Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguyễn Đình Chiểu – Ngọn Thái Sơn vời vợi

 

Ngày 23/11/2021, tại Paris, “kinh đô ánh sáng” của nước Pháp, Đại hội đồng UNESCO lần thứ 41 đã thông qua danh sách “Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử niên khóa 2022-2023” để UNESCO cùng các nước vinh danh. Hồ sơ kỷ niệm 200 năm sinh của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu cùng gần 60 hồ sơ của các quốc gia khác đã được thông qua.

Một Nhà Nho Chân Chính, Phẩm Cách Tót Vời (*)

Có lẽ với những người từng cắp sách đến trường, không mấy ai là không biết đến danh tiếng lẫy lừng của cụ Đồ Chiểu, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ông chào đời ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 1/7/1822, tại quê mẹ ở làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Tương truyền chốn ấy nay thuộc địa phận của phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng gốc gác gia tộc Nguyễn Đình lại ở Thừa Thiên. Thân phụ là cụ Nguyễn Đình Huy vào làm Văn hàn ty thư lại trong dinh Tổng trấn thành Gia Định. Điểm sơ vài nét về nguồn gốc xuất thân để lý giải tầm văn hóa thẳm sâu của cụ Đồ Chiểu sau này.

tapchi32-33--Nguyen-Dinh-Chieu-Ngon-Thai-Son-voi-voi---Anh-3
Dương Từ – Hà Mậu (NXB Tân Việt).

Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đậu Tú tài ở trường thi Gia Định. Tới năm 25 tuổi, thì lều chõng ra Huế “lai kinh ứng thí”, chờ thi Cử nhân năm Kỷ Dậu (1849) rồi tiếp đó sẽ là thi Hương. Tiếc thay, kỳ thi chưa tới, thì ông nhận được hung tin là người mẹ qua đời. Trên đường về cư tang thân mẫu, vì đau xót và khóc thương nhiều, nên Nguyễn Đình Chiểu chẳng may bị hỏng mắt. Không thể tiếp tục con đường khoa cử, ông lui về bốc thuốc và mở trường dạy học. Từ đó, liên tục xảy ra các biến cố lớn, chung có mà riêng cũng có, đã khiến Nguyễn Đình Chiểu cầm bút và sử dụng văn thơ như một thứ lợi khí đánh giặc.

Sau 5 tháng nổ súng vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Annam, không giành được thắng lợi, liên quân Pháp – Tây Ban Nha quyết định chuyển hướng xuống phía Nam. Đầu tháng 2/1859, viên Đô đốc Charles Rigault de Genouilly đưa chiến thuyền kéo quân vào Gia Định. Sau khi quê mẹ bị giặc “Phú lãng sa” chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu chạy về quê vợ ở Cần Giuộc, tiếp tục dạy học. Hai năm sau, Cần Giuộc thất thủ nốt, ông và gia đình phải “tỵ địa” sang Ba Tri, Bến Tre.

Bấy giờ, nhân dân và sĩ phu khắp nơi nổi lên chống giặc. Bám sát thời cuộc nóng bỏng, Nguyễn Đình Chiểu đã có “Chạy Tây” từ rất sớm. Đau đớn và phẫn uất: “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây / Một bàn cờ thế phút sa tay / Bỏ nhà lũ trẻ lơ thơ chạy / Mất ổ bầy chim dáo dác bay / Bến Nghé của tiền tan bọt nước / Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây / Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng / Nỡ để dân đen mắc nạn này?”. Trước vận mệnh sống còn của đất nước, là một nhà Nho chân chính, một người yêu nước có phẩm cách rất thanh cao, với lòng căm thù giặc sâu sắc, ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu luôn đứng về phía nhân dân. Hầu như toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông đều nhằm thực hiện chức năng “văn dĩ tải đạo” của văn chương chính đạo, chủ trương treo gương tốt, xấu để giáo huấn, khen chê. Những tác phẩm nổi tiếng của ông, gồm 3 truyện thơ Nôm: “Lục Vân Tiên”, “Dương Từ – Hà Mậu”, “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”…

Sau khi Pháp chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh, bất chấp cuộc sống gia đình hết sức khó khăn, nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn chọn phương cách sống của các sĩ phu yêu nước. Tỵ địa, nghĩa là rời bỏ vùng đã bị giặc chiếm đóng, lánh sang vùng còn tự do để biểu thị thái độ bất hợp tác với giặc. Biết rõ chiều kích sâu rộng, sức mạnh lớn lao của văn chương Đồ Chiểu, thực dân Pháp tìm mọi cách mua chuộc, như tỏ ý trả lại ruộng đất, trả tiền cho truyện thơ “Lục Vân Tiên”, hoặc đưa tặng tiền vàng, v.v… nhưng cụ Đồ dứt khoát từ chối. Tấm lòng son của ông được nhân dân khắp nơi mến chuộng và kính trọng.

tapchi32-33--Nguyen-Dinh-Chieu-Ngon-Thai-Son-voi-voi---Anh-4
Nguyễn Đình Chiểu bắt mạch chữa bệnh – Đoàn Việt Tiến.

Một Khúc Ca Bi Tráng

Trung tuần tháng 12/1861, nghĩa quân tập kích giặc Pháp ở Cần Giuộc, giết được tên quan hai thực dân cùng một số lính thuộc địa. Khi giặc quay lại phản công, có hàng chục nghĩa quân đã hy sinh. Thương tiếc và cảm phục những nghĩa sĩ đã bỏ mình vì nước, Nguyễn Đình Chiểu viết bài “Văn tế vong hồn dân mộ nghĩa”, nhưng tên gọi đã đi vào lòng ức triệu đồng bào là “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”.

Tương truyền, bài này được viết theo “đơn đặt hàng” của Tuần phủ Gia Định – Đỗ Quang, để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ đức hy sinh vì nghĩa lớn của những người dân yêu nước. Với tài năng vượt trác việt, với tấm lòng cao cả, thiết tha vì nước vì dân, bài văn tế trở thành một áng văn bất hủ, dựng nên một tượng đài lừng lững giữa trời Nam, độ lùi càng xa lại càng vằng vặc như ánh trăng rằm sáng soi hết thảy.

Toàn bài văn tế này được viết bằng chữ Nôm gồm 30 liên, tức 60 vế biền ngẫu. Thuộc thể cổ văn, biền ngẫu được sử dụng nhiều ở các thể loại: phú, cáo, hịch… gồm nhiều vế đối thành từng cặp và ngay trong cùng một vế cũng có thể có 2 đoạn đối nhau, nhưng cái khó nhất là đối ý và đối chữ sao cho thật chỉnh và nghiêm ngặt. Vậy nên, để viết thành công thể loại này, người viết phải thuộc hàng có “ba bồ” chữ trong bụng. Ngoài ra, cụ Đồ Chiểu còn dùng thể phú để viết 12 bài thơ điếu Trương Định, rồi “Văn tế Trương Định” (1864), 12 bài thơ điếu Phan Tòng (1868), “Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh” (1874)…

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” được Nguyễn Đình Chiểu viết khi chớm bước vào tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” nhưng tài thi phú đã vào độ chín muồi, sung mãn. Được làm theo thể phú, bài văn tế đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ, trầm hùng, bi thiết, có sức cổ vũ vô cùng lớn lao. “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ”. Lối mở đầu vừa cổ kính, lại vừa rất hiện đại, từng cặp đối quá ư chuẩn chỉnh, vần, ý cứ chan chát, như dao cứa vào lòng người, ứa máu, rơi lệ.

Nội dung bài văn tế nêu bật lòng căm thù quân xâm lược sâu sắc của những người “dân ấp dân lân” xưa nay vốn quen “cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”. Quan trọng hơn là họ “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”. Có lẽ, văn học thành văn chưa ai làm được như Nguyễn Đình Chiểu là khắc họa hình ảnh chân thực mà xiết bao bình dị, sống động của những người nông dân: “Việc cuốc, việc cày, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”. Những tráng đinh “ngoài cật có một manh áo vải… trong tay cầm một ngọn tầm vông”, không đòi trang bị cầu kỳ như quân lính triều đình. Vậy mà kính nể thay, họ dám xông ra trận tiền, dũng mãnh “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”. “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh”. Họ liều mình vì nghĩa lớn, chứ không phải liều mạng, bởi lòng yêu nước bền chặt, gắn với cái cụ thể chứ không hề trừu tượng “Tấc đất ngọn rau ơn chúa”, sâu xa hơn là lòng tự hào dân tộc về “Một mối xa thư đồ sộ”, quyết không cam chịu để lũ “treo dê bán chó” làm “vấy vá” dơ bẩn đất nước này. Tác giả ngợi ca những con người trung quân, ái quốc, dám cầm dao phay, gậy tầm vông, rơm con cúi… can đảm đứng lên, giết giặc ngoại xâm.

Thái độ của tác giả rất rõ ràng, dứt khoát, ngợi ca đức hiếu trung của những người tiết nghĩa, quyết không hợp tác với kẻ thù. “Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc…”. “Thà thác mà đặng câu địch khái về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Nguyễn Đình Chiểu đề cao sự xả thân vì nghĩa lớn. Ngòi bút của ông hào sảng mà chân thành, thắm thiết. “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. Dễ gì viết được những câu như này: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh…; sống thờ vua, thác cũng thờ vua”. Nó thể hiện cái tầm cao vời vợi, một lòng đau đáu vì xã tắc của một danh nhân văn hóa.

Có thể nói, bài văn tế đạt đến tầm kinh điển của thể phú, ngôn từ cổ kính mà vẫn hết sức hiện đại, gần gũi. Đặc biệt, tuy bị mù lòa, nhưng tấm lòng cụ Đồ Chiểu luôn vằng vặc như trăng sao. Cái tâm của cụ luôn thấu thị, nhìn rõ, hiểu sâu và cảm thông sâu sắc với những người dân ở “trong làng bộ”. Những câu khiến người đọc trào nước mắt: “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”. Toàn bài, không thừa một chữ nào.

Tác giả khép lại bằng những câu cảm thán rút từ gan ruột: “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”. Cái quan niệm dân nước đều là tôi con của vua, đất đai trong nước đều là của vua, được tác giả đưa vào như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm. Không phải ngẫu nhiên mà ngay sau khi ra đời, bài văn tế lập tức được truyền tụng khắp nơi trong nước, gây xúc động lòng người.

Từ mấy thế kỷ trước, Nguyễn Trãi (1380-1442) từng viết: “Lòng một tấc son còn nhớ chúa. Tóc hai phần bạc bởi thương thu”. Mạch nguồn yêu nước, thương dân luôn chảy dạt dào trong những tâm hồn trượng phu, cao cả.

Nét độc đáo và đặc sắc ở “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là bên cạnh các điển tích, điển cố được sử dụng thuần thục, chứng tỏ học vấn uyên thâm, Nguyễn Đình Chiểu còn dùng nhiều ngôn ngữ và chi tiết bình thường của đời sống thường nhật, mà lạ thay nó có sức lay động rất lớn lao. Với bài văn tế này, có thể nói lần đầu tiên trong văn học nước ta, hình tượng những người “dân ấp dân lân” – những nghĩa sĩ hiên ngang chống giặc ngoại xâm được ca ngợi như những người anh hùng, được dựng thành một tượng đài nghệ thuật bất tử, mà trước và sau cụ Đồ Chiểu, chưa ai làm được. Đây là đỉnh cao về nội dung và nghệ thuật của thơ văn của ông. Hơn ai hết, Nguyễn Đình Chiểu là người sớm nhất, lẩy ra được tính cách điển hình của con người Nam kỳ lục tỉnh hào hiệp, trượng nghĩa, thà chết chứ nhất quyết không cam chịu sống hèn, sống nhục. Dễ hiểu vì sao mạch nguồn ấy vẫn cuồn cuộn chảy mãi trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (1940) và hùng khí của Nam bộ kháng chiến, đi trước về sau.

Bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu thật xứng đáng với lời ngợi khen của các văn nhân sống cùng thời với ông, trong đó không thể không nhắc đến hai anh em ruột nhà thơ hoàng tộc nức tiếng Miên Thẩm (1819-1870) và Mai Am (1826-1904), họ là hoàng tử và công chúa con vua Minh Mạng. Tùng Thiện vương Miên Thẩm nhận xét: “Chí cánh thư sinh không bút trận” (Thư sinh giết giặc bằng ngòi bút). Còn nữ sĩ Mai Am trong bài viết “Độc điếu nghĩa dân tử trận văn” (Đọc bài văn viếng nghĩa dân tử trận) thì không ngần ngại nhận xét: “Quốc ngữ nhất thiên truyền bất hủ” nghĩa là “Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi”. Vâng, quả là một lời nhận xét bất hủ về một áng văn bất hủ.

Có thể nói “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” tựa như được cụ Đồ Chiểu đúc từ vàng ròng nguyên khối, mẫu mực. Một bài cổ văn nhưng nội dung tư tưởng chưa bao giờ cũ, sức sống vượt thời gian! Yêu nước, trung quân, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn luôn là bài học thức tỉnh, lay động con người. Bởi vậy, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ lớn, mà là một danh nhân văn hóa, sự nghiệp văn chương của ông sống mãi cùng non sông đất nước, càng lùi xa càng thêm rực sáng.

Về đời tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, năm 1866, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi. Đau buồn vì gia cảnh, sống trong cảnh nước mất nhà tan, nên bệnh tình cụ Đồ ngày càng thêm trầm trọng. Ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3/7/1888) ông qua đời tại Ba Tri, Bến Tre, thọ 66 tuổi. Tương truyền, ngày đưa cụ Đồ Chiểu về cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức (Ba Tri) rợp trắng khăn tang của bao người mến mộ và yêu kính ông.

Nguyễn Minh Ngọc
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

———————
(*) Tót vời: Một từ cổ trong Truyện Kiều “Phong tư tài mạo tót vời / Vào trong thanh nhã, ra ngoài hào hoa”.

Ý Kiến bạn đọc