Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nguyễn Nhược Pháp: Thi sĩ tài hoa và bạc mệnh

Ngày 19-11-1938, Nguyễn Nhược Pháp, một thi nhân tài hoa đã rời xa cõi tạm. 80 năm sau ngày nhà thơ đi xa, những tác phẩm của nhà thơ lần đầu được biên tập và xuất bản đầy đủ. Nguyễn Nhược Pháp như một ngôi sao vụt sáng trên văn đàn rồi cũng nhanh chóng tắt, “Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ” (Thi nhân Việt Nam).

Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân cho biết đôi nét về tác giả: Nguyễn Nhược Pháp, con nhà văn hào Nguyễn Nhược Pháp, sinh ngày 12-12-1914 ở Hà Nội, mất ngày 19-11-1938. Học ở Hà Nội, có bằng tú tài Tây. Làm thơ từ năm 1932. Ngoài thơ có viết truyện ngắn và kịch. Có viết giúp: Annam nouveau, Hanoi báo, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí. Ngay trong mở đầu Thi nhân Việt Nam là những dòng đánh giá về nhà thơ: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”. Nguyễn Nhược Pháp góp mặt trong Thi nhân Việt Nam bằng hai bài thơ Tay ngà và Chùa hương với những câu thơ kèm nụ cười trên miệng nhưng “bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng”: “Đêm nay chờ trăng mọc/ Ngồi thẩn thơ trong vườn/ Quanh hoa lá r`óc rách/ Như đua bắt làn hương” (Tay ngà) hay “Em đi chàng theo sau/ Em không dám đi mau/ Ngại chàng chê hấp tấp/ Số gian nan khó giàu” (Chùa hương).

Xuan-2019--Nguyen-Nhuoc-Phap-Thi-si-tai-hoa-va-bac-menh---Anh-1
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938).

Nguyễn Nhược Pháp sinh năm 1914 tại Hà Nội, trong một gia đình nổi tiếng có cha là Nguyễn Nhược Pháp, một nhà văn, học giả và người giàu có tiếng. Mẹ ông, bà Phan Thị Lựu là con gái một thổ ty giàu có vùng Lạng Sơn. Lên 2 tuổi, mẹ ông không chịu nổi sự san sẻ tình cảm giữa Nguyễn Nhược Pháp và một người tình lai Pháp nên đã tự tử. Nguyễn Nhược Pháp về sống với mẹ cả, tức bà vợ đầu của Nguyễn Nhược Pháp. Từ năm 1930, kinh tế gia đình Nguyễn Nhược Pháp lâm vào khó khăn trầm trọng sau khi cha ông thất bại trong nhiều vụ làm ăn, Nguyễn Nhược Pháp vừa học để thi tú tài, thi đại học luật và vừa làm ở tòa báo, làm thơ để phụ giúp gia đình. Sau nhiều cái tang liên tiếp: cha mất, anh mất, chị mất, Nguyễn Nhược Pháp mắc bệnh lao hạch và qua đời ngày 19-11-1938, khép lại một cuộc đời tài hoa bạc mệnh.

Đầu thế kỷ XX, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện đầy những câu thơ quay cuồng điên đảo, yếm thế, chán đời, rút vào tháp ngà của nghệ thuật. Đó là những: “Say đi em! Say đi em! / Say cho lơi lả ánh đèn, / Cho cung bậc ngả nghiêng. Điên rồ xác thịt, / Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!” (Vũ Hoàng Chương); là những vần thơ sống gấp “thà một phút huy hoàng rồi chợt tối” (Xuân Diệu); là những vần thơ tuyệt vọng của thi sĩ Chế Lan Viên: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu: / Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? /Với tôi tất cả như vô nghĩa, / Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”… May thay, trong bối cảnh ấy lại xuất hiện trên thi đàn một Nguyễn Nhược Pháp với những vần thơ nhẹ nhàng, ngộ nghĩnh.

Không chỉ nổi tiếng với những bài thơ, trong đó có “Chùa Hương” thấp thoáng bóng hình của một giai nhân. Sau khi bài thơ “Chùa Hương” của tác giả được ca sĩ Trung Đức và nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc thành bài hát “Em đi chùa Hương” thì tên tuổi của chàng thi sĩ tài hoa nhưng mệnh bạc được rất nhiều người biết. Thế nhưng, không chỉ là nhà thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn là tác giả của nhiều truyện ngắn, kịch và nhiều bài phê bình văn học. Dù sống cuộc đời trần thế ngắn ngủi chỉ 24 năm, nhưng Nguyễn Nhược Pháp đã để lại một gia tài văn chương đồ sộ khiến mọi người không khỏi kinh ngạc và thán phục.

“Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: Với Nguyễn Nhược Pháp, nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng” (Thi nhân Việt Nam).

Vũ Trung Kiên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc