Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn gốc tên sông Mê Kông

Mê Kông là con sông dài thứ 12 trên thế giới và đứng hàng thứ 7 ở châu Á. Nó dài khoảng 4.350 km, bắt nguồn từ suối Lạp Tái Cống Mã, núi Quốc Trung Mộc Sách thuộc tỉnh Thanh Hải chảy qua tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) rồi đến Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Năm 1995, Việt Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia đã thành lập Ủy hội sông Mê Kông (Mekong River Commission), cùng nhau quản lý và sử dụng tài nguyên của sông Mê Kông. Đến năm 1996, Trung Quốc và Myanmar trở thành “đối tác đối thoại” (dialogue partners) của Ủy hội này. Hiện nay, cả 6 quốc gia cùng làm việc trong khung hợp tác với nhau.

Xét về từ nguyên, sông Mê Kông có tên tiếng Anh là “Mekong River”. Cụm từ này có nguồn gốc từ thuật ngữ trong cả tiếng Thái và Lào là Mae Nam Khong.

Ở Thái Lan và Lào, khoa nghiên cứu tên đất (Toponymy) cho biết rằng, các con sông đều được dịch là “Mẹ của nước”, biểu thị bằng tiền tố mae, có nghĩa là “mẹ”, còn nam là “nước”. Trong trường hợp sông Mê Kông, Mae Nam Khong có nghĩa là “Khong, mẹ của nước”. Nhiều địa phương ở miền bắc Thái Lan và Lào còn gọi sông này là “sông Khong”. Cũng giống như vậy, sông Mae Nam Ping (Thái: แม่น้ำปิง) ở Chiang Mai được gọi là “sông Ping” (Thái: แม่น้ำปิง). Ở Campuchia, Tonlé Sap (ទន្លេសាប) là một thí dụ tương tự. Tonlé được dịch là “Sông lớn” hay “Hồ lớn”. Sông Tonlé Sap được gọi tắt là “sông Sap” (người Việt gọi là “Biển hồ Campuchia”). Trong tiếng Khmer, từ Mê Kông (មេគង្គ – Mékôngk) gồm có hai phần: Mé là “Mẹ”, còn kôngk (kôngkea) là “nước”, cụm từ này có nghĩa là “Mẹ của nước”.

Mae Nam Khong chảy qua một số quốc gia nên nó có tên gọi khác nhau tùy từng địa phương.

Ở Việt Nam, người ta gọi là sông Mê Kông, sông Lớn hay sông Cái. Riêng về cách gọi sông Cửu Long hay Cửu Long Giang (chữ Hán: 九龍江) là từ chỉ chung những nhánh sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ Việt Nam. Khởi đầu từ Phnôm Pênh (Khmer: ភ្ន៓ពេញ), sông Mê Kông chia thành hai nhánh chảy từ Bắc xuống Nam, nhánh bên trái (tả ngạn – vẫn được gọi là Mekong) chảy vào vùng đồng bằng châu thổ ở miền Nam Việt Nam, có tên là sông Tiền hay Tiền Giang; còn nhánh bên phải (hữu ngạn) là sông Bassac, đến Việt Nam có tên là sông Hậu hay Hậu giang.

Do sông Hậu và sông Tiền có tổng cộng 9 cửa sông đổ ra biển nên người ta còn gọi tên chung là sông Cửu Long (sông 9 rồng). Sông Hậu có 3 cửa là Định An, Trần Đề và Ba Thắc – gọi theo tên sông Bassac (Tonlé Bassac) trong tiếng Khmer; sông Tiền có 4 nhánh sông đổ ra biển bằng 6 cửa gọi là cửa Đại, cửa Tiểu (sông Mỹ Tho); Cổ Chiên, Cung Hầu (sông Cổ Chiên ranh giới giữa Bến Tre và Trà Vinh); cửa Ba Lai (sông Ba Lai phía bắc Bến Tre); cửa Hàm Luông (sông Hàm Luông phía nam Bến Tre).

Hiện nay, tuy gọi là sông Cửu Long nhưng trên thực tế chỉ còn 8 cửa sông chảy ra biển, do trong thập niên 1960, cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn 2 cửa sông.

Ở Trung Quốc, phần đầu sông gọi là 加果空桑贡玛曲 (Gia Quả Không Tang Cống Mã Khúc), 扎那曲 (Trát Na Khúc) và 扎曲 (Trát Khúc); còn phần thượng lưu là 澜沧江 / 瀾滄江 (Lan Thương Giang); phần giữa và hạ lưu là 湄公河 (Mi Công Hà).

Ở Campuchia, người ta gọi là មេគង្គ (Mékôngk), ទន្លេមេគង្គ (Tônlé Mékôngk) hay ទន្លេធំ (Tônlé Thum). Ở Lào gọi là ແມ່ນ້ຳຂອງ (Mae Nam Khong), ນ້ຳຂອງ (Nam Khong). Thái Lan gọi là แม่น้ำโขง (Mae Nam Khong). Còn Tây Tạng thì gọi là རྫ་ཆུ (Za qu) – theo cách chuyển tự pinyin Tây Tạng và (rDza chu) – theo cách chuyển tự Wylie.

Vương Trung Hiếu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 423

Ý Kiến bạn đọc