Văn học nước ngoài

Nhà thuyền

 

Mấy thằng nhóc lại vào khu rừng phía sau nhà của Henry để nghịch ngợm. Ông nhìn chúng qua ô cửa sổ trong khi ấm nước sôi sùng sục, và ông tự hỏi có nên đuổi chúng đi không? Một trong mấy thằng nhóc cầm cái rìu nhỏ, vung vẩy trên đầu. Henry đã phát hiện 4 cây trong rừng sồi bị đẽo sâu vào thân trong tháng vừa rồi, tuy vậy ông không phản ứng gì về chuyện đó. Ông có thể tìm biết cha mẹ chúng là ai và gọi họ để trình bày vấn đề, nhưng ông không muốn chạm mặt họ và ai mà biết được làm vậy thì có tốt gì hay không với những bậc bố mẹ hiện thời. Ông quyết định mặc kệ chúng và đến trường kỷ ngồi uống tách cà phê và đọc tờ báo địa phương. Lửa lò sưởi reo lách tách xèo xèo bên cạnh ông. Hôm nay là một ngày trời nhợt nhạt, cây cối kêu răng rắc như những tấm ván sàn cũ và băng trên sông kêu lắc rắc khi thủy triều dâng lên rồi co lại.

Hai con chó của Henry, là Bird và Willy, bật dậy tru lên khi một viên đá ném qua cửa sổ nẩy vào phòng khách. Mấy thằng nhóc đã gây rắc rối cũng như thế này từ mùa hè vừa rồi, khi ba khu dân cư mới chỉ cách đường cái một dặm được hoàn thiện và những gia đình trẻ đến khu vực đó định cư lần đầu tiên trong một thập kỷ.

“Giờ thì chúng ném đá vào chúng ta”, Henry nói với hai con chó.

Ông đi thật nhanh ra cửa, rồi lao ra trời lạnh nhưng tất cả những gì bọn nhóc để lại là tiếng bước chân lạo xạo trên đường sỏi và một mùi quen thuộc làm Bird và Willy bối rối. Hai con chó theo Henry đi bên hông ngôi nhà nhỏ của ông; trước kia từng là một nhà thuyền cầu kỳ, ở đó Henry đã sống 18 năm đầu đời. Ông xem xét ô cửa kính bị bể, rồi lấy những mảnh gỗ dưới hiên nhà, búa và đinh từ trong kho chứa đồ.

Henry khó mà giận lâu bọn trẻ, vì chúng làm ông nhớ lại anh trai. Ông nhớ trò trượt băng rượt theo anh trên hồ gần khúc cua ở đường Gaffney và vất vả đạp xe để bắt kịp anh trên đường đến bãi biển hay rượt theo anh qua cánh đồng ngô trong cái nóng oi bức của một buổi chiều tháng 8. Henry luôn luôn đi theo anh trai, nhưng ông không theo anh ra ngoài cửa hàng tạp hóa Cherry & Webb ngày mùa đông năm ấy khi một người đàn ông lạ bước vào, cúi xuống hai anh em, nói nhỏ: “Hai cậu là người may mắn đã thắng giải lớn. Chúng tôi có hai chiếc xe đạp hiệu Schwinn Flyer bên ngoài, đang chờ các cậu”.

*
Henry sửa lại cửa sổ bị bể, lót mặt trong bằng giấy bìa và quét sạch mảnh kính bể trên nền nhà. Rồi ông đến ngồi trên ghế trường kỷ tiếp tục đọc báo. Ông không thể tập trung được. Bọn nhóc nghĩ ông là một loại quái vật nào đó, chúng sợ ông và sướng run lên khi quậy phá ông với mức độ ngang bằng với nỗi sợ của chúng. Mùa thu vừa rồi, vào một tối trời trong, qua cửa sổ phòng ngủ của mình, ông nghe tiếng chúng thì thầm. Một trong mấy đứa đó nói Henry cột mắt cá chân trẻ em treo ngược trong rừng này và bỏ cho chúng chết đói hay bị kên kên ăn thịt. Thằng nhóc đó nói chắc chắn chúng đang đứng ở một khu vực có tàn tích của người – có thể tất cả những đứa trẻ trai và gái mất tích từ thế kỷ trước chết ở đây – và Henry nằm yên trong giường đêm đó, buồn bã nghe thằng nhóc nói những chuyện rùng rợn đó về ông.

Tên sát nhân giết anh trai của ông không được tìm ra. Người ta cho rằng thủ phạm từng là một người làm nghề đánh lưới trôi hay là một ngư dân thất nghiệp cuối tuần ở cảng; cảnh sát cho rằng thủ phạm không phải là người địa phương, tuy nhiên Henry không thể đoán được vì sao mà cảnh sát đi tới kết luận đó. Khi còn là một cậu bé, ông thường mơ thấy một người đàn ông, mặt ông ta khuất trong bóng tối, có những lỗ hổng trống rỗng ở mũi, miệng và hai điểm sáng lóe ở chỗ đôi mắt. Trong nhiều năm trước khi Henry thực sự hiểu những gì đã xảy ra, Henry tưởng tượng người đàn ông ăn thịt anh trai ông từng miếng nhỏ trên một cái bàn gỗ, dài – kiểu của phù thủy hay người khổng lồ trong truyện cổ tích.

Những thằng bé trở lại trong vòng một giờ và Henry ngạc nhiên vì sự bướng bỉnh của chúng. Những tiếng la kích động vang lên ở bến thuyền chỉ cách nhà ông một quãng ngắn, vì thế Henry lại đi ra cửa sổ phòng khách để nhìn ra ngoài vịnh nhỏ. Sáu thằng nhóc đứng ở ven sông la lên khuyến khích thằng nhỏ nhất trong bọn bước ra trên mặt sông đóng băng không cứng chắc. “Khỉ thật!”, Henry lầm bầm. Ông mặc vào chiếc áo khoác mùa đông, đội nón, rồi đi ra ngoài với Bird và Willy nối gót ông.

“Mấy cháu tránh xa mặt băng ra!”, ông nói to.

Bọn trẻ đang đứng ven bờ chạy vụt lên đường, bỏ mặc cho thằng bạn chúng một mình chạm mặt Henry. Henry để chúng đi, nhưng thằng bé trên sông hoảng sợ đi ra xa bờ hơn, đến chỗ luồng nước chảy sâu bên dưới và lớp băng trên mặt hầu như không bao giờ đông cứng đúng mức, ngay cả sau khi có một đợt trời lạnh dài như đợt này. Thằng bé không lớn hơn 8 hay 9 tuổi. Nó bước tới chỗ một khe hở trong lớp băng không dễ nhìn thấy, vì sợ Henry quá. Tất cả những ngôi nhà khác gần sông thì vắng người vào thời điểm này trong năm; Henry là người lớn duy nhất trong vòng nửa dặm.

“Dừng lại!”, Henry la. “Ngoài đó không an toàn đâu!”.

Sau khi bước thêm vài bước thằng nhóc đến chỗ luồng nước nguy hiểm và chân đi ủng của nó chọc vào lớp băng tuyết tan như thể đó chỉ là một lớp bèo trên mặt hồ mùa hè, và với bước chân đó thằng bé lọt thỏm xuống nước và sau đó là sự yên lặng tuyệt đối.

So-543--Anh-minh-hoa---Nha-thuyen---Anh-1

Henry bước ra mặt sông băng không kịp suy nghĩ. Ông bị trượt chân ngay và té ngửa với một tiếng rắc giống như một dây cáp thép bị kéo căng đến điểm đứt, nhưng ông không đơn độc: còn Bird và Willy. Hai con chó ngoan, hào hiệp, hai con chó không cần gì trong khi huấn luyện ngoài sự thích nghi di truyền từ cả ngàn thế hệ và một ông già cô độc nuôi nấng chúng – chúng phóng ra lớp băng trắng như hai con ngựa sôi máu đang đua trên đồng cỏ.

Henry bật người lên quì gối, ông gượng đứng lên và lại bắt đầu đi đến chỗ thằng nhóc rơi xuống nước. Hai con chó của ông chạy trước ông giống như đuổi gà hay chim cút khỏi một đám bụi gai, và chúng nhảy ùm xuống chỗ băng bể nơi mà thằng nhóc vừa ló lên và đang vẫy tay cầu cứu. Henry bước nhanh, nhưng không nhanh quá để tránh nguy cơ trượt té lần nữa; ông biết tất cả sẽ nhanh chóng bị đông cứng đến chết nếu lại phạm một sai lầm như thế.

Ông chưa bao giờ liều lĩnh đi trên sông vào mùa đông, nhưng mỗi mùa hè ông và anh trai ông chắc chắn sẽ làm lật úp chiếc xuồng của cha trên ngay quãng sông này. Hai anh em sẽ cười trong nước rồi lật thuyền lại tát nước ra, và có những ngày họ sẽ đem bánh xăng-uých ra những cù lao ở giữa dòng sông để chơi trò Robinson Crusoe trên hoang đảo cho tới khi mẹ rung chuông gọi về dùng bữa.

Henry vẫn còn chán không muốn nhìn những hòn cù lao đó nổi lên trên lớp băng. Ông đã rời bỏ chốn này khi còn là một thanh niên để tự xây dựng đời mình ở thành phố Chicago, nhưng sau khi về hưu cách đây mấy năm – đã ly dị và không có con – ông quyết định đến lúc trở về nhà. Cái nhà thuyền cũ đã được tân trang và theo thị trường thì đó là một ngôi nhà một phòng ngủ, và ông nghĩ nhà thuyền sẽ là nơi thoải mái để sống những năm cuối đời mình trong một khu vực mà ông và anh trai từng tung hoành. Nhưng sự việc hóa ra ngược lại – những thằng nhóc dường như chẳng tôn trọng ông chút nào, những nhà thầu xây dựng đốn hạ cây rừng và thiết kế những biệt thự hiện đại, đó là sự phục sinh những giấc mơ về kẻ đã giết chết anh trai ông. Nhiều đêm, Henry lang thang ra bến thuyền để nhìn ra sông cho đầu óc thanh thản, và trong một dịp như thế ông thấy hai điểm sáng đèn trên một hòn cù lao nhỏ cách bờ chừng trăm mét. Ông cảm thấy khó mà cử động vì sợ hãi, nhưng rồi ông bình tĩnh lại và có thể nhìn hai ngọn đèn đó một lúc. Dù vậy, sau vài phút ngắn ngủi, ông lờ mờ thấy một bóng người – hay giống như người – từ hòn cù lao nhỏ vẫy tay mời gọi ông, và ông bỏ chạy về nhà nằm trên sàn với hai con chó, mong rằng ông không bị loạn trí.

Bước trên lớp băng sáng lóa, Henry còn cách chỗ băng bể chừng 3 mét. Hai con chó của ông bơi đứng ở hai bên thằng nhóc để giúp nó, cố nâng nó lên khỏi vũng nước lạnh buốt. Tiếng băng vỡ dưới chân mang ủng của Henry, và ông không thể bước xa hơn nữa mà không té xuống. Thằng nhóc nhỏ bé và tái xanh; nó duỗi tay về phía Henry và Henry nằm sấp chầm chậm trườn tới mép băng bể, ở đó lớp băng mỏng cuộn xuống phía dưới ông.

“Cầm lấy tay ông”, Henry nói. “Băng sẽ bể”.

Thằng nhóc ngập ngừng rồi duỗi tay tới, và với sự giúp đỡ của Bird và Willy – chúng cố gắng bơi đứng để nâng thằng bé lên cao hơn – thằng bé nắm được cánh tay của Henry, ngực nó tựa vào mép băng, từ bụng trở xuống vẫn ngập trong nước.

Kéo chậm từng chút như một con chó giật sợi dây thừng, Henry gắng đưa thằng bé lên khỏi mặt nước, nhưng bây giờ thằng bé run cầm cập và có vẻ không thể tự đứng được.
“Chân cháu”, thằng bé vừa thở dốc vừa nói.

Henry ẵm thằng bé lên và ôm nó trong tay như ôm một bó củi. Ông bắt đầu đi về nhà và nghe tiếng chó của ông tru từ phía sau lưng. Nước sông gần đông lại nhưng hai con chó này đã quen với thời tiết lạnh gắt ở vùng hồ và suối ở Canada và có thể chịu đựng lâu hơn chút ít bằng cách bơi tại chỗ. Thằng bé rên trong khi Henry bước lên chỗ đất khô, và rồi sau một chặng ngắn họ đã vào trong không gian ấm áp của nhà thuyền, ánh lửa lò sưởi ném những cái bóng của họ lên tường. Henry đặt thằng bé bên cạnh lò sưởi và quấn nó trong cái chăn len.

“Đừng để bị cháy đấy”, ông bảo thằng bé. “Cháu ngồi bên lò sưởi nhưng đừng quá gần vì hiện giờ da cháu chưa có cảm giác. Ông đi lo cho mấy con chó”.

*
Gió quật những cành cây trụi lá và chúng cạ vào những thân cây gần bên. Henry và anh trai từng chơi đùa trong mọi vũng nước và con mương của vùng đất rừng này, trên mọi gò đất. Hai anh em bắt ếch trong những cái hố và bắt kỳ nhông núp bên dưới đám rêu nơi các thân cây ngã trên đất; hai anh em liều lĩnh chen qua những nhánh cây và cây thạch nham và đu đưa ở những nhánh cây dương cao như có cả chùm dừa trên ngọn. Rồi khi Henry được tám tuổi rưỡi, khu rừng chỉ còn là của một mình Henry và tất cả những gì cậu làm trong rừng là lang thang, đá tung những đám lá rụng và ném đá vào những gốc cây. Xác của anh trai cậu được phát hiện vào tháng 3 – ba tháng sau khi anh cậu bị mất tích – bởi một người nông dân khi cày cánh đồng để gieo hạt, và Henry theo ba mẹ đến văn phòng cảnh sát điều tra tuần đó ngồi trên cái ghế da màu đen trong phòng chờ. Cha của cậu đòi vợ chồng ông được phép nhìn thấy con trai, cuối cùng cơ quan điều tra chấp nhận sau một cuộc bàn luận thầm thì.

“Tôi nói để ông biết”, nhân viên điều tra nói với cha của cậu. “Việc này sẽ không đem lại cho ông chút bình yên nào đâu”.

Nhân viên điều tra đưa ba mẹ cậu đi và Henry ngồi chờ trên chiếc ghế bọc da nhìn xuống giày và thở không khí có mùi mốc. Thậm chí hồi ấy, ở tuổi đó, cậu đã chờ đợi tiếng thét của mẹ mở màn cho cơn khóc cậu chưa từng chứng kiến, Nhưng thay vì tiếng khóc thì lại là một sự im lặng nghẹt thở làm thui chột thính lực của cậu, cho tới khi tiếng giày của ba mẹ cậu và nhân viên điều tra lớn hơn.

“Cậu ấy bị lưỡi cày cắt”, nhân viên điều tra thì thầm. “Tôi bảo ông là cậu ấy bị lưỡi cày cắt”.

Ba người lớn đi tới khúc quanh, cha của Henry mặc bộ vét đen thường mặc và mẹ cậu mặc bộ đồ tang mà bà đã không chịu mặc cho tới khi chắc chắn con bà đã chết. Cha cậu đặt một cánh tay quàng trên vai mẹ cậu, và cả hai nhìn đăm đăm xuống nền như thể giấu mặt tránh một trận mưa đá dữ dằn. Cái gia đình đã bị thu nhỏ lên xe về nhà và lại bận rộn với cuộc sống của họ, nhưng có những giai đoạn dài – nhiều tuần và nhiều tháng và thậm chí có vài năm – Henry không thể nhận ra cha mẹ. Thỉnh thoảng họ như hai người lạ tạt qua nhà để làm người thân của cậu.

Ông chạy trong khí trời lạnh ngắt tìm mấy con chó và nghĩ về thời xa lắc đó. Trên sông ông thấy Bird đã bò lên khỏi mặt nước và đang nằm trên lớp băng cách bờ một quãng. Con chó nghe tiếng chủ đến. Đuôi nó vẫy và nó cố đứng dậy nhưng hai chân nó có vẻ vô dụng và nó chỉ nằm đó, thở dốc và run. Chỗ khe băng hở không có gì. Henry gọi Willy, nhưng không có dấu vết gì của nó, vì thế Henry đứng bên Bird và ẵm nó lên cũng theo cách ẵm thằng bé. Không có cách gì tìm Willy, vì không thấy nó đâu trong tầm nhìn và nếu nó đã leo lên được rồi thì màu lông của nó đã nổi bật trên nền tuyết trắng. Chúng bị bỏ lại chỉ trong 10 phút ngắn ngủi, và giờ thì nó đã mất. Lẽ ra Henry nên nán lại chút nữa để kéo hai con chó lên để chúng có cơ hội tự đi về nhà. Nhưng ông đã cứu thằng bé – đó là điều quan trọng.

Lần thứ hai trong ngày, Henry quay về nhà với một sinh vật lạnh cóng trong tay. Thằng bé đang hồi phục. Nó ngồi trên lò sưởi với cái chăn len trùm trên đầu, và nó ngước nhìn, mắt mở to ngấn lệ khi Henry bước vào nhà thuyền với con chó trong tay ông. Henry đặt Bird bên cạnh lò sưởi và bắt đầu xoa hai bên hông nó để làm ấm cho nó. Con chó thở những hơi ngắn với cái lưỡi yếu ớt le ra.

“Cháu có ổn không?”, Henry hỏi thằng bé.

“Cháu đã gọi cho mẹ cháu bằng điện thoại của ông”, thằng bé nói nhanh. Nó chồm tới Bird và tham gia vỗ về con chó. “Còn con chó kia đâu?”.

“Willy không thoát được”, Henry nói. “Con này là Bird, là mẹ của con Willy”.

“Nó có chết không?”, thằng bé hỏi. Thằng bé nói giống như nó chỉ mới nghĩ về chuyện đó – về cái chết của một con thú cưng được yêu thương trong gia đình hay là cái chết của ông nội – và bị thu hút lạ lùng bởi ý niệm đó.

“Ông chắc nó đã chết”, Henry nói. “Nếu không thì ông đã ở ngoài đó để tìm nó”.

Henry ném hai khúc gỗ vào lò sưởi. Ông ngồi xuống bên thằng bé và họ tiếp tục vỗ về Bird, gãi tai nó gọi nó là chó ngoan. Sau một lúc thì Bird ngủ; hơi thở nó bắt đầu đều và có thể nó sẽ bình thường. Lúc ấy ánh sáng của một cặp đèn pha chiếu qua cửa sổ nhà Henry. Một chiếc xe tải đậu lại bên hông nhà và cả hai cửa xe bật mở.

“Ông có nói với mẹ cháu về con chó đã chết không?”, thằng bé hỏi.

“Ông sẽ không kể”, Henry nói. Ông vừa nói hết lời, môi ông run lên và ông cảm thấy cổ họng ông có thể tắc nghẹn nếu ông không khóc.

Thằng bé đặt tay lên vai Bird và cụng trán nó vào đầu con chó như vị linh mục thực hiện nghi lễ với tín đồ vào lúc buồn đau nhất. Khi thằng bé đứng lên, Henry dắt nó ra cửa và mở cửa ra không gian lạnh ngắt, bên ngoài một người đàn ông và một người đàn bà đứng bên nhau. Người đàn ông bắt tay Henry và cảm ơn ông, sau đó họ ra đi – sung sướng vì lại là một gia đình đoàn tụ. Rồi Henry quay vào nằm xuống bên cạnh Bird và nghĩ đến Willy, nó vẫn còn là một con chó trẻ mà bây giờ đã chìm ở đâu đó bên dưới lớp băng. Ông mong sao nó không mắc kẹt trong lớp bùn để rồi một ngư dân nào đó sẽ vớt lên trong mùa xuân, ông mong nó tìm thấy được những luồng nước không đóng băng và đã bắt đầu một hành trình dài – mũi hếch lên trước, chân trước của nó duỗi ra như thể nó đang lao qua cánh rừng rượt một con thỏ hay hươu.

(Từ The boathouse)

So-543--Tim-Griffith

Tim Griffith Sống Tại Thành Phố Boise, Bang Idaho, Hoa Kỳ. Ông Tốt Nghiệp Đại Học Boise State Khoa Sáng Tác Và Là Phó Biên Tập Tạp Chí Văn Học The Idaho Review Của Trường. Ông Cũng Là Giáo Sư Dạy Khoa Sáng Tác Ở Trường Đại Học Này.

Tim Griffith (Mỹ)
Võ Hoàng Minh (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 543

Ý Kiến bạn đọc