Tản văn

Nhà có giỗ

Bố tôi là con trai út, nếu tính trên đầu con trai của ông bà nội (quê nội tôi vẫn có tục tính con như thế, rõ ràng tư tưởng trọng nam khinh nữ từ thuở nảo thuở nào vẫn còn); còn nếu tính cả trai lẫn gái thì bố chỉ gần út, dưới còn hai cô em nữa. Nhưng hai bác trai, anh bố đã hy sinh cả, thành thử bố thành “trưởng giả”, lo tất tật mọi việc cúng giỗ. Có hai cái giỗ được cúng ở nhà tôi là giỗ ông nội và bà nội. Giỗ từ các cụ trở lên phải làm ở nơi khác, có thể là nhà một ông, một bác nào đó trong họ, là “đích tôn” của cái người được cúng giỗ ấy.

So-490--Co-Lien---Huynh-Van-Gam---Anh-1
Cô Liên – Sơn mài – HS Huỳnh Văn Gấm

Cứ gần đến ngày giỗ ông, bà nội là các bà cô tôi lại gọi điện, nội dung năm nào cũng chỉ thế này: “Bác ơi (hay cậu ơi), năm nay giỗ thầy (bu) thì cúng vào thứ mấy?”. Sở dĩ có câu hỏi ấy là vì cái ngày bố mẹ tôi chưa về hưu, hễ giỗ vào thứ hai là thảo nào cũng phải làm trước từ chủ nhật, tranh thủ ngày nghỉ. Nhưng giỗ vào thứ sáu hay vào cuối tuần là chịu chết, đành phải xin nghỉ làm, vì theo như bố tôi nói, đã cúng giỗ thì chỉ có cúng trước chứ không ai cúng sau. Cúng sau coi như là con cháu quên mất ngày giỗ, đúng ngày đó ông bà về, không có mâm cơm thì vong linh tủi lắm. Nghe bố tôi thông báo ngày giờ, các bà cô yên tâm chờ đợi và chuẩn bị. Sáng sớm hôm có giỗ, nhà tôi đã đông tíu tít. Các bà cô có mặt từ tinh mơ. Người xa cũng như người gần, không ai chịu đợi mặt trời mọc rồi mới đi cả. Các con cháu, thậm chí các ông chồng của các bà cô còn đi sau một lúc thật lâu. Một năm, có đúng hai ngày giỗ là chị em các bà được gặp mặt đông đủ. Ông bà tôi sinh 12 lần cả thảy, nhưng chỉ nuôi được có 8 người. Hai bác trai hy sinh, còn lại sáu. Nghĩa là tôi có 5 bà cô. Ở quê tôi, kể cả chị bố hay em bố đều gọi là cô, cho nên tôi có bà cô già tận gần 80 tuổi, lại có bà cô là con út của ông bà mới ngoài 40. Năm bà tập trung, bắt đầu bằng việc lôi từ trong túi, trong bao, trong tay nải… ra đủ mọi thứ các bà chuẩn bị từ nhà để góp cho ngày giỗ bố, giỗ mẹ. Gà, vịt, gạo nếp, gạo tẻ, cam, chuối, bưởi, na, hồng, khế chua, chuối xanh, chuối chín, rau thơm, hành tỏi, chai tương, chai nước cáy, mấy quả ớt, thậm chí cả lá mơ, lá sung, lá đinh lăng… đủ cả. Có cả những thứ chúng tôi chẳng biết dùng vào việc gì, ăn với loại thức ăn gì. Bọc to bọc bé lủng củng. Cái gì cho lên bàn thờ thắp hương được thì các bà cô mang lên thắp hương. Cái gì dùng để nấu nướng thì các bà cô xúm lại rửa rửa, thái thái. Thế cho nên, khi làm nhà xong, việc đầu tiên mẹ tôi làm là đi đặt đóng một cái tủ thờ thật to, tha hồ cho các bà cô bày biện mỗi dịp lễ Tết. Cỗ cúng giỗ nhà tôi cũng thật lạ lùng. Ngoài những món được gọi là “cỗ” ra, các bà cô còn nấu thêm đủ món tự nghĩ ra, bởi những món đó “ngày xưa thầy bu mình vẫn thích ăn”. Những món ấy có khi là bát chuối xanh nấu đỗ, mấy bìa đậu nướng, bát cà tím xào, cái tai lợn luộc… Các bà cô bảo, trong ngày giỗ chỉ nghĩ đến những món ngon mình thích ăn thì hóa ra làm cỗ cúng mình à? Tôi thấy vui nhất lúc các bà xúm vào giúp tôi làm cỗ. Thường thì tôi chỉ “ưu tiên” các bà việc nhặt rau, rửa rau, cùng lắm là vặt lông gà. Tôi cứ tay dao tay thớt còn tai thì vểnh lên nghe các bà nói chuyện. Đúng là “chằm chặp như chị gặp em”, thôi thì đủ thứ chuyện. Nhưng mở đầu bao giờ cũng là chuyện về người đã khuất. “Năm nay là giỗ thứ hai mươi của thầy mình rồi đấy nhỉ”, cô Bạng, bà chị cả lên tiếng. Bà đã gần 80 tuổi, răng giả nhiều hơn răng thật, trên đầu chỉ còn lơ thơ vài sợi tóc bạc. Cả cuộc đời bà là một chuỗi dài những đau khổ, cay đắng. Lên 8 đã đi ở cho nhà giàu, vì bố mẹ nghèo, đông con, không nuôi nổi. Nhớ nhà, bà chỉ khóc thầm, tuyệt nhiên không dám đòi về. Bà kể, nếu tao về, thì em tao không có miếng cơm ăn. Lớn lên lấy chồng, có với nhau mấy mặt con thì chồng đi bộ đội. Hết kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, chẳng khi nào chồng ở nhà. Con gái lớn vừa 4 tuổi thì chết bệnh. Con trai út vừa ra đời thì chồng hy sinh. Một mình bà chèo chống, vừa lo nuôi bố mẹ chồng, vừa chạy qua chạy lại nhà bố mẹ mình, vừa chăm chút cho lũ con nên người, chẳng một ngày được thảnh thơi, sung sướng. “Vâng! Năm thầy mình mất, trời đã rét rồi chị nhỉ. Thế mà năm nay nóng kinh người”, cô Mỳ bổ sung. Đây là bà cô thứ hai, mới ngoài 70 mà đã hom hem như thể 90. Bà cô này giống bà nội tôi nhất, giống đến giật mình. Nhiều lúc nhìn cô mà tôi cứ hoảng lên, cứ ngỡ bà nội hiện về. Thế là câu chuyện về ông nội được khơi lên, mỗi người góp một kỷ niệm. Thầy mình ngày xưa nghiêm khắc nhỉ? Em nhớ có lần chị Tâm đi xem văn công về muộn, thầy rút roi tre ra đánh. Năm ấy chị cũng thanh niên rồi chứ còn bé đâu? Ừ, nhưng thầy lại thương chúng mình nhất. Chị nhớ hễ đứa nào đi xa về gần, thầy thức từ nửa đêm gà gáy để nấu cơm nếp, bắt mang theo. Thầy nấu cơm nếp ngon lắm, chị nhỉ? Thầy thích ăn đồ nếp mà. Tết năm nào thầy cũng gói rõ nhiều bánh chưng. Thầy còn thích uống rượu nữa chứ. Nghĩ thương thầy quá! Ngày xưa, mỗi buổi chợ về, bu mua đồ nhắm cho thầy, chỉ là cái bánh đa nướng, thầy lại bẻ cho mỗi đứa một mảnh, chứ có ăn cả đâu. Khi nào có tiền, bu mới mua được vài bìa đậu nướng. Có đậu đã tốt, nhiều hôm bu mua bã đậu, về kho lên. Bây giờ không còn khổ như xưa nữa thì chẳng còn thầy, cũng chẳng còn bu… Không khí lặng đi một lát… Này, chị Tâm ơi, lạ nhỉ, hồi thầy mất xong, cây mít với lại cây cam thầy trồng cũng héo lá rồi chết khô. Chả thế thì sao, mình quên không đeo tang cho cây, nên nó theo thầy hết. Mấy cây ấy do thầy trồng cả mà. Thầy mình trồng cây mát tay nhỉ, cây gì cũng ngon. Các dì còn nhớ cây mít ngay sau cửa sổ không? Quả cứ là to như cái thúng, múi dầy mà vàng ươm. Lại còn cây bưởi đầu nhà nữa chứ… Ừ, nhưng nhớ thầy, em cứ nhớ mãi cái chuyện thầy ngâm cái đài xuống ao cho chết con gián. Nhớ chứ, ngày ấy cậu Phiếu mang cho thầy cái đài bán dẫn, hình như mua tận Liên Xô. Cả xóm đến nghe “Câu chuyện cảnh giác” với lại “Sân khấu truyền thanh”. Thế mà rồi có một hôm, con gián chui ngay vào, làm cái đài cứ kêu xèn xẹt. Thầy tức lắm, nhưng không làm cách nào móc được con gián ấy ra. Thế rồi nghĩ mãi, cuối cùng thầy nảy ra sáng kiến ngâm cái đài xuống ao cho con gián chết. Gián chết, đài cũng chết luôn… Các bà cô phá lên cười. Rồi một bà lại ngậm ngùi, khổ thầy nhỉ, ngày ấy chưa có ti vi. Giá như thầy sống đến bây giờ… Con em gái tôi góp chuyện, các cô biết không, cái ngày ông ra nhà cháu, hình như là năm 1987 thì phải, bố cháu đi công tác Hà Nội, mua về được ba gói mì tôm, nấu lên mời ông ăn, thế mà ông bảo thế là ông đã được ăn hết mọi của ngon vật lạ ở đời rồi… Có tiếng sụt sịt. Mấy bà cô chúa mau nước mắt, hơi tí đã khóc được rồi. Lặng đi một lát. Bố tôi đảo ra sân xem mấy cô cháu chuẩn bị nấu nướng đến đâu rồi, cũng góp thêm câu chuyện. Các chị có nhớ lúc thầy mình sắp mất không? Thầy ra hiệu cho em đứng gần lại, rồi thều thào bảo: Thầy có chết, các con mang thầy ra sân mà liệm lộ thiên. Em hỏi tại sao lại thế, thầy bảo nghe người ta nói liệm lộ thiên sẽ bị mù hai mắt. Xuống dưới âm ti, nhỡ có bị quỷ sứ tra khảo, đánh đập mà đau quá, không chịu nổi, cũng đã mù cả mắt rồi, không dẫn chúng nó về bắt con bắt cháu mình đi được. Thầy mù mình thầy không sao, miễn là các con được yên ổn… Tự dưng mấy bà cô cùng òa lên khóc, khóc nức nở như trẻ con bị đòn. Nhớ chứ cậu, làm sao mà quên được! Thầy mình thương con thương cháu thế đấy, tận lúc chết vẫn thương… Chuyện về “thầy mình” với “bu mình” cứ thế miên man. Sau chuyện ấy là chuyện “thời hiện tại”. Các bà cô thông tin cho nhau đủ thứ chuyện, từ con gà chọi nhà em thế mà mất rồi đấy. Rõ tiếc. Con gà phải đến 4 cân hơn ấy. Đến chuyện con chó nhà chị đẻ chưa? Đẻ rồi ấy à? Nhớ phần cho em một con đấy. Thế chó nhà dì bán rồi à? Ừ, bán rồi, được những 22 cân cơ đấy. Con chó ấy hiền quá, không giữ nhà được. Rồi chuyện con dâu nhà ông hàng xóm siêng ăn vụng làm, chuyện vụ này nhà em trồng những 6 sào ngô đông… Loanh quanh thế nào lại ngoằng về chuyện “thầy mình” “bu mình”. Ngày xưa thầy mình mắng chị vì chị đánh con chó Vện. Ừ, nhưng mà tức lắm, nó làm đổ cả nồi canh chuối vừa mới nấu, cả nhà nghỉ ăn. Đến giờ em còn nhớ, thầy bảo rằng chúng mày còn có lúc hậu đậu, ăn đổ làm vỡ, thầy không đánh roi nào, sao con chó nó nhỡ chân nhảy đổ cái nồi mà đánh nó đau thế. Bu bênh chị, cũng bị thầy mắng nhỉ. Bu chỉ thích nằm võng, lúc nào cũng võng, ăn cơm cũng ngồi võng, ngủ cũng nằm võng. Em nhớ nhất tiếng võng nhà mình, kẽo kẹt cả đêm, ngày mới đi lấy chồng, không có tiếng võng của bu đâm ra khó ngủ. Nhanh nhỉ? Thế mà đã gần năm chục năm rồi. Bu mất cũng đã hơn chục năm. Người ta bảo sống thì lâu, chết thì mau là thế. Giờ chị em mình cũng già cả rồi, sắp đến cõi cả rồi! Già cái gì? Tôi già chứ dì mới có tí tuổi đầu… Chị sướng nhất đấy. Sướng cái gì mà sướng? Chết trước các dì là sướng à? Không phải thế mà là khi chết, chị thảo nào cũng được chôn gần thầy bu. Thì cùng cái đống Mả Mộc ấy, cùng cái cánh đồng ấy, sớm tối được gặp thầy bu, chả sướng hơn là gì, đâu như bọn em, lấy chồng khác xã, khác huyện… Người ta bảo sinh quê cha, ma quê chồng là thế. Ai bảo các dì thích lấy chồng xa…

Tôi cứ vừa làm vừa nghe các bà cô trò chuyện. Biết được khối chuyện đông tây, kim cổ, khối chuyện trong làng ngoài nước. Biết được cả những chuyện ngày xửa ngày xưa của bố, của ông bà, của các cô, những chuyện vui buồn trải ra suốt cả cuộc đời. Các bà cô cứ thoắt cười thoắt khóc theo những kỷ niệm miên man. Và tôi cứ có cảm giác ông bà đã nương theo gió, về đây, ngồi rất gần đám con cháu, nghe đám con cháu đang nhắc chuyện mình, cười theo những lúc chúng cười, lặng lẽ trong những lúc chúng sụt sùi rơi nước mắt. Có một điều chắc chắn rằng, là một đứa vô cùng “tham sống sợ chết”, luôn luôn lạnh người, dựng tóc gáy mỗi khi nghe khi nghĩ về chết chóc, nhưng trong ngày giỗ, nghe các bà cô nói chuyện về người đã khuất, tôi lại thấy cái chết chẳng có gì đáng sợ, thấy cái chết cũng chỉ như một phần tất yếu của sự sống thôi. Ông bà khuất núi hàng mấy chục năm rồi, giờ vẫn sống trong ký ức tươi nguyên, trong những câu chuyện bồi hồi của đám con cháu… Lại thấy cả việc mình còn sống ngày nào thì còn phải cố gắng mà sống cho tốt, để mai sau có chết đi rồi, những câu chuyện con cháu nhắc về mình sẽ là những câu chuyện làm chúng thương yêu, tự hào chứ không phải tủi hổ hay trách oán… Mới hay ngày giỗ đâu chỉ là chuyện làm cơm cúng vong linh người đã khuất. Ngày giỗ còn là dịp để anh em, họ hàng “củng cố” mối dây ruột thịt thêm chắc bền. Ngày giỗ còn gợi ở mỗi người biết bao kỷ niệm, biết bao suy nghĩ sâu xa…

Việt Nga
(Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 490

Ý Kiến bạn đọc