Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn gốc chữ “hôn nhân”

Chữ hôn nhân trong tiếng Việt có gốc từ Hán ngữ, ai cũng hiểu nghĩa chữ này, nhưng không nhiều người biết từ nguyên của hôn nhân là gì. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem “hôn nhân” là gì.

Trong Hán ngữ, hôn nhân 婚姻 có nghĩa là “việc trai gái lấy nhau làm vợ chồng”. Xét về từ nguyên, chữ hôn 婚 (lấy vợ hay chồng) gồm có hai chữ, kết hợp theo lối hài thanh 諧聲 (1), đó là: nữ 女 (con gái) + hôn 昏 (trời chạng vạng tối). Đây chính là chữ hôn 昏 trong hoàng hôn 黃昏. Tại sao có chữ hôn 昏 này? Xin thưa, vào thời cổ đại, việc lấy vợ lấy chồng ở Trung Hoa thường diễn ra vào lúc hoàng hôn. Trong quyển Nghi Lễ 儀禮, thiên Sĩ Hôn Lễ 士 婚禮, Trịnh Huyền (2) viết: “ 士娶妻之禮以昏為 期. 因而名焉 (Sĩ thú thê chi lễ dĩ hôn vi kì. Nhân nhi danh yên), có nghĩa là “ Lễ cưới của kẻ sĩ, lấy lúc hoàng hôn làm thời gian. Nhân đó mới đặt tên là Hôn”. Trong Thuyết văn giải tự (說文解字), Hứa Thận (3) viết: 取妇以昏时, 故曰昏 (Thủ phụ dĩ hôn thời, cố viết hôn), nghĩa là “ Lấy vợ lúc trời tối, cho nên gọi là hôn”.

Nhưng tại sao lễ cưới lại tổ chức vào lúc hoàng hôn?

Hiện nay có hai cách giải thích:

- Thứ nhất, nhiều nhà nghiên cứu dựa vào thuyết Âm 陰 – Dương 陽 cho rằng muôn vật trong vũ trụ đều có sự kết hợp giữa hai mặt đối lập là Âm và Dương . Cụ thể ở đây, nữ 女 (con gái) là âm và nam 男 (con trai) là dương, dạ 夜 (ban đêm) là âm; trú 晝 (ban ngày) là dương. Hoàng hôn là giai đoạn mặt trời lặn xuống, mặt trăng bắt đầu mọc lên, đó chính là lúc âm dương giao hòa với nhau, tổ chức lễ cưới trong giai đoạn này là một điều rất hợp lý. 

- Thứ hai, câu hôn thời hành lễ 昏時行禮 (tổ chức lễ cưới vào lúc hoàng hôn) phản ánh tập tục đoạt hôn 奪婚 ngày xưa ở Trung Hoa. Hoàng hôn chính là lúc thích hợp để “cướp cô dâu”. Trong quyển Bát tự hôn nhân học 八字婚姻学, Vương Trạch Thụ 王泽树 mô tả tục đoạt hôn như sau: Vào thời cổ đại, chàng trai cùng thân tộc thường cưỡi ngựa, cầm cung tên để đi cướp cô gái. Lúc đó bà con nhà gái cất rạp trước cửa, cho cô gái vào ngồi rồi cầm vũ khí bảo vệ. Hai bên giao chiến với nhau chiếu lệ, chàng trai xông vào rạp cướp cô gái rồi phi ngựa thật nhanh, nhà gái đuổi theo nhưng vẫn giữ khoảng cách. Cô gái giả vờ ngã ngựa mấy lần và lần nào chàng trai cũng đỡ nàng lên ngựa, cuối cùng đến nhà trai, cô dâu và chú rể thành thân, động phòng hoa chúc. 

Đến thế kỷ 20, tục đoạt hôn vẫn còn diễn ra ở Trung Quốc, chủ yếu trong các bộ tộc như người Thái 傣 (tỉnh Vân Nam), Dao 瑤 (tỉnh Vân Nam, Quảng Tây ), Di 彝 (tỉnh Vân Nam,Tứ Xuyên, Quý Châu), Lật Túc 傈僳 (tỉnh Vân Nam), Cảnh Pha 景頗 (tỉnh Vân Nam)… Ở Việt Nam, hiện nay người H’Mông vẫn còn tục “cướp cô dâu”. Thời điểm đi cướp do người già trong họ quyết định và cũng thường là vào chiều tối. Người Khmer Nam bộ cũng có tục “cướp cô dâu”. Dưới sự hướng dẫn của ông Ma Ha, nhà trai mang rất nhiều lễ vật, đưa chú rể đến nhà cô dâu làm lễ nhập gia, trong lúc đó dàn nhạc đi theo chơi những giai điệu rộn ràng. Nhà gái đóng kín cửa không cho nhà trai vào. Ông Ma Ha lấy dao ra múa (gọi là múa Mở rào), một lát sau nhà gái mới chịu mở cửa đón đoàn nhà trai rồi tiến hành lễ “cướp cô dâu”.

Vương Trung Hiếu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 409

________________________

(1) còn gọi là hình thanh 形聲 hay tượng thanh 象聲.
(2) Trịnh Huyền 鄭玄, một học giả đời Hán.
(3) Hứa Thận 許慎 (khoảng 58-147), một nhà ngôn ngữ học Trung Quốc.

Ý Kiến bạn đọc