Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguyên bản Phạm Quỳnh

Kỳ cuối – Mấy lời định luận
(Tiếp theo số báo 471 ngày 12-10-2017)

Giả định của ông Đinh Nho Hoan đã được chứng minh, khẳng định như một định luận về Phạm Quỳnh: “… Ông ta quả là một tên phản quốc mạt hạng, đáng bị muôn đời phỉ nhổ” (Đinh Nho Hoan. Đôi điều suy ngẫm… Tạp chí Xưa & Nay, số 486, tháng 8-2017, trang 53).

Định luận của ông Đinh Nho Hoan là tiếp tục các cụ Ngô Đức Kế (1924: … tà thuyết giả dối), Trần Đình Nam (1945: việc làm của một người phản quốc), Phạm Khắc Hòe (1945: … là một người xấu, bị mọi tầng lớp nhân dân oán ghét và giới nhân sĩ trí thức khinh bỉ…), Phan Văn Dật (… Phạm Hót Tây) cũng như các Giáo sư Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu sau này (*).

Định luận trên bộc lộ một vấn đề quan trọng về quan điểm và phương pháp nghiên cứu Phạm Quỳnh cũng như các nhân vật văn hóa và lịch sử: Nếu lấy tính dân tộc và khoa học làm nền tảng thì mọi vấn đề, mọi đối tượng nghiên cứu dù phức tạp đến đâu cũng trở nên rõ ràng.

Ông Đinh Nho Hoan tỏ rõ tinh thần dân tộc, tính dân tộc trong việc đánh giá Phạm Quỳnh. Nhưng về tính khoa học thì ông lại tỏ ra mơ hồ. Điều đó đưa ông và nhiều người khác như các GS. Văn Tạo, Nguyễn Đình Chú, Phong Lê… đến những lập luận không có tính khoa học.

Chỉ căn cứ vào báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ để khẳng định lòng yêu nước của Phạm Quỳnh thì đúng là “Thầy bói xem voi”. Ông Đinh Nho Hoan lại cắt xén khi trích dẫn để có lợi cho lập luận của ông. Công nghệ thông tin ngày nay thì cứ nên nói thẳng là hơn. Chúng tôi xin dẫn lại bản báo cáo theo nguồn từ những người chống Cộng cực đoan nhất cho nó khách quan:

“Thêm một lần nữa Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật… Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc kỳ về cho Hoàng triều như Pháp quốc đã hứa… Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ mật… Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng triều trên cõi Bắc kỳ… Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm… Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hóa việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc kỳ và Nam kỳ… Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ… Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam… Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hòa hoãn nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong gì làm vơi đi lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta dù chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có… cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ quyền Đại Đông Á… Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…”.

(Giải oan lập một đàn tràng. Hoa Kỳ 2001. Trang 46-47)

Chúng tôi tôn trọng văn bản và xem như một tài liệu tham khảo. Đặt ra mấy điểm sau:

Đến ngày 8-1-1945 mới có báo cáo này, chỉ trước ngày Nhật hất cẳng Pháp hai tháng trời. Sự chống Pháp, “bất khả quy” với người Pháp của Phạm Quỳnh quá muộn màng. Chắc chắn là sau các sự kiện năm 1940, Phạm Quỳnh thấy rõ quan thầy Pháp không còn quyền lực gì nữa, nên đã đổi giọng, té nước theo mưa. Vì phía sau Phạm Quỳnh đã có người Nhật.

Buc-anh-chup-nam-1917-trong-buoi-chia-tay-Pham-Quynh-tu-Dong-Duong-tap-chi-sang-Nam-Phong-tap-chi
Bức ảnh chụp năm 1917 trong buổi chia tay Phạm Quỳnh
từ Đông Dương tạp chí sang Nam Phong tạp chí. (Nguồn: tannamtu.com)

Rõ ràng mọi hành động của Phạm Quỳnh đều nằm trong tầm ngắm, trong vòng kiểm soát của người Pháp. Nếu biết được điều này thì chắc Phạm Quỳnh buồn lòng lắm thay!

Về trách cứ người Pháp trưng dụng lúa gạo… thì không thấy cụ thể. Sự trách cứ này bằng văn bản hay lời nói? Nếu là trách miệng thì trong tâm thế như thế nào? Và cũng là trách cứ một sự đã rồi, lấy nê làm phách vậy thôi!
Cần chú ý đoạn cuối của báo cáo: Nếu Phạm Quỳnh bị lôi cuốn vào thuyết Đại Đông Á…

Đặt báo cáo này bên cạnh Tuyên cáo độc lập Phạm Quỳnh soạn và đọc ở Hội nghị Cơ mật ngày 12-3-1945 thì Khâm sứ Trung kỳ đã nhìn thấy đúng: Phạm Quỳnh đã theo chủ mới. Bản Tuyên cáo độc lập chỉ là chép lại trung thành bản giác thư mà Yokoyama đã trao cho Bảo Đại (1).

Đặt báo cáo này và Tuyên cáo độc lập bên cạnh Thư ngỏ gửi Ngài Bộ trưởng Thuộc địa và Sứ mệnh của nước Pháp… thì thấy rất rõ phẩm chất tráo trở, phản trắc của Phạm Quỳnh, một mẫu mực của cơ hội chính trị. Có bạn đọc sẽ biện minh cho Phạm Quỳnh là mèo trắng mèo đen… miễn đạt được mục đích. Vâng! Và đây vẫn là độc lập do người Nhật ban cho. Nếu “Hợp tác thành thật với Đại Nhật Bản” thì chẳng phải là một can phạm với Phát xít Nhật, chẳng là tội phạm của Đồng Minh và dân tộc hay sao! May cho Phạm Quỳnh là Trần Trọng Kim đã lãnh vai trò này.

Đúng như ông Đinh Nho Hoan viết, về logic hình thức thì báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ bác bỏ đoạn trích của ông Đặng Minh Phương. Nhưng về logic biện chứng thì chính hành động thực tế của Phạm Quỳnh đã bác bỏ logic hình thức của Khâm sứ Trung kỳ. Bây giờ hãy giả định, rằng Phạm Quỳnh có lòng yêu nước – lòng yêu nước không bạo động – như ông Đinh Nho Hoan viết trong bài báo trên, thì sự thể sẽ đi đến đâu. Ông Đinh Nho Hoan hãy giải thích vì sao thực dân Pháp “quyết cướp nước ta một lần nữa”, dân ta phải kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm trời, chỉ đến Điện Biên Phủ, Pháp mới chịu rời khỏi Việt Nam? Để khỏi hoang tưởng về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh, hãy xem thực dân Pháp đã trao trả độc lập cho mấy nước châu Phi như thế nào, theo Hiệp ước thuộc địa năm 1950. Chúng tôi xin dẫn lại bài “14 nước châu Phi được trả độc lập như thế nào?” của tác giả Võ Khánh Linh đăng trên Tạp chí Hồn Việt, số 113, tháng 4-2017, trg. 42-43:

Lâu nay, trên mạng Internet chúng ta vẫn thường nghe các “nhà đấu tranh dân chủ” than khóc cho số phận nhân dân Việt Nam rằng giá như Việt Nam không tốn xương máu, dần dần khắc được trả tự do và hùng mạnh như Nhật, Phi, Hàn… Rồi từ đó chúng kết tội cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khiến đất nước bị tụt hậu như ngày nay… Bắt nguồn cho “tư tưởng” loại này là đám có học tị nạn ở Mỹ, Pháp như Nguyễn Gia Kiểng với tác phẩm kiểu Tổ quốc ăn năn (2) và nhóm Dương Thu Hương (khai thác từ công trình nghiên cứu giá trị văn hóa thời Pháp thuộc để phỉ báng dân tộc u mê “may mắn” được hưởng ánh sáng trí tuệ của nhân loại lại còn đi từ chối). Tôi muốn gửi bài viết của nhà hoạt động châu Phi Mawuna Remarque Koutonin về số phận 14 quốc gia châu Phi vẫn chịu ràng buộc như thuộc địa kiểu mới với nước Pháp để cho những kẻ khoác áo “nhân sĩ”, “trí thức”, “đấu tranh dân chủ” đừng học đòi theo đám Cờ vàng hậu chiến luyến tiếc thời “thịnh trị” của chúng dưới bàn tay bao bọc của quân đội Pháp, Mỹ, từ đó quay sang xuyên tạc lịch sử, phỉ báng công lao của các anh hùng, liệt sĩ đổ xương máu cho nền hòa bình ngày nay.

Bài viết có tiêu đề “14 African Countries Forced by France to Pay Colonial Tax For the Benefits of Slavery and Colonization” (14 nước châu Phi phải trả thuế thuộc địa cho Pháp) (3), trong đó 14 quốc gia này phải tuân thủ Hiệp ước Thuộc địa ký từ năm 1950 để đổi lại “nền độc lập” cho mình, với nội dung chính như:

1. Các quốc gia mới được “độc lập” phải trả tiền cho cơ sở hạ tầng được Pháp xây dựng trong nước họ trong thời thuộc địa.

2. Tự động gửi dự trữ quốc gia cho Pháp. Tức là nước châu Phi phải gửi tiền dự trữ tiền tệ quốc gia của họ vào Ngân hàng trung ương Pháp. Các ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia châu Phi có nghĩa vụ giữ ít nhất 65% dự trữ ngoại hối của mình trong một “tài khoản” được tổ chức tại Kho bạc Pháp, cũng như dành 20% để trang trải khoản nợ tài chính.

3. Pháp được quyền đầu tiên mua bất kỳ nguồn tài nguyên thiên nhiên được tìm thấy của các cựu thuộc địa. Chỉ sau khi Pháp nói “Tôi không quan tâm” thì các nước châu Phi được cho phép để tìm kiếm các đối tác khác.

4. Ưu tiên cho lợi ích của Pháp và các công ty của Pháp trong mua sắm công và đấu thầu công khai. Trong các hợp đồng của chính phủ thuộc địa, các công ty của Pháp phải được xem xét ưu tiên đấu thầu trước, khi họ nhả ra mới được tìm nơi khác. Do vậy, trong rất nhiều ngành kinh tế trọng điểm của các cựu thuộc địa đều ở trong tay của người xa xứ Pháp.

5. Pháp được độc quyền cung cấp thiết bị quân sự và đào tạo cho các cán bộ quân sự nước cựu thuộc địa. Như vậy, thông qua các “học bổng”, “trợ cấp”, các quốc gia cựu thuộc địa châu Phi phải gửi sĩ quan quân đội cấp cao của họ đến đào tạo tại Pháp hoặc các cơ sở đào tạo Pháp. Nhờ đó, Pháp luôn duy trì được hàng trăm, thậm chí hàng ngàn sĩ quan cấp cao các nước thuộc địa được Pháp nuôi dưỡng. Họ không hoạt động khi không cần thiết, và sẽ kích hoạt khi cần thiết cho một cuộc đảo chính hay bất kỳ mục đích nào khác!

6. Phải cho Pháp sẵn sàng triển khai quân đội và can thiệp quân sự vào các nước cựu thuộc địa để bảo vệ lợi ích của Pháp. Điều này tương tự như một “Hiệp định quốc phòng” thuộc khối Hiệp ước Thuộc địa Pháp. Pháp có quyền hợp pháp để can thiệp quân sự vào các nước châu Phi, cũng như đóng quân vĩnh viễn trong các căn cứ trên lãnh thổ các nước này. (Mời xem bản đồ quân sự Pháp ở các nước châu Phi).

7. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của quốc gia và ngôn ngữ cho giáo dục. Thực tế, một tổ chức phổ biến văn hóa và ngôn ngữ của Pháp gọi là “Cộng đồng Pháp ngữ” được xây dựng ở các nước cựu thuộc địa với nhiều chi nhánh khác nhau chịu sự giám sát của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp.

8. Các nước thuộc địa châu Phi có nghĩa vụ phải sử dụng tiền thuộc địa FCFA của Pháp. Đó thực là những con bò sữa cho Pháp, bất chấp Liên minh châu Âu lên án việc làm này nhưng Pháp không chịu từ bỏ chương trình đã đem lại 500 tỷ đô la cho kho bạc của mình từ các nước châu Phi thuộc địa cũ. Trong phần giới thiệu đồng euro tại châu Âu, các nước châu Âu phát hiện các chương trình này của Pháp. Nhiều nước, đặc biệt là các nước Bắc Âu đã đề nghị Pháp bỏ hệ thống này nhưng không thành công.

9. Phải có nghĩa vụ gửi cho Pháp báo cáo dự trữ và cân đối thu chi hàng năm.

10. Không được phép gia nhập bất cứ liên minh quân sự nào khác trừ khi được sự cho phép của Pháp.

11. Phải có nghĩa vụ liên minh với Pháp trong hoàn cảnh chiến tranh hay khủng hoảng toàn cầu. Hơn 1 triệu lính châu Phi đã được tìm thấy trong cuộc chiến chống phát xít trong chiến tranh Thế giới thứ hai. Tuy nhiên, đóng góp của họ thường bị bỏ qua hoặc xem nhẹ.

Tác giả bài báo cho rằng, có một cái gì đó gần như điên loạn trong mối quan hệ giữa Pháp với châu Phi. Đến nay, châu Phi đã phải trả phí thuộc địa cho Pháp trên 50 năm, dự kiến là sẽ kéo dài cả thế kỷ.

Không hiểu những kẻ mang dòng máu Việt “đấu tranh dân chủ cho Việt Nam” trên đất Pháp như Nguyễn Gia Kiểng hay đám Việt tân và đồng đảng ở Mỹ cùng “đồng bọn” của họ là trí thức, nhân sĩ, nhà hoạt động dân chủ, bảo vệ nhân quyền… ở Việt Nam có nên đến thăm các thuộc địa của Pháp ở châu Phi để xem nhân dân châu Phi đã thụ hưởng “nền độc lập” của họ từ thực dân Pháp không phải trả bằng máu xương của lịch sử ấy thấm thía đến cỡ nào không?

(Nguồn: http://www.trelangblog.com/2015/11/gui-am-zan-cuong-van-minh-so-phan-14.html?spref=fb)

Ông Đinh Nho Hoan biện hộ cho Phạm Quỳnh bằng luận điểm của GS. Văn Tạo: “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đày các nhà yêu nước…” (Xưa & Nay. Bđd. Trg.54).

Vâng! Nhưng không vì thế mà không có bản án tử hình vắng mặt đối với Nguyễn Ái Quốc, và Cụ Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế cho đến chết (từ 1925-1940).

Trong phép cờ tướng, sỹ không đi ra ngoài cung. Nhưng cờ mất sỹ thì… ông Hoan chắc biết!

Nếu lái cho cuộc cách mạng dân tộc đi theo hướng có lợi nhất cho người Pháp (Chủ nghĩa dân tộc – 1929), nếu tuyên truyền cho mọi người dân nước Nam thần phục nước Pháp, trung thành với nền đô hộ Pháp đến mức quên cả Tổ quốc của mình (Sứ mệnh của nước Pháp – 1932) thì ngàn vạn Nguyễn Thân không đáng giá nửa cái móng tay của Phạm Quỳnh!

Phạm Quỳnh cùng với Chatel (Khâm sứ Trung kỳ) chủ trương tước bỏ quyền xét xử của Nam triều thì đây mới là cái gốc của bắt bớ, tù đày, khi toàn bộ quyền Tư pháp ở trong tay người Pháp (4).

Rõ ràng, ông Đinh Nho Hoan và nhiều vị khác đã lẩn tránh những luận điểm và cứ liệu khoa học khi nghiên cứu về Phạm Quỳnh.

Cũng cần lưu ý là luận điểm của ông Đinh Nho Hoan, dù vô tình hay cố ý, là lặp lại luận điểm của những người chống Cộng cực đoan nhất trong cái gọi là Ủy ban khôi phục danh dự Phạm Quỳnh, ở ấn phẩm Giải oan lập một đàn tràng của họ, xuất bản ở Hoa Kỳ năm 2001. Họ cũng dẫn báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ. Cũng đề nghị bác bỏ tư liệu mà GS. Nguyễn Văn Trung đã sưu tầm được, rằng không thể tin cậy những lời nói của những người đã chết từ lâu rồi. Sao lại có thứ học thuật quái lạ như thế? Nếu thế thì làm gì còn có sử sách. Những sử liệu đã được văn bản hóa thì có giá trị vĩnh viễn. Còn quan điểm khai thác như thế nào là chuyện khác. Song, trước hết phải tôn trọng sử liệu, văn liệu… Cũng thấy rất rõ là ông Đinh Nho Hoan đọc chưa đến mức cần thiết nên cho rằng ông Đặng Minh Phương đã bịa đặt ra các trích dẫn. Nếu ông đọc Hồn Việt các số từ tháng 8-2012 và Phụ lục trong Luận chiến văn chương Q.3. NXB Văn học. 2015, thì thấy các dẫn liệu trong sưu tầm của ông Đặng Minh Phương đều có xuất xứ rõ ràng.

Ông Đinh Nho Hoan cũng lập luận rằng Phạm Quỳnh là con người văn hóa nhiều hơn chính trị. Chia tách như thế là rất siêu hình. Chỉ xem mấy bài đã dẫn trên, từ Một vấn đề giáo dục… đến Sứ mệnh của nước Pháp thì thấy rõ chính trị và văn hóa ở con người Phạm Quỳnh thống nhất như thế nào. Tức là mục đích chính trị trong văn hóa của Phạm Quỳnh. Không có con người văn hóa đơn thuần ở Phạm Quỳnh. Một thứ văn hóa hàng phục, nô lệ quá rõ ràng. Trong bài Suy nghiệm về lịch sử nước Nam viết năm 1930, in lại trong Tiểu luận bằng tiếng Pháp 1922-1932, NXB Tri thức, H.2007; Phạm Quỳnh diễn giải rất hùng hồn về truyền thống lịch sử, nghị lực và sức sống phi thường của người nước Nam… rồi gài vào những nhận xét về mặt tiêu cực của người nước Nam, trong đó có ý này: “… Họ còn không thể tự mình ổn định, và bao giờ cũng cần được dắt dẫn, cầm giữ bởi một bàn tay mạnh của một kẻ chinh phục, một vị sáng lập triều đại, một nhà độc tài…” (Sđd. Trg.140). 

Tình hình Việt Nam năm 1930 mà viết như thế, là văn hóa gì, chính trị gì? Cần phải xem mục đích văn hóa của Phạm Quỳnh. Điều đó không quá phức tạp. Vì đó trước hết là mục đích của Phủ Toàn quyền. TS. Huỳnh Văn Tòng đã nói rõ trong công trình Lịch sử báo chí Việt Nam mà ông Đặng Minh Phương đã trích dẫn. Phạm Quỳnh dù tự nhận là bạn thân của Toàn quyền Đông Dương, của Louis Marty… cũng không nằm ngoài sự giám sát của họ, như báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ nói trên.

Về những gì đáng ghi nhận của Nam Phong và Phạm Quỳnh với việc giới thiệu văn hóa Đông – Tây và sự phát triển của chữ quốc ngữ, chúng tôi không phủ nhận và đã nói trong loạt bài “Ngựa non háu đá” trên VNTP.HCM các số 459 – 460, nay không nhắc lại.

Vấn đề Phạm Quỳnh thật ra là đã quá rõ ràng, không có gì đáng phải nói nhiều như Tạp chí Hồn Việt đã viết từ năm 2012. Bây giờ người ta khôi phục, chiêu tuyết cho Phạm Quỳnh là một ý đồ chính trị. Như lời tác giả Võ Khánh Linh trong bài trích ở trên. Nếu nói đến công của Phạm Quỳnh thì công đó là ở chỗ đã sinh thành ra những người con tài danh, đã đi với cách mạng và có cống hiến lớn như GS. Phạm Khuê – Chủ tịch đầu tiên của Hội Người cao tuổi Việt Nam. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – nghệ thuật. Ngày nay Đại cuộc Đại nghĩa của dân tộc đã thắng lợi, cũng nên mã thượng, hòa hợp đoàn kết dân tộc. Không cần phê phán Phạm Quỳnh như hồi còn kháng chiến, vì không cần thiết. Mà chiêu tuyết tôn vinh Phạm Quỳnh thì không đúng với sự thật lịch sử. Những lời định luận của ông Đinh Nho Hoan là nghiêm khắc, xác đáng nhưng lúc này là không cần. Mà cần là sự khoan dung đúng mực. Vấn đề rõ ràng như thế, nhưng người ta vẫn cố tình gây nhiễu, làm rối loạn đời sống văn hóa – xã hội. Một trong những đám nhiễu đó là lẩn tránh nguồn gốc và bối cảnh câu Truyện Kiều còn… nước ta còn, giải thích một cách sai lầm, vận dụng tùy tiện của một số tác giả mà chúng tôi sẽ đề cập vào dịp khác.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10-2017

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 472

—————————————
(*) Xem Người cùng thời với Phạm Quỳnh nói về Phạm Quỳnh. Đặng Minh Phương sưu tầm. Tạp chí Hồn Việt, tháng 8-2017 và Phụ lục trong Luận chiến văn chương Q.3. NXB Văn học. H.2015.
(2) https://www.danluan.org/tintuc/20090329/tam-muoi-nam-phap-thuoc
(3) Nguồn: http://www.siliconafrica.com/france-colonial-tax/
(1 – 4) Daniel Grandclément: Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam. Nguyễn Văn Sự dịch. NXB Phụ nữ. H.2006. Trg.43.

Ý Kiến bạn đọc