Người tốt - Việc tốt

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tầm nhìn vượt thời đại

Nguyễn Ái Quốc tư duy luôn gắn với thực tiễn

Nguyễn Ái Quốc khi đến Liên Xô năm 1924, học tập nghiên cứu về chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ thực tiễn ở Việt Nam đã lập luận trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ:

“Xã hội Đông Dương không giống các xã hội phương Tây, cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông Dương không quyết liệt như ở phương Tây.

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà Lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại… Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông”. (1)

Chính Nguyễn Ái Quốc nhìn thấy rõ tính chất xã hội ở Đông Dương, Việt Nam, nên đã đề ra đường lối, chủ trương tại cuộc Họp thống nhất ba tổ chức Đảng ở Hong Kong 3-2-1930:

Chánh cương vắn tắt của Đảng nêu: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sản sinh làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói họ đi về phía phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. (2)

Sách lược vắn tắt của Đảng nêu ở mục thứ 4: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt…, để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới hiểu, ít ra cũng làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến…) thì phải đánh đổ”. (2)

Chương trình vắn tắt của Đảng ghi ở mục 4: “Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến…”. (2)

Nhưng Luận cương của đồng chí Trần Phú bác bỏ những điều Nguyễn Ái Quốc đề ra, theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Lúc đó, chỉ thị của Đệ tam Quốc tế cho rằng: quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là mơ hồ, là cải lương, lên án Nguyễn Ái Quốc đoàn kết với cả địa chủ. Rõ ràng giữa Nguyễn Ái Quốc và Quốc tế Cộng sản có khoảng cách về tư duy thực tiễn ở Đông Dương.

So-522--Nguyen-Ai-Quoc-Ho-Chi-Minh-tam-nhin-vuot-thoi-dai
Nguyễn Ái Quốc (hàng ngồi, bìa trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V,
háng 7-1924 (nguồn: baotanghochiminh.vn).

Bị Quốc tế Cộng sản nghi ngờ không giao công tác từ 1934 đến 1938, sau khi bị đế quốc Anh bắt tại Hong Kong được luật sư Logiơbi cãi trắng án, trở về Mátxcơva; dù vậy, khi được về nước lãnh đạo cách mạng (Xuân Tân Tỵ 1941) Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ đúng những điều đã đề ra từ năm 1930 thống nhất Đảng ở Hong Kong. Người tổ chức Mặt trận Việt Minh để tập hợp rộng rãi lực lượng yêu nước chống thực dân Pháp.

Người cụ thể hóa đường lối cách mạng ở Việt Nam: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, tạm gác lại nhiệm vụ cải cách ruộng đất, không giải phóng được dân tộc thì ngàn năm cũng không giải phóng được giai cấp.

Chính từ đường lối đúng đắn này, cuộc Cách mạng với lực lượng ban đầu ví như “Châu chấu đá xe” đã ngày càng mạnh, càng đánh càng thắng và cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn trước hai đế quốc, có một giàu mạnh hàng đầu thế giới.

Hồ Chí Minh tư duy vượt thời gian

Tại Hội thảo Quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990, đoàn đại biểu Mỹ có ba người. Một người tên Mide Holen nói: Hồ Chí Minh là ai? Tôi là nhà khoa học Mỹ, tuy là Hạ nghị sĩ, nhưng không đại diện cho ai, mà đại diện cho tiếng nói của lương tâm. Xin trả lời: Hồ Chí Minh là sản phẩm của những nghịch lý. Xin dẫn chứng một nhân chứng, nguyên thiếu tá tình báo Pát-ti ở Côn Minh, Bác Hồ gặp năm 1944, sau đó Bác đón về Tân Trào, khi cướp chính quyền, Bác tiếp ông ở 48 Hàng Ngang, Hà Nội (1945). Từ đó, giữa Bác và ông ta có mối liên lạc, và tìm ra con đường tranh thủ sự đồng tình của Mỹ lúc đó. Bác quý ông ta, ông ta cũng quý Bác. Bây giờ ông ta là đại tá, bạn cố tri của Bác. Đây là nhân chứng lịch sử của mối quan hệ giữa Bác (đại diện cho Việt Nam) và Pát-ti (đại diện cho Mỹ) để nói lên sự nghịch lý.

Bà còn nói: Cách đây 45 năm, cả thế giới thuộc địa nằm trong đêm dài nô lệ, chưa có nước nào giành được độc lập. Việt Nam là nước đương đầu với một nước nhiều thuộc địa. Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập có trích hai bản Tuyên ngôn của Mỹ (1776) và Pháp (1789). Cuộc cách mạng Việt Nam kế tục từ cuộc cách mạng năm 1776, năm 1789, cho đến cuộc cách mạng tháng 10-1917 và đến cách mạng tháng 8-1945. Nhưng xu thế thực dân lúc đó chưa thể chấp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho nên nghịch lý là Hồ Chí Minh nêu ra không một quốc gia nào ủng hộ. Nhưng bây giờ một nước tuyên bố độc lập, có hàng chục nước ủng hộ ngay.

Khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945, lúc này không có các nước thế giới thứ ba, chỉ có Liên Xô, một số nước XHCN Đông Âu và phe TBCN, cả hai không công nhận chính quyền Hồ Chí Minh thì ông là nghịch lý của lịch sử.

Chính Pát-ti nói với Tổng thống Truman Hồ Chí Minh là một người cộng sản và là một người yêu nước vĩ đại, có uy tín tuyệt đối, là một vĩ nhân. Đề nghị nước Mỹ nên công nhận. Ông Truman nói rằng là cộng sản thì không bao giờ hợp tác với nhau được. Truman có tư tưởng đi với phương Tây để chống lại phong trào độc lập, không công nhận Hồ Chí Minh nên Hồ Chí Minh trở thành nghịch lý. Còn Liên Xô nói Hồ Chí Minh là cộng sản nhưng là dân tộc, Quốc tế Ba nghi ngờ Hồ Chí Minh là con người mượn CNCS để xây dựng độc lập dân tộc của mình. Chưa tin tưởng Hồ Chí Minh là người bạn thật trung thành, Liên Xô không công nhận, các nước Đông Âu cũng không công nhận, cho nên Hồ Chí Minh là người nghịch lý.

Ngày nay, chúng ta nói bi kịch Hồ Chí Minh, là con người nêu lên được tư tưởng đúng mà lịch sử lúc đó không công nhận cho nên Hồ Chí Minh phải chiến đấu thêm 5 năm nữa, đến năm 1950 các nước XHCN mới công nhận về mặt ngoại giao.

Bà Mide Holen: Có một nước công nhận Việt Nam sớm nhất (1945) nhưng lại là xét lại, đó là Nam Tư. Nhưng Hồ Chí Minh không dám tuyên bố, vì tuyên bố lúc đó thì cả Đông Âu đi theo khuynh hướng chống Nam Tư thì không thể thừa nhận Việt Nam. Đến năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, năm 1950 Việt Minh mở chiến dịch Biên giới, lúc bấy giờ sau Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu mới thừa nhận. Đi tiếp 5 năm nữa, có thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, thì Angiêri đứng dậy đi tiếp con đường cầm súng của Việt Nam, bấy giờ Hồ Chí Minh không còn nghịch lý nữa, mà là dòng thế giới thứ ba. Việt Nam khai sinh ra dòng thế giới thứ ba.

Bà Mide Holen nói tiếp: Hồ Chí Minh là người có tư tưởng đúng, của những thời điểm lịch sử sai. Thể hiện ở tư tưởng độc lập dân tộc, trong bối cảnh năm 1945 lịch sử chưa thừa nhận. Độc lập dân tộc chỉ là khát vọng. Ấn Độ chưa có, Trung Quốc chưa có độc lập. Thời điểm sai ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh đặt ra sớm như bình dân học vụ. Bây giờ UNESCO đặt ra tài trợ, khuyến khích tổ chức dạy học. Tư tưởng đúng nhưng các nước chưa ủng hộ. Thời điểm lịch sử sai, bây giờ thì đúng. Việc trồng cây Hồ Chí Minh đặt ra cách đây 30 năm, nhưng ngày nay UNESCO mới đặt ra chương trình bảo vệ cân bằng sinh thái.

Năm 1930, Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là tư tưởng đúng, nhưng thời điểm sai là Quốc tế Cộng sản không công nhận, bắt đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh gửi thư cho Quốc tế Cộng sản giải thích lại việc liên lạc giữa ba nước trên bán đảo Đông Dương chung một kẻ thù là Pháp. Nhưng sự phát triển của ba nước không đồng đều, Việt Nam là nước đông dân, có lực lượng công nhân, có Đảng trực tiếp chiến đấu chống Pháp, đó là điều kiện lịch sử của Việt Nam. Nước Lào, Miên chưa có điều kiện để thành lập Đảng của mình, việc lấy tên Đảng Cộng sản Đông Dương là lấy nước lớn đặt lên hai nước nhỏ là không đúng. Vì vậy chỉ đặt là Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động trong phạm vi quốc gia Việt Nam. Khi nào các nước Đông Dương phát triển thành Đảng, thì Đảng Cộng sản Việt Nam đoàn kết với các đảng trên bán đảo Đông Dương cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung. Tư tưởng Hồ Chí Minh lúc đó đúng, nhưng lúc bấy giờ người ta muốn áp đặt nước lớn lên nước nhỏ. Vì vậy Hồ Chí Minh đưa ra Cương lĩnh của Đảng ngày 3-2-1930, thì Hội nghị Trung ương tháng 10 tại Hong Kong ra quyết định phủ định Cương lĩnh của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh ngày nay) đặt lại tên Đảng Cộng sản Đông Dương. Thời điểm sai, nhưng tư tưởng đúng là tư tưởng dân tộc, tôn trọng quyền các dân tộc.

Hồ Chí Minh dùng đối thoại để giải quyết mâu thuẫn ta – địch. Năm 1945, khi quân Tàu Tưởng vào miền Bắc giải giáp quân phiệt Nhật, thâm ý của họ là “diệt Cộng, cầm Hồ”. Chính Hồ Chí Minh đã dùng phương pháp đối thoại, biết khai thác nhược điểm của tướng Tàu Tưởng mà hóa giải và cuối cùng họ rút quân về nước. Năm 1946, Hồ Chí Minh sang Pháp để đối thoại với Chính phủ Pháp nhằm ngăn chặn nổ ra chiến tranh. Tuy không thành nhưng cũng kéo dài thời gian để Cách mạng non trẻ Việt Nam có thời giờ chuẩn bị cho cuộc chiến. Ngày nay, nhiều nước đã nhận ra và thực hiện cách Hồ Chí Minh đã làm trước kia để ngăn chặn chiến sự nhiều nơi trên thế giới.

Nhà văn Sơn Tùng, một người dành cả thời gian dài sưu tầm, nghiên cứu, viết nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tôn vinh là nhà Hồ Chí Minh học, được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động từ các công trình về Bác Hồ, nói: “Đến hôm nay ở các nước, dân tộc này chống dân tộc kia cũng là vấn đề dân tộc. Vấn đề này người nước ngoài nhìn sâu, các nhà khoa học Việt Nam thấy rằng lâu nay mình nghiên cứu Bác Hồ vẫn là nhìn phần ngọn, còn cái gốc chưa sâu”.

Ông phản biện lập luận của một số người về chiến tranh Việt Nam kéo dài: “Phải nhìn ông cha cho công bằng. Xét cha ông mà lấy cái hôm nay làm chuẩn thì không hiểu được cha ông. Vậy bi kịch Hồ Chí Minh là ở chỗ nào? Cũng do tầm nhận thức của những người gần gũi Bác Hồ, học trò Bác Hồ khoảng cách xa quá. Nói bi kịch là nói trên nghĩa đó tức là Bác Hồ vĩ đại, lớn đến mức vượt ra ngoài tầm Tổng Bí thư đầu tiên, cho đến các Tổng Bí thư ngày sau này là khoảng cách xa quá. Mà nước ta có vị trí đứng đầu Đông Nam Á. Nước nhỏ, đứng đối mặt với Tây Á, có vị trí chiến lược. Vì vậy, giờ đây người ta mới “ngộ nhận” nước ta, ông cha mình có Bác Hồ đánh giặc lâu dài quá, nên thua chị kém em, thua các con rồng châu Á”.

Bà J. Stenson – một trong ba người Mỹ dự Hội thảo Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội – nói: Có con rồng Nam Triều Tiên, có con rồng Băng Cốc cả con rồng Singapore là nhờ có Việt Nam. Vì năm 1965, quân Mỹ sang đánh Việt Nam, Mỹ không thể chở hàng chiến tranh từ Mỹ sang được, phải đặt hàng ở các nước này. Vì vậy, các nước xung quanh đều làm hàng chiến tranh, mà phát triển trong mấy năm qua, không phải bỗng nhiên họ trở thành con rồng vàng, rồng xanh. (3)

Kết luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có một trí tuệ ở tầm cao, từ lúc còn trẻ tìm đường cứu nước đến khi lãnh đạo Cách mạng Việt Nam thành công tới lúc đi xa Bác để lại cho chúng ta một Di sản to lớn về nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu sâu từng lĩnh vực chúng ta nhận thức và làm mới đúng tư tưởng của Người. Chỉ riêng hai luận điểm trên đây đã cho thấy tư duy của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vượt trước thời đại, Người có cái nhìn thực tiễn sát đúng hơn rất nhiều người đồng thời. Nhận thức, đánh giá sát đúng sự vật luôn là bài học quý của chúng ta trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời nay.

Nguyễn Xuân Ba
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 522

————————–
1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia. “Từ sách Đi tới Mùa Xuân tư tưởng Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Văn Khoan, NXB Thanh niên, quý 3 – 2008, tr.139.
2) Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng Đảng”, NXB Thanh niên, quý 3 – 2008, tr.20, 22, 23.
3) Trích “Bài nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng về Chủ tịch Hồ Chí Minh” tại Trường Cơ khí Chí Linh (thuộc Bộ Năng lượng) tháng 11-1990.

Ý Kiến bạn đọc