Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nguyên Ngọc không còn nguyên!

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 25-3-2016, có hai bài viết có thể làm nhiều người ngộ nhận. Bài thứ nhất: “Giải Phan Châu Trinh vinh danh học giả Nguyễn Văn Vĩnh”. Bài báo viết: “… Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh năm nay cũng tôn vinh vị danh nhân văn hóa là nhân vật tiếp theo được rước vào dự án Tinh hoa văn hóa Việt Nam thời hiện đại, chính là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX: Danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh…”.

Sự thật có đúng như vậy không?! Theo GS. Trịnh Văn Thanh trong Từ điển “Thành ngữ Điển tích Danh nhân Từ điển” – NXB Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1966 – nói về Nguyễn Văn Vĩnh trang 881 viết: “… Tiếc thay, ông lại tham gia vào chính trị, một thứ chính trị vong bản mà thực dân Pháp đã cố tình đưa ra hầu làm lợi khí trong việc thống trị. Nguyễn Văn Vĩnh đã từng giữ những chức vụ sau đây trong nền hành chánh của chính phủ bảo hộ: Hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội; Hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc kỳ; Hội viên sáng lập của Đại hội Nghị Đông Pháp (từ khi mới thành lập). Vì lẽ đó, sự nghiệp văn chương của ông bị lu mờ và ông bị các nhà cách mạng thời bấy giờ cho là tay sai của thực dân, ông bị nghi ngờ là phản lại quyền lợi của dân tộc. Năm 1936, ông cùng một người Pháp sang Lào để khai thác mỏ vàng, rồi mất tại Tchéphone”…

Nha-bao---dich-gia-Nguyen-Van-Vinh
Nhà báo – dịch giả Nguyễn Văn Tĩnh (1882-1936).

Vậy, Nguyễn Văn Vĩnh là ai: “Nguyễn Văn Vĩnh, hiệu là Tân Nam Tử (1882-1936), tốt nghiệp ở trường Thông ngôn rồi làm thư ký tòa sứ ở Lào Cai, Kiến An, Bắc Ninh và ở tòa đốc lý Hà Nội. Năm 1906, được chính phủ thực dân Pháp cử đi đấu xảo ở Mác-xây (Pháp), lúc về thôi việc, chuyên kinh doanh, mở nhà in, mở đồn điền. Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút nhiều tờ báo như: Đại Nam đăng cổ tùng báo (1907), Notre Journal (Báo hàng ngày của chúng ta – 1908-1909), Notre revue (Tạp chí của chúng ta – 1910), Lục tỉnh tân văn (1910) do F.H. Schneider sáng lập, Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc tân văn (1915), Annam nouveau (An Nam mới – 1931).

Những tờ báo do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương phần nhiều được trợ cấp của chính phủ thực dân Pháp. Năm 1927, cùng E. Vây-rắc ra một loại sách lấy tên là Âu Tây tư tưởng, gồm những sách dịch. Trong tờ Annam nouveau, Nguyễn Văn Vĩnh ít chú ý đến văn học mà chuyên bàn về chính trị, nhất là thuyết “trực trị” nghĩa là mời chính quyền Pháp cai trị trực tiếp trên khắp cõi Đông Dương, coi Trung kỳ và Bắc kỳ như Nam kỳ, coi cả ba kỳ như là một thuộc địa hoàn toàn trực thuộc Pháp. Năm 1932, cũng ở tờ báo này, Vĩnh công kích những loại văn mà Vĩnh gọi là “phiến loạn” và nói nhiều câu xúc phạm tới nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế. Thế là một làn sóng công phẫn nổi lên từ Nam chí Bắc, nhiều bài báo chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh, vạch cả cái quá khứ thân Pháp của hắn và đề cao nhà cách mạng Phan Bội Châu”… (Lược truyện các tác gia Việt Nam – tập II của các tác giả: Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội 1972; tr.102-103).

Hãy xem Giáo sư Trần Văn Giàu – Nhà giáo nhân dân; Anh hùng lao động; Huân chương Hồ Chí Minh; Giải thưởng Hồ Chí Minh viết về Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút:

“Thứ nhất: Kịch liệt và thô bỉ chống lại bạo động cách mạng, ra mặt tố cáo những người cách mạng một cách dữ dội mà sau chiến tranh sẽ không thấy, hay ít khi nào thấy, trên báo của người Việt dù là tư sản. Đông Dương tạp chí số 1 gọi những người cách mạng đã nổ bom là “quân cuồng dại”, là dùng khí giới “tiểu nhân”, là “dùng chước ăn mày”, là “dòi bọ ngoại quốc”, là “mấy anh ốm đói”, “chỉ tày một nắm”, là “cỏ ăn hại”, đáng “bỏ rọ lăn sông”, hô hào “quan hai nước Pháp, Việt phải hợp lực mà trừ cho hết đi”. Đông Dương tạp chí cho rằng bạo động cách mạng đã không thể thành công vì nước Pháp mạnh lắm, bạo động cách mạng còn làm nản lòng người Pháp có thiện chí đang thi hành những điều cải cách. Và lúc này, ngoài Bắc mới xảy ra những vụ Đảng Việt Nam Quang phục vừa mới nổ mấy quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, diệt một số Tây và Việt gian. Đảng cách mạng không nghĩ rằng với mấy quả bom lẻ tẻ ấy có thể đánh đuổi thực dân, mà chỉ muốn bằng tiếng bom nổ thức tỉnh đồng bào đang ngáy ngủ, khẳng định sự tồn tại của đảng cách mạng và làm kinh hồn quân cướp nước. Vậy mà, Đông Dương tạp chí viết:“Mới rồi ở Bắc kỳ ta có xảy ra một sự nguy biến, ta lấy làm lo cho việc khai hóa của dân An Nam có lẽ vì những việc đó mà trì hoãn lại. Than ôi! Công việc cải lương gắn bó hàng năm mới thành được chút đỉnh mà một phút bị quân cuồng dại phá tan. Những quân ấy tưởng rằng làm hại người Đại Pháp thì làm hại dân tộc ta chẳng biết muôn vàn nào kể”.

Đông Dương tạp chí số 2, trở lại cái thuyết chống bạo động cách mạng của họ, dường như muốn tự giải thích về mặt lịch sử và lý luận: “Chớ có thấy mấy nước liệt cường có hồi đại loạn mà tưởng rằng sự tiến hóa phải có cách mạng mới được. Cách mạng là bất đắc dĩ, chớ có cho là việc nên làm. Phàm cách mạng chỉ làm cho bị hãm sức khai hóa lại, chớ không có làm cho tiến bộ bao giờ. Sách Tây có nói rằng: Tạo hóa không nhảy bao giờ. Cứ tuần tự mà đi, hễ nhảy thì ngã lúc nào, thiệt mất quãng đường mà thôi chứ không nhanh thêm được chút nào”.

Đây là một tư tưởng sai lầm, phản động, nhưng lại phổ biến trong các lớp người thống trị, tay chân giàu có và quyền quý của thực dân. Cách mạng thì chúng thiệt, nhân dân chỉ mất gông xiềng, cho nên nhân dân tán thành và mong mỏi cách mạng bao nhiêu thì chúng lo sợ, phản đối cách mạng bấy nhiêu. Cây mạ không thể sinh nếu không đâm thủng vỏ của hạt lúa; gà con không thể nở nếu không phá vỡ vỏ của trứng gà. Núi non, biển cả, đồng bằng sẽ không có nếu không có chấn động của trời đất. Thiên nhiên đầy dẫy những cái nhảy. Xã hội và lịch sử cũng thế: Triều đại thay đổi, chế độ thay đổi, không bao giờ là không bởi chuyển động cách mạng. Bạo lực, nhất là bạo lực quần chúng, như là bà đỡ của trẻ sơ sinh. Sự chuyển biến tuần tự sớm hay muộn đều đi đến một cuộc cách mạng, một sự biến chất, một bước nhảy. Còn những lực lượng cố sức duy trì đặc quyền, đặc lợi của họ, chống lại sự tiến bộ, sự đổi mới, thì lịch sử còn cần đến bạo lực cách mạng của nhân dân, cho đến khi con người cầm quyền, nhân dân cầm quyền nắm chắc và ứng dụng quy luật phát triển của xã hội và lịch sử, khi ấy mới không cần đến bạo động cách mạng, bạo lực quần chúng nữa.

Thứ nhì: Chủ trương “trung nghĩa” với Đại Pháp để cầu tiến bộ, cải lương, khai hóa. Bọn này không phủ nhận, không thể phủ nhận rằng người Pháp nắm nhiều lợi quyền, nhưng giải thích rằng đó là sự đền bù công lao khai hóa, bảo hộ, trị an. Chúng không phủ nhận, không thể phủ nhận rằng dân ta bị trị, nhưng lại cho rằng: “Nay dễ chịu trăm lần hơn xưa”, ý muốn nói rằng sống dưới chế độ thuộc địa còn khá hơn là sống dưới chế độ nhà vua hồi thời độc lập, Đông Dương tạp chí viết: “Có kẻ nói rằng: Ta không nhờ gì được sự khai hóa ở ông Lang Sa. Tôi xin cãi lời xằng ấy một cách rất tự do, kẻo những quân ấy lại cho làm lời dua nịnh. Phàm sự tiến hóa ở thời trị, không ở thời loạn bao giờ. Dù Nhà nước An Nam, dù Nhà nước bảo hộ cũng vậy, khi nào giữ được cho phong thịnh, đầu năm chí cuối năm có gạo mà ăn, yên lòng lạc nghiệp, trong nước các nơi giao thông được tiện, người có của không sợ hai thứ cướp đêm, cướp ngày thì tất nhiên mà dần dần tiến hóa. Cơ hội ấy chắc chắn Nhà nước bảo hộ dù chưa làm cho ta đến cực điểm song tỉ với thời xưa cũng còn gấp hơn trăm lần, mà lại thêm được chút ít tự do, hơi nếm mùi dân chủ”. Đông Dương tạp chí lập luận: “Ta là phận kẻ yếu kém, số kiếp nào cũng là phải có người đè nén, mà nay được một người đè nén có lương tâm ấy, thực là được một ông thầy giỏi lại muốn ta hay”.

Dân tộc Việt Nam bị Pháp đè nén? – Vâng, có thật. Cái số kiếp như thế này thì phải thế. Nhưng đó là may mắn cho ta lắm chớ còn trách gì, bởi vì ta may mắn được đè nén bởi “người đè nén có lương tâm”, người đó lại là ông “thầy giỏi”!

Rặt giọng Nguyễn Văn Vĩnh! Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, quả là rất hiếm có báo chí Việt nào lại ra mặt bênh vực bảo hộ Pháp một cách “trung nghĩa” kiểu Vĩnh như thế này.

Ký giả Tân Nam Tử (cũng là Vĩnh) của Đông Dương tạp chí tranh luận với các chí sĩ cách mạng về cái nguy cơ diệt chủng; y nói rằng cái đó không đáng sợ, vì người Pháp không cày ruộng nước ta được; nước Pháp không phải là nước Tàu, nước Nhật; ví như ta bị Tàu, Nhật cai trị thì khi ấy sẽ mất cả nhà lẫn ruộng, sẽ bị nguy cơ diệt chủng. Đông Dương tạp chí viết: “Phải biết cơ còn mất là ở ta, không ở người. Còn người thì còn nước, còn đẻ thì còn người; còn ruộng đất mà cày cấy thì còn đẻ được. May mà sao! Đất của ta thì lại chỉ có ta cày được mà thôi. Đó là cái cơ vẫn còn chớ không mất được. Người Lang Sa sang đây, dẫu có quyền lợi trong tay để bù cái công lao khai hóa, cũng chỉ thu được cái thương quyền, cái chính trị quyền mà thôi”.

Đông Dương tạp chí đi đến kết luận:“Nghĩ trong bấy nhiêu lẽ, thì dân ta thời nay chỉ nên giữ lấy một chủ nghĩa, chủ nghĩa Pháp – Việt. May mà ta được thầy Đại Pháp thì cố mà giữ riết lấy thầy Đại Pháp. Chuyên mà làm ăn, dốc chí học hành. Mấy đứa bàn nhảm, xui càn, bắt được, ta nên bỏ rọ lăn sông”.

Ghê chưa!

Thứ ba: Tự bào chữa, tự đề cao, cho rằng chủ nghĩa Pháp – Việt mới chính là một “chủ nghĩa bảo thủ chưởng loại, yêu nước rất cao xa… Chúng mới là người biết thương nòi giống, còn những người cách mạng thì “ngẫm nghĩ cho cùng, những quân này không có vì nghĩa nước nhà là gì, mà làm loạn, chúng nó chỉ cốt hại người và hại cả đồng bào”. Đông Dương tạp chí cho rằng biết ân nghĩa đối với Pháp “là một việc can đảm, nghĩa khí”, rằng trung nghĩa với Pháp là phù hợp và nhất trí với yêu nước thương nòi: “Ân nghĩa ấy, dù lấy tình mà ở, dù lấy lý mà ở, dù người nghĩ điều lợi nông nổi trước mắt, dù người nghĩ đến ái quốc, bảo chưởng loại cao xa, cũng là hợp cả”. Và: “Người Tây từ ngày sang đây bảo hộ đến giờ, các công việc đã làm ra toàn là việc mở mang cho nước Nam chóng tiến bộ cả, giữ được bình yên để cho dân sung sướng mà theo lẽ tuần hoàn lên cõi văn minh, thì hà tất phải phi phản mới là yêu nước. Tưởng lấy lòng trung nghĩa mà giúp bảo hộ, thế mới thực một cách yêu nước phải mà cao” (Trần Văn Giàu – Tổng tập, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 2008, tập III, tr.683-684-685-686).

Bài thứ hai: “Vĩnh biệt nhà sử học Tạ Chí Đại Trường”. Bài báo cho rằng: “… Ông bắt đầu làm việc với sử liệu và nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ trước 1975. Các công trình của ông được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao, không chỉ ở mức độ công phu, cẩn thận khi xử lý tư liệu mà quan trọng là cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường về lịch sử Việt Nam có tính mới mẻ với nhiều kiến giải quan trọng, tạo nên một “phong cách sử học” của riêng ông”.

Tạ Chí Đại Trường là ai? Được biết, Tạ Chí Đại Trường sinh năm 1938 tại Nha Trang nhưng quê gốc ở Bình Định, là con trai ông Tạ Chương Phùng, cựu tỉnh trưởng tỉnh Bình Định.

Theo truyền thống của cha mình, năm 1964 Tạ Chí Đại Trường nhập ngũ. Ông phục vụ trong quân đội của chế độ cũ từ năm 1964 cho tới năm 1974 lên tới quân hàm đại úy. Sau năm 1975, ông trải qua giai đoạn học tập cải tạo đến năm 1981. Một người cầm súng 10 năm phục vụ cho chế độ cũ, 6 năm học tập cải tạo, hơn 10 năm định cư ở Hoa Kỳ. Vậy ông đứng chỗ nào để có thể viết lịch sử cho dân tộc Việt Nam qua 3 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại một cách khách quan? Có lẽ ông ấy viết quân sử cho quân đội của chế độ cũ thì chắc ăn hơn, mà viết theo dạng này nhất định đồng bào ở trong nước sẽ không đọc, chỉ một “nhúm” người có công với chế độ cũ ở nước ngoài như ông Đại Trường đọc mà thôi. Được biết cuốn “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” của ông Đại Trường được Viện Sử học của chế độ cũ ấn hành viết: “Sự kiện quan trọng nhất xảy ra trong lịch sử Đại Việt vào giữa bán thế kỷ XVIII là “loạn” Tây Sơn… Chỉ riêng có anh em Tây Sơn truất quyền các triều đại có mặt bằng mưu mô binh lực, đem vào lịch sử những tên mà bình thường là tên buôn trầu, chị đàn bà giữ con, ông thầy đồ ở làng và cả những kẻ sống ngoài vòng pháp luật nữa… (Sách đã dẫn, tr.43). Để tăng quân số và khí giới của quân Tây Sơn, Tạ Chí Đại Trường viết: “… từ Phú Xuân cho tới sông Gianh, chỉ trong 5 ngày, tất cả đều bị bắt đi. Tây Sơn phá các chùa chiền và ép các nhà sư phải mang khí giới đi đánh giặc. Những tín đồ Công giáo cũng không được chừa, hầu hết phải gia nhập vào đoàn quân viễn chinh ra Bắc. Ngoài ra Tây Sơn cũng cần kim khí. Họ phá nhà thờ, chùa chiền, một phần để bắt người, một phần để tìm các tượng và các chuông về đúc súng đại bác. Đáng lưu ý là đám tân binh bị bắt buộc vác súng này, một khi bị lôi cuốn vào trận địa, vẫn trở nên những người lính can đảm, có kỷ luật”… (Sđd, tr.137-138).

Sự thật không phải quân Tây Sơn tàn ác, bất lương đến như vậy: “Một số giáo sĩ ở phương Tây có mặt ở nước ta lúc bấy giờ mô tả nghĩa quân Tây Sơn là: “Ban ngày những người lính khởi nghĩa xuống các chợ, kẻ đeo dao gươm, người mang cung tên, có người mang súng… Người ta gọi là những kẻ nhân đức với người nghèo. Họ muốn giải phóng dân khỏi ách chuyên chế của vua quan”… (Tìm hiểu về các triều đại Việt Nam của TS. Cao Ngọc Lân – ThS. Cao Vũ Minh, NXB Lao Động, tr.312). Chao ôi! Quân Tây Sơn ở miền Nam ra đánh quân Thanh giải phóng thành Thăng Long mà Tạ Chí Đại Trường gọi là quân viễn chinh. Bấy nhiêu đó đã rõ, cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường đối với người anh hùng dân tộc Quang Trung và vua Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà” đã khác chúng ta. Từ tháng 8/1994, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu định cư tại Hoa Kỳ. Do điều kiện cuộc sống, phải tới 10 năm sau ông mới quay trở lại Việt Nam và khó có cơ hội tiếp xúc với tài liệu sử học trong nước, vì vậy Tạ Chí Đại Trường phải từ bỏ những đề tài chuyên biệt để tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung thông qua các tư liệu ông thu thập được qua nhiều nguồn ở Mỹ, kể cả từ các chợ sách ngoài trời… Ngày 24/3/2016, ông qua đời tại nhà riêng ở TP.Hồ Chí Minh.

Dân gian có câu “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nghĩa là trước đó có mâu thuẫn gay gắt đến mấy, nhưng khi người có mâu thuẫn với mình đã chết, theo tập tục của đồng bào ta, ta phải từ bi, hỷ xã mở rộng lòng bỏ qua và đích thân đến viếng họ lần cuối, ghi vào sổ tang đôi dòng hướng về mặt tốt, để linh hồn người chết ra đi được thanh thản. Người xưa bảo cư xử với nhau như vậy là có hậu, là cách cư xử văn minh, đúng đắn nhất giữa con người với con người. Tạ Chí Đại Trường vừa mới chết, lẽ ra nếu thương Ông phải để Ông yên nghỉ, nhưng ông Nguyên Ngọc – chủ tịch giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh (một người “sớm đầu, tối đánh”) chẳng biết văn hóa là gì cả nên ông đã trao “giải nghiên cứu” cho Tạ Chí Đại Trường. Hãy xem diễn từ của Tạ Chí Đại Trường tại lễ nhận giải này: “… Nhưng bởi tính chất của một đất nước đắm chìm lâu dài vào một nền văn chương rổn rảng, mớ triết lí thu thập ở mức trung bình, với những người chưa từng nghe đến tinh thần thực nghiệm, vẫn hiểu sử như lúc đang bàn sử, nên các trí thức này, hoặc thốt ra những lời bài bác thô lỗ cục cằn, hoặc ba hoa những lí thuyết lạc đề xử sự. Nghe họ nói, viết thấy cứ như người lên đồng trên giảng đường, trước đám quần chúng vô danh trong những cuộc mít-tinh chính trị, hay ở tập họp quần chúng vô hình thời đại internet. Không hề gì, họ vẫn hiện diện, đầy uy thế”… Đấy, Tạ Chí Đại Trường đã đánh giá văn chương, trí thức xã hội chủ nghĩa và quần chúng vô danh trong chính trị và quần chúng vô hình thời đại internet như vậy đấy. Rồi báo Tuổi Trẻ lại khai quật tử thi của ông bằng những cuộc trao giải và “Vĩnh biệt nhà sử học Tạ Chí Đại Trường”. Ai gọi ông Đại Trường là nhà sử học. Phải chăng chỉ có ông Nguyên Ngọc và đồng hội đồng thuyền của ông?

Nhiều người cho rằng: Các dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải thực hiện các cuộc chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hóa nổi bật: Tư tưởng yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực. Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thủy đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc.

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông đỗ phó bảng năm 1901, được bổ nhiệm làm quan thừa lại Bộ Lễ. Năm 1905, ông từ quan tham gia phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu cao, thuế nặng tại Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, ông đang diễn thuyết tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục – Hà Nội thì bị Pháp bắt đưa vào Huế rồi bị đày đi Côn Đảo. Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước, còn Nguyễn Văn Vĩnh một người Việt Nam theo Tây, từng giữ những chức vụ quan trọng, được chính phủ bảo hộ giao làm chủ bút một số tờ báo như vừa nêu, rồi Hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội; Hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc kỳ; Hội viên sáng lập của Đại hội Nghị Đông Pháp, chống lại những người có tư tưởng yêu nước. Còn Tạ Chí Đại Trường, một đại úy trong quân đội của chế độ cũ, làm lính đánh thuê cho Mỹ, viết sách “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” được Nguyễn Văn Thiệu trao giải thưởng 1970, nay được ông Nguyên Ngọc trao “giải nghiên cứu”; còn Nguyễn Văn Vĩnh lại được ông Nguyên Ngọc rước vào dự án Tinh hoa văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Nếu người chết mà có linh hồn, ắt nơi chín suối cụ Phan Châu Trinh, cụ Phan Bội Châu và các liệt sĩ Việt Nam Quang phục… sẽ buồn và phẫn nộ biết bao!

Rõ ràng, Nguyên Ngọc không còn Nguyên!…

Trịnh Phi Long
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

Ý Kiến bạn đọc