Người tốt - Việc tốt

Nguyễn Ái Quốc với “Bản án chế độ thực dân Pháp” thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924)

Cách nay 90 năm, năm 1925, lần đầu tiên tại Paris (Pháp), cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp được xuất bản. Những giá trị chính trị và tư tưởng của nó gắn với tác giả nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc đã có giá trị to lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hiện nay, đặt trở lại nghiên cứu tác phẩm này trong thời kỳ Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô (1923-1924), vừa giúp chúng ta khẳng định, thống nhất một số vấn đề lịch sử của nó, vừa bổ sung, phát hiện những điều mới mẻ, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, là một việc rất cần thiết.

Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô thời kỳ đầu tiên từ ngày 30/6/1923 đến 11/11/1924. Khoảng thời gian một năm rưỡi này, cùng chung nhiều hoạt động lý luận và thực tiễn, Người đã hoàn thiện bản thảo cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp.

Từ trước đến nay, nhiều bài viết, nhận định liên quan đến cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp và tác giả của nó đã được đưa ra, song, không phải tất cả đều đi đến thống nhất. Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, chúng tôi không bàn đến tất cả, mà chỉ đi vào tìm hiểu những vấn đề xung quanh bản thảo cuốn sách này trong thời gian Bác Hồ ở Liên Xô (1923-1924). Ở đây, mặc nhiên, chúng tôi thống nhất rằng, Bản án chế độ thực dân Pháp được đề cập trong bài viết là cuốn viết bằng tiếng Pháp, do Thư quán Lao động ở số 96 Ke đờ Giemmapơ (Quai de Jemmapes), Paris ấn hành; tác giả của nó là Nguyễn Ái Quốc và gọi là “bản thảo”, bởi xét đến thời điểm khi Người vẫn còn ở Liên Xô thì nó chưa được xuất bản.

1. Trước hết, về sự ra đời Bản án chế độ thực dân Pháp:

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc viết từ năm 1919, 1920, 1921 hoặc 1922 đến 1923, 1924 hoặc 1925 (1). Chúng tôi cho rằng, không nên nhận định như thế. Bởi, nếu xét về bố cục, nội dung của nó – như lời giới thiệu trong Hồ Chí Minh toàn tập: “Dịch theo cuốn sách xuất bản đầu tiên và đã đối chiếu với cuốn xuất bản năm 1946 ở Việt Nam” (2) – là gồm 12 chương và 1 phụ lục, trong đó đặc biệt có những nội dung liên quan đến sự việc được Nguyễn Ái Quốc chứng kiến,tìm hiểu hoặc đã diễn ra ở Liên Xô. Vì vậy, dù cho trước đó, tức là trước khi sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã định xuất bản cuốn sách lên án chủ nghĩa thực dân Pháp (3); dù cho nội dung cuốn sách có những phần, đoạn là những bài báo của Người được viết thời kỳ ở Pháp thì không thể cho rằng, cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp đó được Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết từ trước khi Người sang Liên Xô. Bởi, không thể đồng nhất việc sử dụng những tài liệu của mình trước đó cho tác phẩm sau này với thời gian viết tác phẩm đó được. Nếu Nguyễn Ái Quốc không sang Liên Xô, thì chắc chắn, dù có được xuất bản thì không thể là cuốn sách, hay chính xác hơn là những nội dung trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp mà chúng ta có được hiện nay.

bia-sach-ban-an-che-do-thuc-dan-phap

Vậy, thời gian Nguyễn Ái Quốc viết Bản án chế độ thực dân Pháp là khi nào và nó được viết, hoàn thiện ở đâu?

Cũng đã có nhiều nghiên cứu về việc này, tiêu biểu là của Đinh Xuân Lâm trong “Bản án chế độ thực dân Pháp nguồn tư liệu sử dụng và thời gian xuất bản” (4), Nguyễn Thành trong “Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp được viết ra và xuất bản lần đầu vào thời gian nào” (5), Song Thành (chủ biên) trong Hồ Chí Minh tiểu sử (6)…

Song, từ: 1) Cách đặt vấn đề về thời gian viết tác phẩm ở trên; 2) Cùng chung nhận định của Nguyễn Thành: “Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp đi Liên Xô (6/1923) và từ Liên Xô đi Trung Quốc (11/1924). Trong lúc đó, việc đi từ nước nọ qua nước kia, trước hết là cần hết sức bí mật, nên không thể mang theo bản thảo viết dở trong cặp sách bên mình được. Việc gửi tài liệu từ nước này sang nước khác cũng rất khó vì không phải tài liệu nào cũng gửi đi trôi chảy cả” (7); 3) Hơn nữa, chính tác giả Bản án chế độ thực dân Pháp đã viết trong đó là: “Từ khi tập sách nhỏ này viết xong, thì nhiều biến cố nghiêm trọng đã xảy ra ở nhiều thuộc địa. Đó là quả bom ở Quảng Châu do một người An Nam ném (sự kiện Phạm Hồng Thái ném bom, mưu giết Toàn quyền Đông Dương M. Merlin, ngày 19/6/1924 – chúng tôi giải thích), là những quả bom ở Ăngtiơ (diễn ra vào tháng 9/1924 – chúng tôi giải thích), những vụ bãi công đẫm máu ở Guyađơlúp, những cuộc biểu tình không kém đổ máu ở Đamát, những vụ bãi công ở Bidéctơ, ở Hammănglíp và tình hình sôi sục ở Tuynidi”, chúng tôi cho rằng, bản thảo Bản án chế độ thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc viết và hoàn thiện trong thời gian Người ở Liên Xô (7/1923 – 11/1924): không thể viết khi ở Pháp để rồi cầm theo bản thảo đó đến Liên Xô, cũng như tương tự, không thể viết chưa xong khi ở Liên Xô để rồi đến Quảng Châu (Trung Quốc) mới hoàn thiện và gửi về Paris in được.

2. Vấn đề thứ hai, vậy thời gian ở Liên Xô đã cung cấp những gì cho Nguyễn Ái Quốc trong việc hoàn thiện Bản án chế độ thực dân Pháp? Hay nói cách khác, vị trí, ý nghĩa thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) của Nguyễn Ái Quốc đối với cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp.

Ở đây, chúng tôi thống kê chung các tài liệu là những bài báo, bản thảo của sách và các dạng khác được Nguyễn Ái Quốc sử dụng đưa vào Bản án chế độ thực dân Pháp. Gồm:

1) Có 8 bài trên 7 số báo L’Humanité: bài “Ở Đông Dương” (ngày 4/11/1920), bài “Chủ nghĩa Viđa còn đang tiếp diễn” (ngày 7/9/1922), bài “Sự chăm sóc ân cần” (ngày 2/11/1922) – được thấy trong Chương I, Bản án chế độ thực dân Pháp (xem trang 36-37, 37-38, 27-28: Hồ Chí Minh toàn tập 8); bài “Bình đẳng” (ngày 1/6/1922) – trong Chương VII (trang 93-94); bài “Phòng kiểm duyệt ở Đông Dương” (ngày 28/9/1922) – trong Chương IX (trang 109); bài “Vực thẳm thuộc địa” (ngày 9/1/1923) – trong Chương VI (trang 75); bài “Nạn thiếu trường học” (ngày 5/2/1923) – trong Chương IX (trang 108); bài “Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác” (ngày 5/2/1923) – trong Chương IV (trang 57-58).

2) Có 7 bài trên 6 số báo Le Paria: bài “Thù ghét chủng tộc” (số 4, ngày 1/7/1922) – trong Chương V (trang 71-72); bài “Khai hóa giết người” (số 5, ngày 1/8/1922) – trong Chương V (trang 73-74); bài “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp” (số 5, ngày 1/8/1922) – trong Chương XI (trang 118-119); bài “Vụ hành hạ Amđuni và Ben Benkhia” (số 8, ngày 1/11/1922) – trong Chương V (trang 72-73); bài “Tinh hoa của xứ Đông Dương” (số 13, tháng 4/1923) – trong Phụ lục (trang 141-142); bài “Các vị thống trị của chúng ta” (số 14, tháng 5/1923) – trong Chương III (trang 49-50); bài “Trò Méclanh” (số 15, tháng 6/1923) – trong Chương III (trang 50).

3) Có 7 bài trên 7 số báo La Vie Ouvrière: bài “Quyền của những người lính chiến” (số 105, 7/5/1921) – trong Chương I (trang 32-33); bài “Dưới cuộc khai hóa cao cả” (ngày 29/5/1922) – trong Chương V (trang 62-63); bài “Sự thịnh vượng của Đông Dương dưới triều đại M. Lông” (ngày 22/12/1922) – trong Chương III (trang 47-48); bài “Khởi nghĩa ở Đahômây” (ngày 30/3/1923) – trong Chương XII (trang 123-124); bài “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân” (ngày 13/4/1923) – trong Chương I (trang 29-30); bài “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” (số 20, năm 1924) – trong Chương XII (trang 130-134); bài “Tình cảnh nông dân An Nam” (ngày 4/1/1924) – đây là bài viết đầu tiên khi ở Liên Xô được Nguyễn Ái Quốc đưa vào Bản án chế độ thực dân Pháp (trong Chương VII, trang 90-92).

4) Có 3 bài trên 3 số báo Le Libertaire: bài “Nền văn minh thượng đẳng” (ngày 23/9/1921) – trong Chương V (trang 69-70), bài “Sự quái đản của công cuộc khai hóa” (ngày 30/9 – 7/10/1921) – trong Chương XI (trang 118-119); bài “Hãy yêu mến nước Pháp, người bảo hộ các anh” (ngày 7 – 14/10/1921) – trong Chương XI (trang 69).

5) Có 14 lần trích dẫn trong bản thảo cuốn “Đông Dương (1923-1924)”: Chương II – 3 lần (trang 40-44), Chương V – 5 lần (trang 64-70), Chương VI – 2 lần (trang 78-80), Chương VII – 2 lần (trang 81-83, 88-89), Chương VIII -1 lần (trang 104) và Chương XI có 1 lần (trang 118-119).

6) Tài liệu khác: bài “Đông Dương” (viết khoảng tháng 5/1921) – trong Chương III (trang 51-52), bài “Vụ âm mưu ở Đông Dương” – trong Chương VIII (trang 99-101).

Qua thống kê trên, cũng như so sánh 6 nhóm tài liệu này (tạm gọi là bản gốc) với cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp được in trong Hồ Chí Minh toàn tập (gọi tắt là bản Toàn tập), chúng tôi thấy rằng:

Một là, ngoài bản thảo 1 cuốn sách “Đông Dương (1923-1924)”, trong 27 bài viết của Nguyễn Ái Quốc trên báo L’Humanité, Le Paria, La Vie Ouvrière, Le Libertaire và tài liệu khác được sử dụng ở Bản án chế độ thực dân Pháp, có 10 bài được lấy gần như trọn vẹn và rất nhiều bài báo khác được lấy một phần, đoạn.

Ngoài ra, từ trước đến nay rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc có sử dụng cả những bài báo trên Tạp san Inprekorr (9). Song, như thống kê ở trên, chúng tôi không thấy bản Toàn tập có bài hay đoạn trích từ 10 bài báo trước đó của Người trên Tạp san Inprekorr.

Hai là, qua đây có thể rút ra được, thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) đã cung cấp những gì cho Nguyễn Ái Quốc trong việc hoàn thiện Bản án chế độ thực dân Pháp.

Theo tính toán của chúng tôi, trong 45 trang của 6 nhóm tài liệu, thì có 18 trang (trong tổng số 120 trang bản Toàn tập) được Nguyễn Ái Quốc viết trước khi đến Liên Xô. Điều này, vừa củng cố khẳng định ở trên về thời gian, địa điểm việc Người viết và hoàn thiện Bản án chế độ thực dân Pháp, vừa cho thấy vị trí, ý nghĩa quan trọng thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) của Nguyễn Ái Quốc trong việc hoàn thiện tác phẩm này. Bởi, nó đã cung cấp tới 102/120 trang – tức 85% cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp.

Thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) đã giúp cho các vấn đề được đặt ra rải rác trong các bài viết của Nguyễn Ái Quốc khi ở Pháp được tập trung lại thành các tác phẩm lớn (10), dồn nên những đòn tố cáo mạnh nhất vào chế độ thực dân Pháp, không chỉ trong phạm vi ở Việt Nam, Đông Dương, mà cả hệ thống thuộc địa của Pháp ở Đahômây, Xyri, Xênêgan, Marốc, Mađagátxca, Tuynidi, Angiêri, Ghinê…

Đặc biệt, thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) không chỉ đưa đến nội dung cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp được phong phú, trọn vẹn, lôgích chặt chẽ, không chỉ là sự tố cáo toàn diện chế độ thực dân Pháp, nó còn chỉ ra cho nhân dân thuộc địa khả năng, con đường giải phóng khỏi chế độ thực dân đó. Những vấn đề mới mẻ chưa từng có khi viết ở Pháp, đến đây, sau những hoạt động ở Liên Xô, trong Bản án chế độ thực dân Pháp, đặc biệt là chương XII “Nô lệ thức tỉnh”, Nguyễn Ái Quốc đã hướng cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa đi theo cách mạng tháng Mười Nga; đồng thời với việc đưa những văn kiện quan trọng của Quốc tế cộng sản vào tác phẩm, Người cốt làm cho độc giả hiểu rằng, trên thế giới có những tổ chức đang quan tâm, thông cảm, giúp đỡ và cùng họ đoàn kết trong đấu tranh giải phóng khỏi ách thực dân nô lệ.

3. Cũng liên quan đến 6 nhóm tài liệu ở trên, song ở một khía cạnh khác, chúng tôi nhận thấy, mặc dù cùng là tác giả của tài liệu được sử dụng (cả bài hoặc một đoạn), nhưng qua đối chiếu giữa bản gốc và bản Toàn tập, thì thấy: nhiều số liệu, câu chữ – lời văn khác nhau. Điều này là do chính Nguyễn Ái Quốc điều chỉnh khi xây dựng bản thảo Bản án chế độ thực dân Pháp, hay do nó được biên tập khi xuất bản ở Paris, hoặc thậm chí là do dịch thuật, biên tập bộ Hồ Chí Minh toàn tập kể trên!? Một vài dẫn chứng:

- Trang 43, thuộc chương II Bản án chế độ thực dân Pháp bản Toàn tập có 3 điểm:

“… ngày nay người ta bắt họ dùng rượu từ 40 đến 45 độ”, “mỗi ngày cứ bán 500 héctôlít rượu thì có 4.000 lít nước lã pha thêm”, “… mỗi năm công ty cũng thu được một món lãi nho nhỏ 432.000 đồng, hay là 4 triệu phrăng”. Còn nhóm 6 tài liệu ở trên mà chúng tôi gọi là bản gốc, nay được Người đưa vào Bản án chế độ thực dân Pháp, là bản thảo cuốn Đông Dương (1923-1924) thì viết: “… ngày nay người ta bắt họ uống thứ rượu nặng từ 40 đến 42 độ”, “mỗi ngày bán được 500.000 lít rượu, như thế tính ra có 4.000 lít nước lã”, “… mỗi năm công ty độc quyền đã thu một món lời nhỏ là 432.000 đồng, nghĩa là 1.080.000 phrăng”.

- Trang 48, bản Toàn tập có điểm: “… xứ Đông Dương lại bỏ ra 65 triệu đồng tức là 450 triệu phrăng”, còn trong bản gốc là bài “Sự thịnh vượng của Đông Dương dưới triều đại M.Nông” trên La Vie Ouvrière, ngày 22/12/1922 viết “… xứ Đông Dương đã dành ra 65 triệu đồng, 450 triệu phrăng”. Từ dấu “phẩy” chuyển sang “tức là”, nghĩa hoàn toàn khác nhau.

- Trang 62, bản Toàn tập có điểm: “Ông Ghinôđô bị mất trộm số tiền 5.000 phrăng”, còn trong bản gốc là bài “Dưới cuộc “khai hóa” cao cả” trên La Vie Ouvrière, ngày 29/5/1922 viết: “Một ông chủ khác, khi thấy nhà bị mất trộm 1.000 phrăng”.

- Trang 65-66, bản Toàn tập có 3 điểm: “… cũng viên đoan ấy đi với sáu thủy thủ vũ trang”, “một đại đội thủy quân lục chiến hành quân đến Vĩnh Thượng”, còn trong bản gốc là bản thảo cuốn Đông Dương (1923-1924): “một viên chức nhà đoan khác, đi với sáu tên lính có đầy đủ vũ khí”, “một đại đội hải quân đến Vĩnh Long”.

- Trang 75-76, bản Toàn tập có 4 điểm: “Ngân sách Nam kỳ chẳng hạn, năm 1911 là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrăng)… Năm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrăng). Một con tính đơn giản cho chúng ta thấy giữa hai năm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.369.000 phrăng”, “… việc sửa sang toa xe đó tốn cho ngân khố 125.250 phrăng”, “… Công việc thanh tra thường xuyên các công trình phòng thủ thuộc địa hằng năm tốn cho ngân sách 785.168 phrăng”. Còn trong bản gốc là bài “Vực thẳm thuộc địa” trên L’Humanité, ngày 9-1-1923 viết: “Ngân sách Nam kỳ chẳng hạn, năm 1911 là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrăng)… Năm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrăng). Một con tính đơn giản chỉ cho chúng ta thấy rằng giữa hai năm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.378.000 phrăng”, “… việc sắp xếp toa xe đó tổn phí cho ngân khố 125.350 phrăng”, “… Sở thanh tra thường trực các công trình phòng thủ thuộc địa hằng năm tốn cho ngân sách hết 758.168 phrăng”. Ở những sai sót này, theo chúng tôi, là do công tác biên tập, bởi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người rất thận trọng, chính xác. Hơn nữa, từ phép tính đơn giản ở trên là 96.169.000 – 12.791.000 thì đáp án là 83.378.000, đúng là con số trong bản gốc; và chắc chắn có sự nhầm lẫn từ con số 758.168 ở bản gốc thành 785.168 ở Toàn tập.

- Trang 79, bản Toàn tập có 3 điểm:

“… rốt cuộc xứ Nam kỳ tội nghiệp phải tính sổ trả 75.000 phrăng”, “ở tất cả các tòa sứ đều có từ 6 đến 11 con ngựa”, “… những xe hơi mỹ lệ, tốn cho công quỹ hàng vạn đồng”, còn trong bản gốc là bản thảo cuốn Đông Dương (1923-1924) viết: “Và dân Nam kỳ đáng thương đã phải trả hết 80.000 phrăng”, “ở cả các tòa sứ đều có từ 6 đến 9 con ngựa”, “những xe hơi làm tốn cho công quỹ hàng chục vạn đồng”.

- Trang 88, bản Toàn tập có đoạn: “Mùa hè năm 18…, một thời gian ngắn trước khi nạn đói tàn phá miền Trung Trung kỳ, người ta đã bắt một vạn dân, có lý trưởng từng làng áp giải, đi nạo vét bùn một con sông”, còn trong bản gốc là bản thảo cuốn Đông Dương (1923-1924) viết: “Mùa hè năm 19… trong lúc nạn đói đang làm cho miền Trung kỳ phải tiêu điều khổ sổ, thì một vạn người An Nam bị lý trưởng làng họ bắt đi tập trung vét một cái lạch”. Ở đây, trong hai bản đều nói đến sự kiện là lý trưởng bắt một vạn dân đi vét lạch, nhưng thời gian lại khác nhau.

- Trang 130, bản Toàn tập có điểm: “Trong số sinh viên đó, có 895 người là đảng viên cộng sản… 547 nông dân, 265 công nhân, 210 trí thức”, còn trong bản gốc là bài “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” trên La Vie Ouvrière, số 20, năm 1924 viết: “Trong số sinh viên ấy, có 865 đảng viên cộng sản… 547 nông dân, 265 công nhân, 210 trí thức”.

Và có thể còn có nữa.

Như vậy, qua sự đối chiếu này chúng ta cần thiết phải xem xét lại việc dịch thuật, biên tập trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (trên đây, chúng tôi mới chỉ chú ý đến các con số, về câu chữ – lời văn khác nhau cũng nhiều). Nếu các bản gốc và cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Paris, là khác nhau ở số liệu, câu chữ thì ở bản Toàn tập giữ nguyên số và dịch lời văn khác nhau, nhằm đảm bảo khách quan. Song, nếu số liệu hoặc câu chữ giống nhau, thì nhất thiết chúng ta cần thống nhất trong dịch thuật, biên tập ở bản Toàn tập, nhất là ở câu chữ – lời văn. Bởi, cho dù vẫn đảm bảo nội dung, ý tứ, nhưng hai văn bản giống nhau (từ một câu, đoạn, đến cả bài) thì không thể dịch, biên tập lời văn khác nhau được.

Th.S Hà Giang Ninh
(Học viện Chính trị khu vực II)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 406

————————————-

(1) Tiêu biểu như quan điểm:
- Từ năm 1919 đến 1920 hoặc đến 1921: Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Nxb. Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh, 2000, tr.147.
- Từ năm 1920 đến 1924: Đức Vương, “Cách mạng giải phóng dân tộc trong Bản án chế độ thực dân Pháp” in trong sách Nghiên cứu tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1987, tr.47.
- Từ năm 1921-1925: Nxb. Sự thật trong những lần xuất bản Bản án chế độ thực dân Pháp (lần đầu năm 1960, lần thứ hai năm 1975).
- Từ năm 1920 đến 1923: Jean Lacoutue, Ho Chi Minh, Editions de Seuil, Paris, 1976, tr.24.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 23.
(3) Đó là cuốn Những người bị áp bức. Theo Thu Trang thì cuốn sách này, đến tháng 5/1920 đã được viết xong (Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.149).
(4) In trong Nghiên cứu tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Sđd, tr.198-212.
(5) Trong Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9, 1985,
tr. 66-68.
(6) Song Thành (chủ biên), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
(7) Nguyễn Thành, Góp phần tìm hiểu Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nxb. Công an nhân dân, Tiền Giang, tr. 140.
(8) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 23 -144.
(9) Tạp san Inprekorr là tạp san của Quốc tế Cộng sản. Inprekorr là chữ viết tắt gọi chung cho tạp san, được xuất bản theo nghị quyết Đại hội lần III của Quốc tế Cộng sản (1921). Nó được viết bằng các tiếng: Đức, Anh, Pháp (10-1921), Tiệp, Ý (8-1925), Tây Ban Nha (8-1929), sau là Thụy Điển và Hunggari.
(10) Ngoài Bản án chế độ thực dân Pháp, thời kỳ ở Liên Xô (1923 – 1924) đã giúp ích rất nhiều trong các tác phẩm lớn của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này, cũng như sau này như Đông Dương (1923-1924), Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc (1924), Đường Kách mệnh (1927), Chủng tộc da đen (1928.)