Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguyễn Quang Thiều với văn tài Nguyễn Huy Thiệp

 

Trong cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng 26-11-2020 (https://www.youtube.com/watch?v=huVow4MEcio), TBT Nguyễn Phú Trọng nói:

“Lần này tôi nhấn mạnh là không phải chỉ đấu tranh phòng chống tiêu cực trong lĩnh vực kinh tế đâu nhá, trong lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là quan điểm chính trị, tư tưởng. Điều quan trọng nhất là tư cách của người cách mạng, còn cái tham nhũng có khi chỉ là tiền nong các thứ thôi. Tham nhũng về mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, cái đó là cái nguy hiểm vô cùng, sắp tới còn phải làm mạnh cái này nữa… Tiền mà mình chết đi rồi có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất. Tư cách con người sống làm sao để con cháu… để làm sao để lúc nhắm mắt xuôi tay khỏi phải ân hận”.

Đối chiếu với việc tiến cử vị trí Chủ tịch Hội Nhà văn VN của Nguyễn Quang Thiều thì theo Nhà văn Chiến sĩ Trúc Phương đó là “việc phi nghĩa có tính chất gian trá, đầu cơ trục lợi mang tính chính trị nguy hiểm”; và “Nguyễn Quang Thiều đã bị kỷ luật từ 2019 vì (duyệt xuất bản) những tác phẩm bị thu hồi và niêm phong, anh vẫn được chọn đưa vào danh sách dự kiến nhân sự chuẩn bị cho Đại hội X Hội Nhà văn Việt Nam như một cán bộ, một đảng viên, một hội viên ưu tú, xứng đáng với tư cách ứng viên Chủ tịch”. Như vậy, theo lời TBT Nguyễn Phú Trọng ở trên thì Nguyễn Quang Thiều đích thị là một cán bộ, đảng viên “Tham nhũng về mặt chính trị, tư tưởng”.

Cũng theo Nhà văn Trúc Phương, trong Lễ tang Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện quan điểm chính trị sai trái khi đọc điếu văn như thế này: “Nói đến ông lúc này là để nói với chính chúng ta về sự dấn thân, về lương tâm và lòng quả cảm của người cầm bút”. Nhưng trong thực tế, theo Trần Đăng Khoa (Văn nghệ Quân đội số 596, tháng 4/2004), trong chuyến đi Thụy Điển, có lần Nguyễn Huy Thiệp tuyên bố: “Thế hệ tôi nôn mửa vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”. Quả thật, trong giới nhà văn không ai dám “dấn thân” như vậy, bởi đó là sự dấn thân ngược!

Vì có những quan điểm sai trái về cả tư tưởng lẫn văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, nên khi nắm chức Chủ tịch HNV, một trong những việc đầu tiên Nguyễn Quang Thiều làm là đề nghị Nguyễn Huy Thiệp được Giải thưởng Nhà nước về Văn chương với các tác phẩm trong đó có truyện ngắn “Tướng về hưu”.

Vì vậy hôm nay tôi viết những nét chính về truyện ngắn “Tướng về hưu” và về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp xem thực sự Nguyễn Huy Thiệp “dấn thân” và “lương tâm” văn chương của Nguyễn Huy Thiệp như thế nào.

Viết về văn chương Nguyễn Huy Thiệp không thể không nhắc Nguyên Ngọc. Khi được giao trọng trách Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà văn VN, Nguyên Ngọc thể hiện tham vọng lật đổ các thần tượng để đón gió, trở cờ. Các vị lãnh đạo đã nhận ra ngay Nguyên Ngọc đi theo tà đạo, nên Nguyên Ngọc đã bị thất sủng. Dù bị “rớt” xuống nhưng Nguyên Ngọc vẫn làm TBT tờ Văn nghệ, diễn đàn trung tâm của Văn chương VN, nên Nguyên Ngọc chính là bà đỡ cho một tên tuổi là Nguyễn Huy Thiệp ra đời, đã đăng trên báo Văn nghệ truyện ngắn “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp.

“Tướng về hưu” là câu chuyện kể về gia đình một ông tướng về hưu để đưa ra cái kết luận: cái thời thực dụng nhí nhố, vô cảm, mất nhân tính của “ông con” đã chiến thắng cái thời sống vì lý tưởng, vì đạo lý của “ông bố”, vị tướng về hưu. Những người lính khi hoàn thành nhiệm vụ trở về đã không có đất sống trong chính ngôi nhà của mình! Ông Tướng lại phải quay lại với chiến tranh, lại ra biên giới, và đã bị hy sinh ở đó.

Một tác phẩm văn chương có giá trị cao phải có tính khái quát, phải đạt được những tiêu chí quan trọng là Chân, Thiện, Mỹ. Truyện ngắn “Tướng về hưu” viết sai thực tế về cuộc sống của những cựu chiến binh khi trở về nhà. Dù đã về hưu nhưng họ vẫn là chỗ dựa tinh thần và tình cảm cho con cháu. Không chỉ vậy, họ vẫn đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm của mình cho sự ổn định và phát triển của xã hội thông qua tổ chức Cựu Chiến binh. Tất nhiên sẽ có những mâu thuẫn giữa các thế hệ giống như mọi mâu thuẫn khác thuộc về tính cách, bản chất của con người, như mâu thuẫn giữa sự xả thân quên mình với sự thực dụng, ích kỷ, tham lam; mâu thuẫn giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác; v.v… Nhưng tổng thể, ánh sáng luôn chiến thắng bóng tối. Có vậy xã hội VN mới ổn định và phát triển như hiện nay, hoàn toàn không như kết cục của truyện “Tướng về hưu” phản ánh, nên “Tướng về hưu” đã không đạt được chữ “Chân”.

Trong “Tướng về hưu” có một chi tiết mất nhân tính, đó là chuyện cô con dâu vị tướng là BS phụ sản thường mang xác thai nhi về nấu cho chó, cho lợn ăn. Với những cây bút bậc thầy, chỉ xoay quanh chi tiết này, người ta có thể viết hoàn chỉnh một truyện ngắn, khiến cho người đọc kinh hoàng, có thái độ phê phán về sự thoái hóa nhân tính, sự vô cảm của con người trong thời thực dụng. Còn với Nguyễn Huy Thiệp, nó chỉ là một chi tiết trong một loạt chi tiết khác mà Nguyễn Huy Thiệp kể ra như ghi chép nhật ký. Ông bố có chửi: “Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này” nhưng ông con, nhân vật chính, “người phát ngôn” của Nguyễn Huy Thiệp thì lại xổ toẹt: “Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì”. Đó không chỉ là sự mất nhân tính của nhân vật mà còn là sự vô cảm của chính tác giả Nguyễn Huy Thiệp. Một tác phẩm thể hiện sự vô cảm trước sự mất nhân tính thì cũng không thể đạt được chữ “Thiện”.

Ngoài ý kiến của các nhà văn, nhà sử học, các độc giả là các tướng lĩnh sau khi xem phim “Tướng về hưu” đã cho là: “Thật là thảm hại, thật là xấu hổ, thật là đau lòng”, “Phải chăng một ông tướng nhân đức như thế mà đành thất bại thảm hại trước sự tha hóa của con người” (trong cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp”, tr. 39).

Như vậy, một tác phẩm không đạt cả Chân và Thiện như “Tướng về hưu” thì có giá trị gì? Còn chữ Mỹ thì tuỳ theo “gu”, không bàn đến.

*
Viết về Nguyễn Huy Thiệp cũng không thể không nhắc đến Trần Độ. Khi làm Trưởng Ban Văn hóa – Văn nghệ, ông đã khởi công quá tốt; quân, tướng của ông “nói” cũng rất hay, chính vì thế TBT Nguyễn Văn Linh mới ủng hộ Trần Độ hết mình. Tiếc là khi triển khai vào thực tế thì giữa “lời nói” và “việc làm” của các vị lại ngược nhau. Mà hai người “có công” đầu làm Trần Độ mất chức chính là Nguyên Ngọc và Nguyễn Huy Thiệp.

Sau truyện “Tướng về hưu”, Nguyên Ngọc tiếp tục cho in truyện ngắn “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp mà nó chính là một trong những yếu tố khiến Trần Độ bị kỷ luật! Trong truyện này (bản gốc) Nguyễn Huy Thiệp đã dựng lên hình ảnh Vua Quang Trung tầm thường, “ăn hối lộ”, thù vặt và sử dụng tài văn của mình dùng nhân vật trong truyện chửi những nhân vật ngoài đời: “nhét c. vào mồm thằng Khải tài như cái đấu mà dám chê tiệc của vua nhạt”, và “xẻo d. thằng Thi xem có còn dê được không?”. Chính Trần Độ cũng phải thừa nhận Nguyễn Huy Thiệp: “có thể chưa hay, chưa giỏi trong việc xây dựng nhân vật văn học lấy nguyên mẫu từ một anh hùng dân tộc, vua Quang Trung” và “có sự bất bình của một số người đọc đối với truyện ngắn Phẩm tiết, nhà văn cần rút kinh nghiệm về trường hợp này… anh Thiệp thực có ý định nêu tên để chửi rủa vài người nào đó, thì đó là ý định xấu, có hại”.

Nguyễn Huy Thiệp còn cho Vua Quang Trung “chỉ như trọc phú nhà giàu” và Nguyễn Ánh mới là “nòi vương giả”. Mà theo tôi, đánh giá cao Nguyễn Ánh đồng nghĩa với sự biện hộ cho hành động Pháp xâm lược Việt Nam. Điều này giải thích tại sao Pháp in cho Nguyễn Huy Thiệp tới 14 đầu sách và với số tiền nhuận bút chính ông Thiệp khoe là cả 70.000 – 80.000 đô.

Để bênh Nguyễn Huy Thiệp bôi đen lịch sử có Lại Nguyên Ân là bênh mạnh nhất, ông “dạy dỗ” nhà Sử học Tạ Ngọc Liễn rằng “đọc Văn phải khác đọc Sử”. Tôi cho rằng, Văn là nghệ thuật tất phải khác Sử là ghi chép. Có điều nghệ thuật chân chính, với những thủ pháp, cuốn hút người đọc hiểu biết sự thật sâu sắc hơn; còn nghệ thuật lại đi bôi đen sự thật thì là thứ nghệ thuật bậy bạ. Lại Nguyên Ân khuyên người đọc phải biết phân biệt phát ngôn của nhân vật với ý đồ tác giả. Đúng vậy, nhưng tác giả có tài có tâm sẽ viết cho người đọc phân biệt được đúng sai, như người “chơi rắn” điều khiển được lũ rắn độc, còn nhà văn dốt và ác thì viết đầu độc người đọc như người chơi rắn để rắn cắn người. Còn Nguyễn Huy Thiệp không dốt, mà sự bôi đen là chủ ý, là “thi pháp đổi mới”, nên sự bênh vực của Lại Nguyên Ân là dốt.

Dù được Nguyên Ngọc và rất nhiều người tán dương, Nguyễn Huy Thiệp cũng bị nhiều người phê phán gay gắt. Nhà văn Hồ Phương cho Nguyễn Huy Thiệp có “cái nhìn xã hội thiên về đen tối” (Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, tr.452). Đỗ Văn Khang: “Đặc biệt cái tâm mà không sáng thì không thể làm văn được” (tr.242). Mai Ngữ cho Nguyễn Huy Thiệp: “đã lăng nhục cha ông, tổ tiên mình” (tr.426). Tạ Ngọc Liễn: “càng kỳ quặc hơn khi cho rằng văn hóa Việt Nam (mà biểu tượng là Nguyễn Du) chỉ là đứa con hoang của nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp đẻ ra. Tôi không nghĩ tác giả luận điểm này là người mắc bệnh tâm thần nhưng đó không phải là sự suy tưởng của một đầu óc lành mạnh” (tr.173). GS Trần Thanh Đạm cho Thiệp có “những ngôn luận xằng bậy đối với các văn hữu trong Hội Nhà văn thông qua các bài như: Hoa thuỷ tiên, Mổ nhà văn”. Bế Kiến Quốc: “Chỉ tiếc Thiệp không đi hướng thiện này, anh ta đi hướng ác, ác quá, cùn quá, lặp lại mình quá sẽ mất Thiệp”. Vọng Thanh: “cái ác của Nguyễn Huy Thiệp là từ tâm ác ra chứ không phải tưởng tượng ở trên giấy trắng mực đen đâu” (Văn nghệ TP.HCM).

*
Dù vậy, trong bài “Van-hoc-Viet-Nam-dang-o-dau?”, Nguyên Ngọc vẫn “chầy cối” tưởng tượng ra những điều không có trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp:

“Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng nhất ở Nguyễn Huy Thiệp… anh cố tìm ra “nguyên nhân sơ khởi” của tình trạng xã hội và con người Việt Nam… cố lần ngược lên đến ngọn nguồn của nó.

Và như vậy, anh đã khởi xướng ra trong văn học Việt Nam hiện đại cái mà tôi muốn gọi là xu hướng tự vấn của xã hội… sự tự soi mình của dân tộc, và của con người…”.

Tôi đã phải bỏ thời gian đọc lại một cách khách quan một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp để tìm kiếm những điều mà Nguyên Ngọc nói ở trên, nhưng quả thật tôi không thấy!

Nguyên Ngọc đã cố “làm văn” về Nguyễn Huy Thiệp. Ông ta đã sai khi viết về cái “nguyên nhân sơ khởi” mà Nguyễn Huy Thiệp “cố tìm ra”? Chúng ta đều biết tình trạng xã hội VN theo lời các vị lãnh đạo nói đang “đứng trước nguy cơ tồn vong” do “quốc nạn tham nhũng, lãng phí”, và “thoái hoá biến chất”, mà nguyên nhân sơ khởi chính là “lỗi hệ thống”. Lỗi hệ thống theo tôi đầu tiên chính là công tác cán bộ, bởi tất cả tốt hay xấu thì cũng đều do con người làm ra; tiếp theo là sự thiếu minh bạch trong các lĩnh vực cùng với sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật. Tất cả là do cơ chế giám sát không hiệu quả. Điều đó chính là một trong những “nguyên nhân sơ khởi” của những gì còn chưa tốt của “tình trạng xã hội và con người Việt Nam” hôm nay mà trong văn Nguyễn Huy Thiệp có “cố tìm ra” cũng không thấy! Văn chương Nguyễn Huy Thiệp chỉ đơn giản là loại văn chương phơi bày trần trụi.

Nguyễn Huy Thiệp nhìn con người với con mắt vô cảm, nhẫn tâm, khinh bạc, bất nhân, như về người nông dân: “Chẳng có khuôn mặt nào đáng là mặt người. Mặt nào trông cũng thú vật, đầy nhục cảm, không đểu cáng, dối trá thì cũng nhăn nhúm đau khổ”; tả người chài lưới: “Bọn đánh cá đêm ác lắm chị ạ”; “Họ đói và ngu muội lắm… Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường” (Chảy đi sông ơi); về phụ nữ: “Đàn bà không có thơ đâu… Thơ phải cao cả. Mỗi tháng các bà hành kinh một lần thì cao cả gì”; tả nhân vật đàn ông: “Lão già bị liệt, hai chân teo lại, lông chân như lông lợn”; “Tôi rùng mình vì trông thấy khuôn mặt ông ta: mặt đen và tái như da ở bìu dái, lông mày rậm, răng vẩu mà vàng như răng chó”; v.v…

Có những điều mà những người bình thường khi nói tới ai cũng phải xấu hổ, nhưng trong truyện Nguyễn Huy Thiệp, tất cả đều được nói ra một cách tự nhiên. Đây là ngôn ngữ bà cụ nông dân: “Các cụ toàn chim to!”, bà nói với bạn của đứa cháu: “Còn tôi, cả đời chỉ biết mỗi một con b., mang tiếng thủy chung đức hạnh… chẳng biết báu cho ai, chỉ biết về già sống lâu khổ con khổ cháu”; chuyện người chị dâu nói với bạn em chồng: “Có mấy tay thanh niên ở bên Duệ Dông đứng sau chúng tôi. Một tay dí chim vào đít cái Lược”; đạo diễn nói với diễn viên: “Cậu có dáng dấp một thằng trai điếm. Phụ nữ mê cậu. Trong phim có cảnh Chiêu Hổ bóp vú các cô thôn nữ, cậu vào vai ấy tuyệt vời”. Chuyện ngoại tình luôn là chuyện động trời còn trong truyện Nguyễn Huy Thiệp, chồng nói với vợ cứ như không: “Biết vợ hai phong tình, vẫn hay đi lại với nhiều người, ông giáo Quỳ cũng mặc, chỉ bảo: Cô ngủ với ai thì nhớ đòi tiền, không có tiền thì lấy thóc hay lấy lợn vịt thế vào chứ đừng ngủ không”. Về một cựu chiến binh: “Sau trận ốm, Phụng tính nết đổi khác, có lần chém người bị thương, dân làng ai cũng sợ… Phụng vẫn hay đi lại với thím Nhung và mấy bà góa nạ dòng. Vợ con Phụng hỏi: “Sao anh cứ xa lánh chúng tôi?”. Phụng bảo: “Báu gì mà ở gần tao. Thịt của tao rất độc. Cắn vào tao là cắn phải bả chó” (Thương nhớ đồng quê). Trong truyện “Không có vua”, hành động loạn luân, bố chồng bắc ghế nhìn trộm cô con dâu tắm đã được biện minh: “Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b.”; ở chỗ khác: “Đoài bảo: “Nhà kia có cô con dâu, bố chồng bóp vú cô ta. Đứa con trai hỏi: “Sao ông bóp vú vợ tôi?”. Ông bố bảo: “Để trừ nợ. Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”.

Ghê sợ hơn nữa, như đã viết trong truyện “Tướng về hưu”, Nguyễn Huy Thiệp thản nhiên viết về thái độ của nhân vật chính cho chuyện vợ là bác sĩ sản khoa thường lấy xác thai nhi nấu cho chó, lợn ăn là “chả quan trọng gì”; v.v…

Bằng những cái nhìn thản nhiên đó, chính Nguyễn Huy Thiệp đã biến Nguyên Ngọc thành một “thằng ba xạo” khi ông ta từng nói với TBT Nguyễn Văn Linh là “nghệ thuật là phải giữ cho con người không sa xuống thành con vật”!

*
Cái việc Nguyên Ngọc cố đắp điếm tư tưởng cho văn Nguyễn Huy Thiệp thì về chính trị Nguyễn Huy Thiệp viết: “Chính trị rặt trò mờ ám bỉ ổi”; về văn chương: “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất”. Đến Nguyễn Đăng Mạnh, một người rất ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp, cũng đã viết: “Đọc Nguyễn Huy Thiệp, lắm lúc cảm thấy thật sự hoang mang. Vì chẳng hiểu anh định nói gì – đúng là chủ đề không rõ ràng”. Còn Bảo Ninh cũng từng nói: “Tôi thích văn Thiệp nhưng thích cái gì thì tôi cũng chịu”.

Còn về “xu hướng tự vấn” của văn Nguyễn Huy Thiệp có lẽ được thể hiện rõ nhất trong cái truyện “Những bài học nông thôn”. Với những nhà văn lớn, tầm tư tưởng cao, tác phẩm của họ như những cây thế, cây kiểng mà mỗi cọng lá, nhành cây đều mọc theo chủ đích của tác giả. Còn Nguyễn Huy Thiệp viết tự nhiên, văn như ghi chép, chuyện nọ xọ chuyện kia. Trong “Những bài học nông thôn”, cuối truyện nhà “hiền triết” đột nhiên xuất hiện, rồi phát ngôn y như được tác giả mở công tắc vậy. Mà chỉ có một thằng tâm thần mới bộc bạch triết lý một cách khiên cưỡng với một thằng trẻ con 17 tuổi như thế này:

“Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu dốt của bọn có học tai hại thế nào, vừa phản động, nó vừa nguy hiểm, lại vừa mất dạy. Sự ngu dốt của bọn có học tởm gấp vạn lần so với ở người bình dân”. Tôi hỏi: “Vì sao?” Anh Triệu bảo: “Vì chúng giả hình. Chúng nhân danh lương tâm, đạo đức, mỹ học, trật tự xã hội, thậm chí nhân danh cả dân tộc nữa”.

Riêng cái ý này: “Thời loạn dứt khoát phải có một nền thống trị bá đạo. Còn thời bình, đường lối chính trị bá đạo sẽ đưa dân tộc đến thảm họa. Chỉ có một nền chính trị vương đạo, dân chủ, tín nghĩa và văn hóa đạo đức cao mới làm cho đất nước phồn vinh”. Nếu nó được nói ra sau một cốt chuyện phù hợp sẽ là rất hay, còn tự dưng bật công tắc phát loa, tư tưởng được nhét vào mồm nhân vật một cách khiên cưỡng thì chỉ là việc nhai lại những điều ai cũng biết. Còn chuyện nhà “hiền triết” sau khi nói ra sự thật thì bị con trâu điên đâm “lòi ruột” chết, có ý ám chỉ “chế độ độc tài giết chết tự do dân chủ” thì lộ và sượng quá!

Tóm lại là có nhiều chỗ hình như văn Nguyễn Huy Thiệp còn chưa sạch nước cản, và Nguyên Ngọc, “người từng bị đề cử” Giải Hồ Chí Minh văn chương, nhiều khi lại tỏ ra chưa hiểu văn chương là gì!

*
Giống như một bệnh nhân cần bác sĩ, cái cơ thể xã hội cũng cần đến những bác sĩ, đó chính là những nhà tư tưởng và những nhà văn mà tác phẩm của họ có tầm tư tưởng. Họ viết về phần tăm tối của con người để rung hồi chuông cảnh tỉnh, viết về cái ác với tấm lòng lương thiện chính là hướng người đọc về phía thiện. Nhưng văn của Nguyễn Huy Thiệp không như vậy. Qua những dẫn chứng trên, Nguyễn Huy Thiệp thường xóa nhòa ranh giới giữa đúng sai, thiện ác bằng cái nhìn vô cảm của mình và bằng những hành động, lời nói mất nhân tính của các nhân vật.

Dù vậy, công bằng mà nói thực tế có nhiều người thích văn Nguyễn Huy Thiệp, về cảm tính tôi cũng có phần thích văn Nguyễn Huy Thiệp, đọc để giải trí. Nên ngay từ 1997, tôi đã viết một bài có phần nể nang, rồi in vào cuốn “Biên độ của trí tưởng tượng”. Phải hơn 10 năm sau, khi chuyện thần tượng Nguyễn Huy Thiệp đã mang hiệu ứng bầy đàn, còn cho là ứng cử viên Giải Nobel, tôi thấy cần phải viết lại về Nguyễn Huy Thiệp một cách khách quan hơn, thật hơn và với tiêu chí cao hơn. Năm 2009, tôi đã viết bài VỀ HAI “ỨNG CỬ VIÊN GIẢI NOBEl” CHO VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM và đã in trong cuốn “Bóng tối của ánh sáng”.

Văn Nguyễn Huy Thiệp có tiết tấu nhanh, gọn; có nhiều chi tiết nghịch dị nên tạo được ấn tượng mạnh; nhiều chất tếu táo nên đọc thấy vui; và cái cuốn hút được nhiều người có lẽ là cái gia vị mà Nguyễn Huy Thiệp thường “nêm” vào văn mình, y như người ta ăn cà pháo chấm mắm tôm vậy. Nhưng cho Nguyễn Huy Thiệp là “nhất”, là “thành tựu của đổi mới” thì không phải. Nếu xét văn Nguyễn Huy Thiệp với những chuẩn mực cao hơn thì như đã viết Nguyễn Huy Thiệp còn nhiều chỗ “chưa sạch nước cản”. Còn về thi pháp thì Nguyễn Huy Thiệp không có gì mới, thậm chí ngược lại, có nhiều chỗ đã bắt chước giọng truyện Tầu và giọng của Vũ Trọng Phụng. Nguyễn Huy Thiệp còn ngang nhiên “cop” luôn một vài đoạn văn của Vũ Trọng Phụng, như Hạnh trong “Huyền thoại phố phường” tấn công bà Thiều rất giống cảnh Xuân tóc đỏ tấn công bà Phó Đoan trong “Số đỏ”; cảnh biểu quyết bố chết trong “Không có vua” rất giống cảnh thuê bác sĩ về chữa để cho bố mình chết của cụ cố Hồng.

*
Nền văn chương VN có thời chỉ thấy tối ngày người ta la oang oang (nhất là các nhà phê bình “phe cấp tiến” như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh và Phạm Xuân Nguyên, cùng với một loạt “tiến sĩ học trò” nói leo, về mấy cái tên Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu… Quả thật, có thực trạng rất đáng buồn là sự tạo lập, phân chia phe cánh, băng nhóm, dẫn đến việc quyền được công bố và quyền được thẩm định công bằng tác phẩm còn rất kém. Chính nền học thuật thiếu tính khoa học đã dẫn đến tình trạng như vậy. Ai viết hợp với ý đồ đón gió, trở cờ thì tán dương, thổi phồng; còn không thì lờ đi, nhiều tín hiệu nghệ thuật giá trị được phát ra như vào chỗ không người, nên gương mặt Văn chương Việt Nam đã được vẽ lên luôn méo mó.

*
Tôi đã tự hỏi cái gì đã làm nên giọng điệu của văn Nguyễn Huy Thiệp, cái chất thực dụng, lọc lõi, khinh bạc đến ghê người đó. Các cụ đã nói “văn là người”, triết học cũng chỉ rõ “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội”. Quả thật, khi đọc bài của LÊ XUÂN: VỀ CÁI TÀI CỦA NGUYỄN HUY THIỆP trên Văn nghệ TP.HCM thì mọi chuyện đã rõ như ban ngày:

“Trong giới giáo chức Tây Bắc những năm 1970 … cả nước nói chung đói kém, vất vả lắm vì chiến tranh… nhưng Thiệp đã “ma lanh”, “láu lỉnh”, “khôn ngoan” nhiều thứ nên “sống khỏe” hơn bạn bè. Thiệp… mua vải vóc, mắm muối, xà phòng, gạo thịt… rồi đem ra ngoài bán lại kiếm lời… Thiệp về Nhà xuất bản Giáo dục ở Hà Nội… “bạo gan” lắm, có lần dám bán đi hàng xe trâu sách mới in cho dân làm pháo lấy tiền tiêu xài. “Đúng là đốt sách làm ngu học trò … Sự việc vỡ lở thế là Thiệp lại ba lô xin về Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, thuộc Cục Bản đồ cho đến khi về hưu”.

*
Một nhà văn viết những tác phẩm như vậy mà được ông Chủ tịch HNV Nguyễn Quang Thiều véo von như thế này “Hãy thanh thản ra đi, Nguyễn Huy Thiệp, hỡi chàng hiệp sỹ… Cùng thanh gươm ngôn từ hắt sáng ban mai…” thì không thể chấp nhận được.Và dĩ nhiên phải đặt ra câu hỏi, rằng một người kiên trì tư tưởng lệch lạc như vậy, nếu tiếp tục cương vị chủ tịch, sẽ lèo lái hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam theo hướng nào?

5-10-2021

ĐÔNG LA
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 659

Ý Kiến bạn đọc