đời” cho DÂN, cho NƯỚC: Đó là xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một nền kinh tế công – nông nghiệp với thị trường tự do, một tư tưởng cởi mở, rộng dung, khoáng đạt, tự do, một nền văn hóa đa dạng, giữ cho được bản sắc tốt đẹp của dân tộc nhưng biết hòa nhập với thế giới, với nhân gian…

Tóm một chữ, thì không phải là chữ “ĐẤU”, mà là chữ “HÒA”: HÒA BÌNH, HÒA HỢP, HÒA THUẬN, HÒA GIẢI…

Chẳng những NHÂN HÒA mà cả NHIÊN HÒA (Hòa hợp với thiên nhiên, tự nhiên). “Hòa nhi bất đồng”… Mong lắm thay!

Cornell, 1/5/1991

TRƯỜNG XUÂN
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 635

——————–
(*) Về những nhân tố tự nhiên – số dân – kỹ thuật – ý thức trong văn minh nông nghiệp Việt Nam (Tạp chí Khảo cổ học, số 2 – 1983, Hà Nội).
Đăng trên Diễn đàn người Việt, số xuân 1991 (Hoa Kỳ) và Đất Mới – tháng 5-6/1991 (Hoa Kỳ).

Ý Kiến bạn đọc