Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nhà phê bình ở đâu trong thời của bình chọn

Câu chuyện phê bình nghệ thuật vốn không phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Bởi lẽ mọi phương pháp đều có sự “đỏng đảnh”, chưa bao giờ có một phương pháp tuyệt đối cho mọi đối tượng. Vì vậy những bài viết về cách phê bình, về chuyện của người làm phê bình và chức năng của người phê bình như thế nào cho đúng là cần thiết, đặc biệt trong hiện thực ngày nay đôi khi người ta hay đánh đồng phê với bác bỏ, bình với công việc của người tiếp thị sách, lăng xê ca nhạc.

“Thời hiện đại, nói chuyện làm thơ, sao mà “dị” (từ địa phương nghĩa là xấu hổ) chỉ còn dăm ba bạn thơ ngồi lại với nhau. Nhưng thơ không chết mà nó sống như một nghiệp dĩ của những con người “nôn nao cúi xuống bao nhiêu ý tứ mịt mờ giữa nhộn nhịp vần điệu ngổn ngang, với ước nguyện chia sẻ ánh mắt bơ vơ phía đồng nghiệp nhọc nhằn trái tim giăng mắc đa đoan” (Lê Thiếu Nhơn).

Anh-minh-hoa---Nha-phe-binh-o-dau-trong-thoi-cua--binh-chon

Nhắc đến lịch sử phê bình ở Việt Nam, cần phải nhắc đến thời điểm những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX (tất nhiên bình thơ thì có từ rất lâu, nhưng chưa thể xem bình thơ theo kiểu các cụ cùng nhau chén trà ly rượu thưởng trăng đọc thơ đó là một hoạt động phê bình văn học đúng nghĩa được). Cùng với công cuộc dịch thuật, cùng với cuộc đổi mới văn học nửa đầu thế kỉ XX, cùng với hàng loạt công trình phê bình ra đời, đặc biệt cần kể đến là “Thi nhân Việt Nam” (Hoài Thanh, Hoài Chân) đã mang đến cho văn đàn một sự toàn diện. Bởi lẽ, bình thơ từ đây không chỉ là một hoạt động văn nghệ mà là một bộ môn có tầm vóc, đứng vào một hàng ngũ hoạt động văn học của một nền văn học đầy đủ. Và tuy chưa phải là nhiều nhưng với một thế kỉ, Việt Nam đã tiếp cận với rất nhiều phương pháp khác nhau, có phương pháp tiến bộ, có phương pháp còn chưa thỏa đáng, nhưng tất cả đều là một phương tiện để tiếp cận văn chương nói chung và thi ca nói riêng ở nhiều góc độ hơn. Cũng chính vì thế tưởng chừng như lối phê bình tri âm, bạn đọc tri âm đã bị khai tử. Người ta quen dần với những cách mới, phân tích thơ ca ở góc độ thi pháp, phong cách hay văn hóa và lối liên ngành khá phổ biến.

Với sự phát triển của lý luận văn học, phê bình đôi khi vẫn xảy ra hiện tượng xơ hóa cảm xúc mà rơi vào kỹ năng. Nhưng bao giờ người đọc thơ, người thẩm thơ và nhà phê bình (là phép cộng của hai đối tượng ấy) phải có những sự rung động nhất định. Và trên hết kiến thức hay phương pháp vẫn là cần thiết để không biến phê bình thành câu chuyện của sở thích, thích nhiều thì khen hay, thích ít thì không khen…

Có nhà phê bình cho rằng thế kỉ này là thế kỉ của lý luận chết. Âu đó cũng là mặt trái của phê bình khi mà chúng ta quá chú trọng đến mặt kỹ thuật mà quên mất xúc cảm của “ma lực chữ nghĩa”. Cả những người sáng tác hiện nay đôi lúc cũng rơi vào “làm thơ” hơn là “sáng tạo”. Vì lẽ đó thơ hiện đại rơi rụng trong sự phá vỡ chính mình. Có những sự vỡ hiện nên một hình thể mới, nhưng có sự vỡ đơn thuần chỉ là kết quả của đổ. Đổ vì không hề có nền, đổ vì chữ nặng hơn nghĩa, hình tượng xô lệch trong một thế giới không ý tưởng. Có lẽ vì thế cũng nản lòng người đọc trong thế giới vàng thau lẫn lộn ấy.

Hành trình sáng tạo nghệ thuật rất mệt mỏi, và người sáng tạo cũng là những người mệt mỏi không kém. Nhưng không phải bây giờ mới vậy. Nàng thơ là người con gái đỏng đảnh nhất trên cõi đời. Tôi nhớ, Hoài Thanh vẫn từng nói ý như sau: Nàng Thơ là một Nàng đỏng đảnh, người yêu Nàng tha thiết thì cả đời Nàng không ghé chân đến, còn người có thể tự dưng xuất thần vẫn được Nàng ưu ái đôi bài thơ hay đến bất ngờ. Vì thế hãy chấp nhận như vậy, đừng quá ca thán về sự mệt mỏi của sáng tạo. Bởi lẽ, trừ phi là cái máy, bỏ vào một mẫu và ra hàng trăm sản phẩm, còn với bất kỳ công việc gì nếu dồn vào đấy tâm huyết thì vẫn mệt mỏi, vẫn trông đợi, vẫn khiến thất vọng và hy vọng không nằm trong sự dự đoán của tác giả. Câu chuyện ông già với chiến lợi phẩm là bộ xương trắng sau những ngày dài chiến đấu trên biển giữa sự sống và cái chết, giữa tuổi già và thời gian, giữa thành công và thất bại, đôi khi chỉ nhận được cái nhìn khó hiểu lướt qua (tác phẩm Ông già và biển cả – Hemingway), tôi nghĩ đó là một biểu tượng rất đẹp và rất chuẩn xác của việc sáng tạo nghệ thuật. Bạn đọc ngày nay có kẻ hờ hững, nhưng vẫn là những bạn đọc có gu thẩm mỹ có hiểu biết. Trước hết xin nhà thơ hãy sáng tạo nên những tác phẩm hay, còn đón nhận nó như thế nào, hay thì khen, dở thì chê, như vậy là công bằng với người đọc. Đừng đòi hỏi người đọc phải cúi xuống tri ân với công cuộc làm thơ!

Nhưng người đọc vẫn là một vị quan tòa vừa công tâm vừa không công bằng đối với tác phẩm thi ca. Người đọc sàng lọc nên những tác phẩm hay theo thời gian và người đọc cũng khai tử những tác phẩm hào nhoáng nhưng rỗng ruột. Và người đọc – một phần lớn – những người rất công tâm cũng có lúc lầm lẫn, họ đôi khi thích những gì dễ hiểu chê những người nhọc nhằn đổi mới. Thậm chí người đọc ấy lại càng chủ quan hơn khi cho rằng cứ phải thích thì mới là hay. Nếu cho bạn đọc một cái quyền định giá thẩm mỹ trên hết thì làm sao chúng ta có những cây đại thụ đọc chắc chắn là khó “nhằn” như Hermann Hesse, như Jame Joyce, như các nhà thơ thuộc trường phái tượng trưng… Và có ai dám khẳng định những tác phẩm hết sức khó đọc và không mấy ai thích ấy là vớ vẩn không.

Cho nên cái được thích chưa hẳn là hay và cái hay chưa hẳn là lắm người thích. Chỉ cần chăm chỉ xem game show cũng chợt nhận ra hình như khán giả hiện nay có lắm quyền, quyền sinh quyền sát và cả quyền đánh giá nghệ thuật nên cũng có lắm thí sinh trượt oan khiên mặc dù giọng hát rất hay tài năng cũng khá, chỉ mỗi tội là… không thuộc đám đông. Phải chăng đó cũng là cái “dớp” của văn chương trong một thời đại nghệ thuật bị đại chúng hóa và thị trường hóa. Vì thế dù có “u đầu mẻ trán” vì mất lòng nhau cũng cần lắm những nhà phê bình có hiểu biết và có cá tính.

Nhưng chuyện phê bình, nên nhìn nó đúng tầm là một bộ môn khoa học đặc trưng chứ đừng đánh đồng với xúc cảm văn chương, vì thế hơn gì hết phê bình cần công tâm, nên khen, cũng nên chê, khen hay chê cũng từ sự công tâm và sự hiểu biết của một nhà phê bình có trách nhiệm và nhạy cảm nghệ thuật.

Th.S. Đoàn Thị Cảnh
(Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 446

Ý Kiến bạn đọc