Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguyên bản Phạm Quỳnh

KỲ 2 – Chủ Nghĩa Dân Tộc
(Tiếp theo số báo 468 ngày 21-9-2017)

Chú Dẫn:

Năm 1929, phong trào cách mạng trong cả nước rất sôi nổi. Riêng Nghệ – Tĩnh đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước và cách mạng, có hàng ngàn hội viên của các tổ chức này (Xem Nghệ – Tĩnh trước khi thành lập Đảng Cộng sản. Nguyễn Tiến Hữu. Xưa Nay, số 486. Tháng 8-2017. Trg.22). Chắc chắn Phạm Quỳnh thấy rõ tình thế nên viết bài “Chủ nghĩa dân tộc” hiến kế cho Chính phủ Bảo hộ “Lái cuộc cách mạng này theo hướng có lợi cho chúng ta…”. Thực ra, việc này Phạm Quỳnh đã làm từ 1924 khi đề cao Truyện Kiều: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo, có gì mà sợ. Còn điều chi nữa mà ngờ” (Nam Phong, số 86. Năm 1924).

Sau đây là toàn văn bài báo của Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp năm 1929. In lại trong Tiểu luận bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932. NXB Tri thức. H.2007. Trg.334. Ngô Quốc Chiến dịch.

———————-

Chủ nghĩa dân tộc

Có một thực tế là kể từ khi có cuộc đại chiến ở châu Âu, thì phong trào dân tộc cũng có mạnh lên và có quy mô lớn chưa từng thấy. Kết quả của cú sốc lớn này của các dân tộc là nó làm tăng thêm tinh thần dân tộc không chỉ ở những nước tham chiến, mà còn cả ở những nước ít nhiều có liên quan đến cuộc xung đột kinh hoàng này. Nó đã thức tỉnh nhiều quốc gia đang ngủ quên, đã khơi dậy ý thức và sức sống cho nhiều quốc gia khác mới chỉ ở dạng tiềm tàng, đã tái sinh hay khơi dậy ở tất cả các quốc gia sự ham muốn sống cuộc sống tự do và độc lập của mình, duy trì và thèm khát nuôi dưỡng tất cả những gì – ngôn ngữ, truyền thống, phong tục tập quán – tạo nên đặc tính riêng của họ, phân biệt họ ra, khu biệt họ với các dân tộc khác.

Lại còn một trong vô số điều bất thường của cái thời đại chúng ta sống, ấy là nó vừa gia tăng việc coi trọng các đặc thù dân tộc thì tương ứng cũng có một phong trào quốc tế chủ nghĩa không gì kìm hãm nổi, mà mục tiêu của phong trào này không là gì khác hơn là loại bỏ các đường biên giới quốc gia và hòa trộn toàn nhân loại vào trong một vòng tay lớn.

Pham-Quynh-o-Phap-dau-nhung-nam-1920---Anh-1
Phạm Quỳnh ở Pháp đầu những năm 1920 – Ảnh internet

Nhưng làn sóng dân tộc chủ nghĩa này mạnh mẽ nhất là ở những quốc gia bị các cường quốc châu Âu xâm chiếm, bị biến làm thuộc địa. Cái hệ tư tưởng làm nên cho cuộc chiến – đấu tranh cho các Quyền, cho Công lý, vì sự giải phóng các dân tộc bị áp bức và các vùng “đất phải được đòi lại”(*), quyền tự quyết của các dân tộc… – đã tác động lên các dân tộc mất nước này mạnh hơn các dân tộc khác, bởi vì hệ tư tưởng đó đáp ứng được các khát vọng bấy lâu bị dồn nén, nay lại càng nóng bỏng và mãnh liệt. Được các chính quốc kêu gọi tham gia vào cuộc chiến, chính hệ tư tưởng này đã trụ đỡ cho họ trong suốt cuộc chiến. Hết chiến tranh thì cũng bắt đầu những điều vỡ mộng và ai ai cũng nhận ra sự tương phản giữa hệ tư tưởng này với cái thực tại rõ ràng là tàn nhẫn. Mối oán hận này chỉ càng làm tăng thêm sự gay gắt của chủ nghĩa dân tộc non trẻ, và ở một số nước người ta được chứng kiến nó liên minh với các luận thuyết cực đoan, cái liên minh này thể hiện ra thành những cuộc biến loạn ít nhiều nghiêm trọng và một tinh thần bài ngoại càng lúc càng gia tăng.

Nước Nam không nằm ngoài phong trào chung này.

Có một chủ nghĩa dân tộc của nước Nam bắt nguồn thậm chí còn trước cả chiến tranh 1914-1918, từ thời bắt đầu cuộc xâm chiếm, nhưng nó đã gia tăng mạnh mẽ bởi các tác động của cuộc đại chiến thế giới.

Thực ra thì tinh thần dân tộc luôn luôn mãnh liệt ở nước chúng tôi. Chỉ cần đọc lịch sử của chúng tôi là nhận thấy rằng, bất chấp danh nghĩa chư hầu của Trung Quốc, nhưng mỗi cuộc xâm lăng của Trung Quốc, mỗi một tác động tạo ảnh hưởng mới của Trung Quốc lên đất nước này đều tạo nên một sự bùng nổ tinh thần dân tộc trong quảng đại quần chúng, và các vị vua chúa của chúng tôi đều biết khéo léo khai thác để giành lại giang sơn, để đặt những nền móng cho một triều đại mới, hay là để khôi phục lại sự thống nhất đã bị lung lay vì các cuộc nội chiến.

Lịch sử thiết lập chế độ bảo hộ Pháp tại Trung kỳ và Bắc kỳ chỉ là một chuỗi các phong trào khởi nghĩa dưới các dạng khác nhau nhưng đều có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa rõ rệt.

Thực tế là giới trí thức nước Nam cho tới tận gần đây vẫn luôn thù địch với trật tự mới. Ban đầu họ đứng ngoài các cuộc nổi dậy do các thủ lĩnh băng đảng xuất thân bình dân phát động, nhưng rồi họ cũng tham gia vào con đường cải cách kể từ sau khi Trung Quốc bị Nhật Bản đánh bại năm 1894. Những cuốn sách của các nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… đã ảnh hưởng sâu sắc lên giới trí thức cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong suốt 20 năm, từ 1895 đến khoảng 1914. Lúc đó nhiều trí thức đã chạy sang Trung Quốc và Nhật Bản, và tất cả các sự kiện xảy ra trong thời kỳ này, đặc biệt là các sự kiện năm 1897, 1908, 1913, đều có sự kích động ít nhiều trực tiếp của các trí thức lưu vong ở nước ngoài.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ I sắp bùng nổ, số lượng các nhà nho này bắt đầu ít dần, do không còn người theo học sau khi Nho học và các kỳ thi lớn 3 năm một lần bị bãi bỏ. Thay vào đó là một tầng lớp trí thức mới được đào tạo không theo lối Trung Hoa nữa, mà từ trường phái châu Âu. Có người nghĩ rằng ngọn lửa ái quốc tích cực đã tắt cùng với những người Nho học cuối cùng. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Giới trí thức mới đã tiếp nối trung thành các bậc cha chú của mình. Nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị, lại tin vào những lời hứa không tiếc lời trong các diễn văn hùng hồn của Toàn quyền Sarraut, họ đã bị hệ tư tưởng chiến tranh mà chúng ta đã nói ở trên cuốn đi. Thời hậu chiến đã mở mắt cho họ. Họ đã thấy rõ hơn hoàn cảnh của đất nước mình và đã tỏ ra một tinh thần dân tộc chủ nghĩa thậm chí còn hơn cả ở những người đi trước. 

Qua bài thuyết trình cố gắng sao cho khách quan nhất này, ta thấy rằng chủ nghĩa dân tộc của người nước Nam có những gốc rễ sâu xa từ ngay trong lòng đất nước này, và hoàn cảnh mới đã tạo cho nó một sức mạnh mới. Nó đang trải qua một cuộc cách mạng có thể dẫn nó đi vào hai con đường khác hẳn nhau: một con đường thứ nhất – nếu có thể nói như vậy – là một sự kết tinh của chủ nghĩa ái quốc nước Nam nhằm thực hiện một lý tưởng tiến bộ, thịnh vượng và độc lập qua các giai đoạn được sắp xếp khôn khéo và thận trọng; và một con đường thứ hai là chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ liên minh với các luận thuyết cực đoan, mà các dấu hiệu tiên báo đã bộc lộ rõ ràng và chúng có thể cho ta đoán biết trước những hậu quả không thể lường cho hết được.

Lái cho cuộc cách mạng này theo hướng phù hợp nhất với lợi ích của chúng ta, không để nó chệch sang các hướng ngược lại, là việc hoàn toàn do các nhà cầm quyền của chúng ta quyết định. Định hướng chủ nghĩa dân tộc nước Nam, để bắt nó phục vụ sự nghiệp tiến bộ, cũng là việc hoàn toàn do họ quyết định. Cần phải làm gì để đạt được điều này?

Cần phải làm sao cho người nước Nam không còn có cảm giác họ là những người xa lạ trong tổ quốc của chính họ; họ phải có cảm giác rằng họ đã không mất tổ quốc này, và bằng cách ra sức củng cố trật tự hiện nay, họ phấn đấu cho sự thịnh vượng hôm nay và cho sự lớn mạnh của tổ quốc trong tương lai.

Đây là thời điểm quyết định. Một quyết định khó khăn cần phải được đưa ra. Không biết các nhà lãnh đạo của chúng ta có khả năng đưa ra quyết định này không?

1929

———————-

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 469

(*) Tác giả dùng chữ irrédentisme, một học thuyết chính trị có nội dung là đòi lại đất khởi nguồn từ những người dân tộc chủ nghĩa ở Italia từ năm 1870, về sau đã thành cả một cao trào diễn ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, ở đâu cũng thấy “bất công” về đất đai, ở đâu cũng thấy dân tộc mình mất quá nhiều đất (Bolivie và Perou đòi đất vùng ven biển của Chili, Phần Lan đòi vùng Karelie của Nga, Pakistan đòi đất Cachemire của Ấn Độ, Argentina đòi các đảo Malouines, Trung Hoa đòi Đài Loan, Pháp đòi vùng Alsace-Lorraine của Đức, Ba Lan đòi vùng Silésie… Phạm Quỳnh muốn liên kết phong trào đòi độc lập, tự do của Việt Nam vào bối cảnh chung đó (BT).

(Kỳ 3: Thư ngỏ gửi ngài Bộ trưởng Thuộc địa)

Ý Kiến bạn đọc