Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nhà báo Đức Franz Faber kỷ niệm về Bác Hồ

Hôm nay, chia sẻ lại bài viết từ 2013 về Bác, có bức ảnh Bác chụp với một người nước ngoài ở Việt Bắc năm 1954 (không rõ ở Thái Nguyên hay Phú Thọ) mà nhiều người chưa rõ.

Đó là một nhà báo CHDC Đức, một trái tim luôn đập vì Việt Nam, người đã dành 7 năm để học tiếng Việt để dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức mà không dùng bản Pháp văn vì không muốn làm mất hồn cốt của câu chuyện – nhà báo Franz Faber, sinh năm 1917, mới mất năm 2013, năm 2015 tác phẩm của ông đã được xuất bản trở lại ở CHLB Đức.

Mời mọi người đọc bài viết của bác Trần Đương trên trang Văn hiến Việt Nam:

“Lần nào cũng vậy, có dịp sang Đức tôi lại đến thăm các nhà báo từng công tác ở Thông tấn xã ADN, trước hết là những người đã thường trú ở Việt Nam hoặc đã sang thăm Việt Nam. Trong những câu chuyện thân tình, họ nhắc lại nhiều kỉ niệm tốt đẹp về con người và đất nước ta. Một số vị đã già, tuổi ngót 80, 90 nhưng vẫn sôi nổi kể cho tôi nghe những lần được gặp Bác Hồ. Có lẽ sôi nổi nhất vẫn là cụ Franz Faber, nhà báo Đức đầu tiên đã sang công tác ở Việt Nam và là người cùng vợ là Irene dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức. Khi viết những dòng này, tôi rất buồn được tin cụ đã qua đời.

Nha-bao-nha-tho-dich-gia-van-hoc-Fran-Faber-va-Bac-Ho-nam-1954
Nhà báo, nhà thơ, dịch giả văn học Franz Faber và Bác Hồ năm 1954 (ảnh tư liệu).

Năm 1954, ở tuổi 38, Faber là ủy viên Ban biên tập báo Nước Đức Mới, dẫn đầu một đoàn nhà báo và điện ảnh Đức tới nước ta để viết báo, ghi hình trong hai năm. Sau chuyến đi ấy, ông hoàn thành tập bút ký Sông Cái rực hồng, được Nhà xuất bản Kongress ấn hành với số lượng lớn cùng lời thuyết minh cho hai bộ phim tài liệu quý về Việt Nam do các nhà điện ảnh Đức thực hiện.

Ông già Faber có trí nhớ tuyệt vời và giọng nói rõ ràng, nhiều khi hóm hỉnh. Cụ kể: “Cuối năm 1954, tôi có dịp được theo Bác Hồ lên Việt Bắc. Khi nghỉ chân trên một khu đồi thoáng mát, Bác bảo tôi cùng ăn cơm với Người. Vừa ăn vừa nói chuyện, Người hỏi tôi: “Chú có biết nhiều về văn học Việt Nam không?”. Tôi thưa với Bác: “Ở Đức, dường như văn học Việt Nam chưa được giới thiệu gì cả!”. Người nói: “Muốn hiểu văn học Việt Nam, trước hết nên đọc Kiều. Đó là tác phẩm của Nguyễn Du, nhà thơ lớn nhất của chúng tôi. Ở tác phẩm ấy kết tinh nội dung nhân văn và tài năng nghệ thuật đến độ cao hiếm thấy…”. Rồi Người khuyên tôi: Hãy gắng đọc Kiều, hiểu Kiều. Nếu thấy hay, thấy được, chú hãy dịch và giới thiệu với các bạn ở Đức. Thế là, giữa một buổi sáng đẹp trời ở Việt Bắc, nơi có cảnh núi non hùng vĩ, nên thơ, có những con người bình dị, dũng cảm, tôi được nghe Bác Hồ giới thiệu về Truyện Kiều. Hơn thế, chính Người đã khích lệ tôi dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức”.

Cụ Faber nhìn tôi, nheo nheo mắt: “Anh biết không, khi về nước, tôi nói với vợ tôi: “Anh đã “phải lòng” một cô gái Việt Nam rồi em ạ!”. Và tôi kể chuyện nàng Kiều – một thiếu nữ tài hoa xinh đẹp đã phải trải qua bao nỗi truân chuyên. Đến lượt vợ tôi, sau khi đọc nguyên bản Truyện Kiều, cũng không cầm được nước mắt. Vợ chồng tôi đặt quyết tâm chuyển ngữ Truyện Kiều ra tiếng Đức. Nhà tôi học tiếng Việt, đồng thời gọi điện sang Pháp hỏi các chuyên gia về hàng loạt điển tích trong Truyện Kiều. Nhà tôi dịch nghĩa từng đoạn và tôi chuyển thành thơ. Như vậy công lao vợ tôi lớn hơn, nên tôi để tên Irene lên trước tên tôi. Sau 7 năm, bản dịch hoàn thành và được xuất bản”.

Đúng vào năm bản dịch Truyện Kiều ra đời ở Đức, ông bà Faber được cử sang thường trú tại Việt Nam, với tư cách đại diện của Thông tấn xã Đức ADN và Báo Nước Đức Mới. Bác Hồ và nhiều nhà lãnh đạo, nhà văn hóa nước ta được gửi biếu bản dịch này với lời đề tặng của Chủ tịch Quốc hội Đức Johannes Dickmann. Gặp ông bà Faber trong dịp mừng Quốc khánh Cộng hòa Dân chủ Đức ở Hà Nội, Bác Hồ hỏi: “Anh chị đã dịch Truyện Kiều trong bao lâu?”. Họ thưa với Bác: “Thưa đồng chí Chủ tịch, trong 7 năm ạ!”. Bác cười: “Thế là trong 7 năm đó các bạn chỉ nghĩ đến Việt Nam”.

Khi tôi hỏi về những lần khác được gặp Bác Hồ, cụ Faber nói: “Tôi không thể kể hết, vì là nhà báo, lại là nhà báo của nước anh em nên tôi rất nhiều lần được gần Bác. Như ngày mới sang Việt Nam, vào một buổi tối mùa đông giá lạnh, tôi và nhà báo Úc Burchett, nhà báo Pháp Riffaud được Bác mời đến nhà riêng tại Phủ Chủ tịch nói chuyện thân tình. Người nói về nông dân, về bộ đội với tất cả tình thương yêu bao la của một vị cha già. Tôi còn có dịp đi theo Người đến dự một hội nghị cải cách ruộng đất. Tôi nhiều lần được phỏng vấn Người và Người đã vui lòng trả lời để chuyển đăng rộng rãi trên các báo Đức. Lần sau cùng được gặp Người là một ngày tháng 2-1965. Chúng tôi gồm mấy nhà báo Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc đến thăm Người sau khi ở Đồng Hới về. Đây là lần đầu tiên máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc. Bác Hồ nói với chúng tôi: “Với Đồng Hới, Mỹ bắt đầu thua ở Việt Nam rồi đấy!”.

Hùng Ngô Mạnh (Facebook)
Tuâàn Báo Văn Nghệ TP.HCM số 426

Ý Kiến bạn đọc