Giới thiệu sách

Nhà thơ Trương Chính Tâm: “Khi thành phố yêu nhau, cọng lá thôi buồn…”

Sát thềm năm mới Bính Thân, nhà thơ Trương Chính Tâm vừa kịp ra mắt tập thơ có cái tên rất lạ “Tình yêu rất bận lên đường” vào ngày 10-1-2016 tại Hội trường Trung tâm Bồi dưỡng chính trị quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

Tập thơ khá dày, trình bày trang nhã với những tiểu đề làm đường dẫn cho người đọc: Chùm thơ “Thành phố của người thợ trẻ”; chùm thơ “Hương sắc ngoại ô”; chùm thơ “Tuyến đầu ta hát”; chùm thơ “Con đi đất lửa hoa hồng”; chùm thơ “Rằm trên sông chợ Đệm”; chùm thơ “Con đường về thành phố”; chùm thơ “Trên bến xưa”; chùm thơ “Từ thành phố này qua những chuyến đi xa”; chùm thơ “Từ thành phố này nhìn ra biển lớn”.

Bia-sach-Tinh-yeu-rat-ban-len-duong

Ngoài ra, trong tập thơ thứ 2 này còn có các bài giới thiệu của nhà thơ Chim Trắng, VS.TS Nguyễn Chơn Trung – Thiên Lý, Hoàng Vũ Quân… và một bài tự bạch của tác giả.

Có nhiều người đã nhận xét, thơ của những người làm thơ trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh thì toàn mùi súng đạn, chẳng có hương vị tình yêu tí tẹo nào cả. Nhưng thưa, vừa ngay câu đầu tiên của bài thơ được lấy làm tên tập thơ của nhà thơ Trương Chính Tâm, đã thấy sự lãng mạn rực sáng như những chùm pháo bông trong giờ khắc giao thừa “Khi thành phố yêu nhau. Cọng lá thôi buồn…” (Tình yêu rất bận lên đường, tr.58), hay “Chân đạp lên Gò anh nhớ bụi Mây xưa/ Mơ được cùng em hôn cát vàng, lau sậy trắng/ Từ xa vắng, tiếng gà trưa óng ánh/…” (Gò Mây, tr.106) và từ đó, xuyên suốt tập thơ, người đọc sẽ còn nhìn thấy cái nồng nàn, ngọt ngào của tình yêu trải dài, khi ẩn, khi hiện trong những bài thơ đã được tác giả viết từ rất lâu, ví dụ như bài “Tình yêu rất bận lên đường” được ghi chú là viết vào ngày 3-12-1978, tức đã gần 40 năm!

Nhà thơ Chim Trắng đã nhận thấy trong thơ Trương Chính Tâm “… mang đậm màu sắc trữ tình nhưng không thiếu cái cốt lõi của cuộc sống. Có lẽ đó là do sự từng trải qua một thời vật lộn với kẻ thù trong đô thị bằng ngòi bút và một thời như một chiến sĩ cầm súng. Cái tình không thiếu vắng trong thơ anh…”. Bởi thế, khi tôi hỏi anh: – Nếu lấy mốc từ năm 1975 thì đến nay đã được 40 năm, sẽ có những cái quên và những điều mãi mãi đọng lại. Anh có thể cho biết điều khiến anh không thể quên là gì không? thì nhà thơ Trương Chính Tâm đã bộc bạch rằng: – Đó là sau Hiệp định Paris 1973, chúng tôi không ảo tưởng về một nền hòa bình trên giấy hoặc là một chiến thắng mà tự nhiên kẻ thù dễ dàng trao tặng cho ta. Cho nên ngoài việc chuẩn bị cho lực lượng tiến công của đoàn quân chủ lực thì ở đô thị, chúng tôi cũng tham gia vào sự chuẩn bị của đoàn quân nổi dậy. Tháng 8-1974, tôi được đưa từ căn cứ Thanh An, Bến Cát, Dầu Tiếng (Bình Dương) qua sông Thị Tính về Sài Gòn, đi theo đường hợp pháp để nối lại cơ sở và tổ chức các trung tâm công khai của học sinh Sài Gòn. Tôi được giao là phải chỉ đạo và phối hợp tiếp tục dấy lên một số phong trào yêu nước của đô thị trong giai đoạn sau 1972 bị địch đàn áp rất gay gắt. Thế là một số phong trào được ra đời và nuôi dưỡng. Đó là phong trào nhân dân cứu đói với nhiều hình ảnh rất cảm động: cả gia đình phải uống thuốc tự tử; Linh mục Phan Khắc Từ đi hốt rác. Tôi có viết và đăng báo Học sinh bài thơ “Về núi tối rồi” (Đi giữa mùa xuân). Đó là phong trào chống tăng giá giấy và đàn áp báo chí dẫn tới cuộc biểu tình “Ký giả ăn mày” ngày 10-10-1974 tại đường Lê Lợi (Q.1). Tôi có viết bài thơ “Trả tự do cho mỗi chữ mỗi lời” đăng trên báo Điện Tín để phát động cuộc đấu tranh này. Sau đó chúng bắt 18 ký giả giam tại Tổng nha Cảnh sát và Nha đô thành Sài Gòn như: nhà văn Vũ Hạnh, nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Kiên Giang, nhà báo Ký Ninh… (trong đó có tôi cũng bị bắt chung). Đó là phong trào chống tham nhũng do Linh mục Trần Hữu Thanh khởi xướng ở một số nhà thờ và vùng Công giáo. Đó là phong trào đấu tranh cho hòa bình được tổ chức kỷ niệm Cách mạng tháng tám và Quốc khánh 2-9 tại công trường Quách Thị Trang (chợ Bến Thành) do anh Lê Hoàng, Đoàn trưởng Đoàn học sinh Sài Gòn đứng ra tổ chức. Sáng hôm đó, tôi đã cho đăng bài thơ “Bông Trang” kèm theo ảnh Quách Thị Trang trên trang đầu báo Tin Sáng để cổ vũ. Đó là những tháng năm chúng tôi tham gia củng cố, thành lập lại các tổ chức, đưa cán bộ từ căn cứ về lại Sài Gòn bố trí vào các trường, phường, xí nghiệp. Đỉnh cao nhất là Thành đoàn do đồng chí Trương Mỹ Lệ (quyền Bí thư) từ đầu năm 1974 đã tổ chức lực lượng vào 5 điểm khởi nghĩa ở: Bàn Cờ (Q.3), Khánh Hội (Q.4), Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Sơn Hòa (Tân Bình). Mỗi nơi đều có trụ sở, thành lập chi bộ, chuẩn bị lực lượng quần chúng nổi dậy, có cờ, vũ khí. Các tổ chức trung tâm công khai của học sinh mà tôi phụ trách cũng rất hừng hực khí thế chiến đấu: Tổng đoàn học sinh Sài Gòn, Đoàn học sinh Sài Gòn, Văn Đoàn học sinh Sài Gòn, Đoàn thiếu niên Phù Đổng… Các cơ sở bí mật khối tôi phụ trách gồm 50 Hội viên, Đoàn viên, Đảng viên đều ở tư thế của một cuộc đấu tranh cuối cùng. Tuy nhiên, gần đến 30-4 địch cũng đánh hơi và chúng bắt giam rất nhiều cán bộ, cơ sở của ta. Sự giẫy giụa cuối cùng của bầy thú dữ. Người văn nghệ sĩ qua mọi thời đại, phải là chứng nhân của lịch sử, làm ra lịch sử, sáng tạo lịch sử, phản ánh hiện thực khách quan của lịch sử, đồng thời cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, chính trị, tư tưởng. 40 năm đi qua và chặng đường đi tới đó chẳng phải là hành trang đầy ắp niềm tự hào, tấm lòng cao cả của mọi người chúng ta hay sao?

Lạ thiệt, những điều khiến nhà thơ Trương Chính Tâm không thể quên suốt hơn 40 năm dài, không có điều nào anh dành cho thơ cả! Nhưng những ngày cuối năm thì lại làm anh bâng khuâng vu vơ buồn, và tôi đã vô tình nhìn thấy góc khuất ấy từ những câu thơ “Con rầy nâu cắn lúa đồng em/ Gió cuối năm hiu hiu đỏ ngọn/ Bồ lúa mẹ vơi đi. Em tuổi lớn/ Áo mới còn may kịp Tết về không?…” (Cuối năm ở Hốc Hưu, tr.98).

P.N. Thường Đoan
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 387

Ý Kiến bạn đọc